Lửa Cháy Phiên Ngung Thành

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Lửa Cháy Phiên Ngung Thành

    I. Đường Kiếm Họ Hoàng
    II. Máu Nhuộm Đường Về
    III. Cổ Am Trong Chùa Vắng
    IV. Đêm Hội Hoa Đăng
    V. Cơn Nguy Trong Triều Nội
    VI. Tan Nát Gia Đình
    VII. Người Thiếu Nữ Hạnh Hoa Thôn
    VIII. Đường Lên Núi Sơn Nhai
    IX. Tạ Liên Hồng Xuất Hiện
    X. Chống Giữ Hạnh Hoa Thôn

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Người Đẹp Phiên Ngung Thành Nguyên tác: Sơn Linh

    Đường Kiếm Họ Hoàng




    Trống trên thành vừa điểm báo hiệu sang canh thì quan đề đốc hộ thành Hoàng Quốc Kính cùng bộ tướng phi ngựa về tư dinh, sau khi đi thanh tra một lượt trên khắp các mặt thành Phiên Ngung.

    Đề đốc phu nhân rước chồng vào hậu dinh, truyền thế nữ dâng trà và đích thân quạt hầu ông.

    Đề đốc bỏ bộ võ phục ngồi xuống ghế, nhắp trà Hạnh Hoa, mắt đăm đăm nhìn ra trước sân.

    Ngoài hoa viên, trăng sáng như ban ngày. Hoa mẫu đơn bạch hường, dã tường vi như khoe hương thơm, sắc thắm, nhưng đề đốc chỉ chú ý đến tiếng võ khí chạm vào nhau. Rồi quay lại nghiêm trang gọi:

    - Phu nhân.

    - Dạ! Tướng công dạy điều chi?

    - Có phải Lệ Hồng và Anh Kiệt đang luyện võ đó không?

    - Thưa tướng công, chính phải. Hôm nay có công tử Lữ Kỳ sang chơi, cũng đang ở ngoài sân.

    Quan đề đốc gật gù:

    - Phu nhân đi nghỉ trước. Ta sẽ vào sau.

    Đề đốc nói xong bước ra hoa viên.

    Giữa khi ấy, ngoài sân một đôi thanh niên nam nữ đang say sưa tranh đấu. Hai thanh niên kiếm trong tay họ vung lên, hạ xuống phạt ngang, chém dọc, chạm vào nhau, lòe lửa, phát ra những âm thanh ghê rợn.

    Trong khi đó, một thanh niên khác đứng ngoài xem như mê man theo trận đấu. Nhưng chàng bỗng quay lại, khi nghe tiếng giày của Đề đốc động nhẹ phía sau.

    - Cháu xin kính chào thúc phụ.

    Đề đốc chỉ tay lên vai thanh niên, khẽ hỏi:

    - Lệ Hồng và công tử Lữ Kỳ mới giao đấu phải không Vũ hiền điệt?

    - Chính thế thưa thúc phụ.

    Đề đốc Quốc Kính nhìn kỹ hai kẻ đang tranh tài rồi hỏi Vũ Anh Kiệt:

    - Hiền đệ thấy thế nào?

    Anh Kiệt chậm rãi đáp:

    - Dạ cháu thấy kiếm pháp của Lữ công tử không hơn được tiểu thư.

    Quan đề đốc gật đầu:

    - Công tử Lữ Kỳ không khéo thua bây giờ. Công tử tuy mạnh tay nhưng kiếm pháp chưa được tinh thông lắm.

    Vừa lúc đó Lệ Hồng đưa một nhát kiếm vào ngay cổ Lữ Kỳ. Đợi chàng thu kiếm về đỡ nàng lẹ làng rút võ khí lại đâm mạnh vào hông đối thủ.

    Lữ Kỳ giật mình trước lối biến hóa thần tốc của Lệ Hồng. Chàng tràn mình qua một bên, chém mạnh xuống lưng kiếm của Lệ Hồng. Nhưng Lệ Hồng lẹ làng rút gươm về rồi nhơn đà chém xuống của đối thủ mà đánh bề sóng lưỡi kiếm vào gươm của Lữ Kỳ. Một tiếng thép chạm khô khan nổi lên, bàn tay của Lữ Kỳ ê ẩm hết. Liền khi đó Lệ Hồng đánh luôn đốc kiếm của nàng sát đốc kiếm của Lữ Kỳ làm cho chàng phải buông rơi võ khí.

    Lệ Hồng cúi xuống, nhặt thanh kiếm, trao cho Lữ Kỳ và nói:

    - Cám ơn công tử đã nhường phần thắng cho tôi...

    Công tử Lữ Kỳ thẹn đỏ mặt. Chàng nói:

    - Tiểu thư quá nhún nhường. Tài nghệ của tiểu thư hơn tôi quá nhiều.

    Quan Đề đốc bước tới, hai người cùng cúi chào.

    Lữ Kỳ nói:

    - Cháu kính mừng thượng quan. Tiểu thư thật đã làm rạng rỡ cao danh của ngài khiến cháu hết sức phục tài.

    Đề đốc Quốc Kính mỉm cười. Ông nói:

    - Công tử quá lời. Tiện nữ đâu đáng được như vậy. Chẳng qua công tử quá khen đó mà thôi.

    Công tử Lữ Kỳ đáp:

    - Cháu thành thật ca ngợi tài võ nghệ của tiểu thư. Đó mới là trang nữ kiệt.

    Rồi quay sang Vũ Anh Kiệt. Lữ Kỳ tiếp:

    - Chắc Vũ huynh cũng không ngại gì mà không cho tiểu đệ được biết qua tài võ nghệ.

    Vũ Anh Kiệt toan từ chối nhưng đề đốc Quốc Kính đã bảo.

    - Hiền điệt hãy giao đấu với Lệ Hồng cho ta được xem thử. Lệ Hồng con hãy mời anh con.

    Lệ Hồng cúi đầu vâng lời cha dạy.

    Nàng trở ra sân. Anh Kiệt cũng xin phép Đề đốc và công tử Lữ Kỳ bước theo nàng.

    Lệ Hồng đưa kiếm lên cúi đầu chào và nói:

    - Kính mời Vũ huynh.

    Vũ Anh Kiệt cũng đưa kiếm ngang mày đáp lễ:

    - Xin phép hiền muội.

    Rồi chàng vung kiếm lên chém ngang mặt Lệ Hồng một nhát. Lệ Hồng vừa nhảy tránh, nhát thứ hai của chàng đã tiếp theo liền.

    Lệ Hồng tránh nữa thì nhát thứ ba bay vèo đến mặt nàng.

    Lệ Hồng nhảy lùi lại tránh. Nhưng Vũ Anh Kiệt sau khi chém ba nhát liên tiếp, liền thu mình đứng im chờ đợi.

    Lệ Hồng khẽ mỉm cười, phóng mình tới chém vào mặt chàng. Anh Kiệt né tránh sang bên thì lưỡi kiếm thứ hai đã bay vèo tới. Lần này Anh Kiệt mới đưa kiếm lên đỡ...

    Lệ Hồng nhảy lùi lại để Anh Kiệt bước tới rồi chém vụt ngang hông chàng một nhát nhanh như gió. Anh Kiệt không tránh, chàng hoành lưỡi kiếm về đỡ rồi đâm thốc lên hông nàng, giữa lúc đà kiếm của Lệ Hồng chưa thâu về kịp. Lệ Hồng ngã mình về phía sau để tránh nhát kiếm độc hại ấy rồi phạt ngang một nhát vào bụng chàng thật lẹ.

    Công tử Lữ Kỳ đứng bên ngoài, ghê sợ thay cho lối giao đấu của hai người vì họ dùng toàn những thế hiểm độc. Nếu một bên sơ ý một kẽ tóc đường tơ thì có thể nguy đến tính mạng.

    Ngoài kia, Anh Kiệt gặp thế nguy hiểm đó, đã không thu kiếm về đỡ mà còn chém vụt vào cổ Lệ Hồng. Thiếu nữ cả sợ rút kiếm lại nhảy sang một bên.

    Lữ Kỳ phục Anh Kiệt vô cùng. Còn Đề đốc Quốc Kính vuốt râu mỉm cười có vẻ hài lòng lắm.

    Hơn hai mươi hiệp qua mà Anh Kiệt và Lệ Hồng vẫn không phân thắng bại.

    Đường kiếm của họ càng lúc càng linh động lạ lùng. Lữ Kỳ không ngờ mình lại may mắn chứng kiến buổi biểu diễn kiếm pháp khá cao như vậy.

    Bỗng Lệ Hồng thay đổi thế đánh, nàng mở rộng đường gươm ra, chém đông, chém tây như chớp nhoáng.

    Lối tấn công thần tốc đó làm cho Anh Kiệt không dám khinh thường nữa mà quay về thế thủ ngay.

    Lệ Hồng phóng kiếm đâm vào ngực Anh Kiệt và đợi cho chàng nghiêng mình tránh là nàng đưa xéo lưỡi gươm vào hông chàng.

    Anh Kiệt đỡ khỏi. Tự nhiên thế thủ của chàng đâm ra rời rạc dần dần, dường như sức khỏe cũng giảm lần đi...

    Chàng biết Lệ Hồng dùng đến đường kiếm bí truyền của dòng họ Hoàng để khắc phục mình. Chàng chưa may mắn được thúc phụ truyền cho đường kiếm ấy nên khó thể hơn nàng nổi...

    Anh Kiệt càng cố thủ cho chặt chẽ hơn để xem xét lối đánh của nàng và định dùng mưu, may ra mới thắng nàng được. Song hiện tại, chàng đã thấy phần thua về mình.

    Sự nỗ lực của chàng làm đề đốc chú ý.

    Lệ Hồng xoay ngọn kiếm quanh chàng như chong chống, khiến Anh Kiệt hơi bối rối, nhưng chàng cố bình tĩnh đón đỡ đến cùng. Lệ Hồng đưa nhát kiếm vào cổ chàng và đợi chàng hụp xuống tránh là chém tréo lưỡi kiếm xuống vai. Lẹ như chớp, Anh Kiệt hụp sát xuống tránh và thình lình đâm thọc lưỡi kiếm vào hầu nàng.

    Trong lúc bất ngờ tưởng phần thắng thuộc về mình không dè gặp thế độc đáo đó, Lệ Hồng toát mồ hôi ngã đầu về phía sau. Anh Kiệt không bỏ qua cơ hội tốt, chém xả lưỡi kiếm vào ngực nàng. Song chàng cố ý chém thật chậm để cho Lệ Hồng kịp lùi lại và đưa kiếm lên đỡ.

    Không dám tấn công ồ ạt nữa, thiếu nữ thu hẹp đường kiếm lại, bao bọc quanh mình. Lưỡi kiếm bay trong gió nghe vùn vụt khiến Anh Kiệt vô cùng bối rối. Trong chớp mắt, chàng thấy chung quanh mình cũng có ánh sáng lấp lánh đến hoa cả mắt...

    Giữa lúc ấy, Đề đốc vội cất tiếng:

    - Hãy thôi đi các con!

    Lệ Hồng dừng tay. Nàng chào Anh Kiệt và nhìn chàng có vẻ cảm thông sự nhường nhịn của chàng lúc nãy.

    Đề đốc Quốc Kính cũng hiểu rõ sự đó, chỉ có Lữ Kỳ là lầm Anh Kiệt hoàn toàn bại như mình, nên hết lời khen tặng Lệ Hồng.

    Quan Đề đốc mời Lữ Kỳ vào dinh bày tiệc thết đãi.


    Nhưng từ đó trở đi. Lữ Kỳ tuy ngồi trong bàn tiệc mà tâm trí chàng vẫn nhớ đến hình dáng Lệ Hồng, oai hùng vung kiếm ngoài sân luyện võ.

    Đêm lần về khuya tiệc rượu đã tàn, công tử Lữ Kỳ đứng lên từ giã Vũ Anh Kiệt ra về.

    Đề đốc đích thân tiễn chàng ra đến cửa. Vũ Anh Kiệt cũng chào đề đốc trở về phòng.

    Lòng chàng bỗng dưng nổi lên một nỗi buồn man mác.

    Hơn năm năm qua, chàng từ giã mẹ già, từ giã Hạnh Hoa thôn, theo đề đốc về kinh đô học văn, luyện võ, đúng theo lời trăn trối của cha già trước khi nhắm mắt.

    Anh Kiệt cố gắng học tập ngày và đêm, không một phút xao lãng vì sợ phụ lòng yêu thương của thúc phụ.

    Đề đốc xem chàng như con ruột và hết lòng truyền dạy kiếm thuật, văn chương cho chàng cũng như truyền dạy cho Lệ Hồng.

    Anh Kiệt đi đứng, nói cười nhiều điểm giống cha như khuôn đúc khiến quan Đề đốc mỗi lần nhìn thấy chàng luyện võ trước sân, là nhớ ngay đến người bạn kết nghĩa thuở hàn vi, hiệp sĩ Vũ Anh Tùng.

    Anh Tùng là người vũ dũng nhưng thích sống cuộc đời tự do phóng khoáng, chứ không chịu ràng buộc mình vào quyền tước cao sang, cho nên khi Hoàng Quốc Kính làm đến chức Đề đốc ở Phiên Ngung mà ông vẫn sống ẩn dật ở Hạnh Hoa thôn.

    Đôi bạn thân, dù xa nhau, nhưng vẫn thư từ qua lại.

    Vũ Anh Tùng chẳng may thọ bệnh nặng thình lình. Được tin chẳng lành, Đề đốc vội vã đến Hạnh Hoa thôn thì Anh Tùng đã ra người thiên cổ.

    Đề đốc buồn bã vô cùng. Trong đời ông, chỉ có một điều ân hận là không giáp mặt được người bạn cố tri trong giờ phút cuối cùng.

    Nhưng Anh Tùng trước khi nhắm mắt, có để lại cho Đề đốc bức thơ gửi gấm Vũ Anh Kiệt, ước mong chàng sẽ được đề đốc dạy dỗ nên người.

    Đề đốc theo lời trăn trối của bạn, xin phép Vũ phu nhân mang Anh Kiệt về Phiên Ngung dạy dỗ.

    Năm năm lần lượt trôi qua, từ một cậu bé con, Anh Kiệt ngày giờ này đã trở thành một thanh niên vũ dũng, tướng mạo khôi ngô, tánh tình hòa nhã, được mọi người mến chuộng.

    Đề đốc Hoàng Quốc Kính rất đẹp dạ và thường nhủ thầm:

    - "Thật là hổ phụ sanh hổ tử".

    Nhưng đêm nay, sau trận so kiếm ở trong vườn, Anh Kiệt đâm ra buồn nản vô cùng. Chàng không ngờ sự cố gắng học tập của mình, suốt bao nhiêu năm trời vẫn không hơn Lệ Hồng, ái nữ của Hoàng Đề đốc người mà chàng xem như cô em gái nhỏ. Và đó cũng là lần đầu tiên, chàng thấy Lệ Hồng biểu dương tài nghệ của mình trong đường kiếm bí truyền. Lâu nay, chàng thường nghe các dũng tướng trong thành Phiên Ngung nói đến đường kiếm của họ Hoàng, nhưng đến khi so gươm với Lệ Hồng, chàng mới thấy rõ những thế kiếm lợi hại ấy.

    Anh Kiệt phân vân lắm. Không hiểu vì tài nghệ chàng quá kém cỏi hay vì vị Đề đốc e ngại điều chi mà vẫn chưa truyền dạy cho chàng đường kiếm họ Hoàng. Căn cứ vào tình yêu thương ruột thịt của gia đình này đối với chàng, Anh Kiệt tin rằng Đề đốc không thể dấu chàng bất cứ việc gì. Người chưa truyền dạy đường kiếm ấy vì chưa đến lúc đó thôi.

    Có tiếng chân bước nhẹ trên sân làm cho Anh Kiệt chú ý, chàng nhìn qua khung cửa và ngạc nhiên thấy một bóng đen tiến dần về phía phòng mình.

    Anh Kiệt ngồi phắt dậy, lần lấy thanh kiếm, nép sát vào tường nghe ngóng.

    Bóng đến bên cửa sổ và nhìn vào. Một giọng nói phát ra nhẹ nhàng như gió:

    - Anh Kiệt! Anh Kiệt!

    Anh Kiệt ngạc nhiên, nghe rõ tiếng quan Đề đốc. Đêm khuya lắm rồi mà ngài còn đến phòng chàng để làm gì?


    Anh Kiệt nghĩ vậy nhưng không dám chậm trễ. Chàng đáp nhanh:

    - Thưa thúc phụ, có cháu đây!

    Nói xong chàng bước ra cửa cúi chào.

    Hoàng Đề đốc nhìn chàng bảo:

    - Cháu hãy theo ta!

    Ông bước chân thoăn thoắt ra hoa viên. Anh Kiệt bước theo sau và kịp nhìn thấy Đề đốc gọn gàng trong bộ võ phục, hai tay cầm thanh kiếm sáng ngời, long lanh dưới ánh trăng hạ tuần vừa ló dạng.

    Đến trước sân Đề đốc chỉ chiếc cẩm đôn bảo Anh Kiệt:

    - Cháu hãy ngồi xuống đây!

    Anh Kiệt vâng lời và trong lòng thầm đoán một chuyện hệ trọng gì sắp sửa xảy ra.

    Hoàng Đề đốc bước tới lui chầm chậm và nói đều đều:

    - Hơn năm năm rồi, cháu theo ta về đây học văn, luyện võ, tài trí và tính tình của cháu khiến ta rất vừa lòng. Cháu luôn luôn nhớ rằng: "Phàm một tráng sĩ sống trong trời đất, ngoài sự tinh thông võ nghệ, kiếm pháp, còn phải có đức độ, có lòng quân tử biết tế khốn, phò nguy. Nếu ngày sau ra đời cháu vẫn giữ được những đức tánh ấy thì ta tin rằng dòng họ Vũ có ngày hưng trở lại...

    Đề đốc ngưng lại giây phút như để tưởng nhớ đến người bạn quá vãn rồi nói, bằng giọng cảm động:

    - Cháu thấy không, như cha cháu tuy đã chết mà oai danh người vẫn còn sống mãi với đời... Thuở hàn vi ta đã cùng người và các bạn phiêu bạt giang hồ khắp miền sông núi, đến đâu cũng cứu giúp kẻ yếu hèn, tiêu diệt bọn cướp bóc vô lương, trừng trị bọn cường hào ác bá... Tên tuổi Vũ Anh Tùng nhờ đó mà sống mãi trong lòng người. Ta chỉ tiếc là cha cháu không còn sống đến ngày nay để truyền thêm kiếm pháp cho cháu. Ta đã truyền dạy cho cháu đủ hết, nhưng thiên hạ thiếu chi người tài giỏi, sợ cháu thất bại trong bước đầu, chẳng hóa ra ta không tròn lời hứa trước vong linh của bạn ư?

    Vị Đề đốc đứng lại, trao cho Anh Kiệt một thanh kiếm trên tay ông. Lưỡi kiếm rất mỏng, sắc xanh ngời.

    Ông nói:

    - Đây là một trong mười hai lưỡi kiếm của dòng họ Hoàng, cháu hãy cầm lấy.

    Anh Kiệt hết sức ngạc nhiên vội vàng đứng lên đỡ lấy thanh kiếm, tay run run, kính cẩn.

    Đề đốc nhìn chàng với đôi mắt trìu mến lạ thường:

    - Họ Hoàng còn lại hai thanh kiếm này đều do ta gìn giữ. Ta chỉ có một mình Lệ Hồng nên giữ lại một thanh kiếm cũng đủ, còn một ta ban cho cháu để cứu giúp đời.

    Anh Kiệt quỳ xuống đưa thanh gươm ngang mày nói:

    - Cháu xin thề có vong linh thân phụ, cháu luôn luôn giữ mình xứng đáng con cháu dòng họ Vũ, Hoàng.

    Đề đốc gật đầu thích ý. Ông bảo chàng đứng lên, nói tiếp:

    - Bấy lâu ta có ý định ban cho cháu thanh kiếm này vì cháu rất xứng đáng được truyền dạy đường kiếm họ Hoàng...

    - Thưa thúc phụ...

    Vị Đề đốc ngắt lời:

    - Cháu hãy nghe đây, tổ tiên ta mấy đời làm vinh dự cho dòng họ đều nhờ đường gươm bí truyền mà vừa rồi Lệ Hồng đã dùng đến. Nhưng đó mới chỉ là một trong mười hai thế biến hóa vô chừng.

    Đường kiếm này dùng theo di mệnh của ông cha ta, chỉ được phép truyền dạy cho các con cháu trong nhà và cho những kẻ đầy đủ đạo đức có thể giúp ích cho đời, cho giống nòi. Song từ trước đến nay chẳng có ai học trọn vẹn vì nó đòi hỏi nhiều công phu luyện tập. Lệ Hồng chỉ học được có phân nửa đường kiếm thì cháu đủ biết sự khó khăn đến bực nào.

    Đề đốc ngừng lại một phút, đưa thẳng thanh gươm ra trước ánh trăng tiếp lời.

    - Song cái khó khăn của người giữ đường kiếm họ Hoàng là chỗ phải tìm cho được người đầy đủ đạo đức mà truyền đạt. Kẻ ấy phải biết giữ đúng tinh thần hiệp sĩ không được quyền làm ô nhục thanh danh môn phái hay dòng giống của mình, bất cứ trong trường hợp nào.

    Đề đốc bỗng quay lại nhìn Anh Kiệt:

    - Cháu hãy nhớ kỹ lời ta nói và đừng bao giờ phạm phải lỗi lầm ấy.

    - Xin thúc phụ tin ở cháu.

    Đề đốc gật đầu rồi nhảy vọt qua sân, xoay lưỡi kiếm bao bọc quanh mình thành một vòng sáng loáng rồi đánh rộng đường kiếm ra. Anh Kiệt nhớ ngay thế võ mà Lệ Hồng đã dùng để áp đảo chàng.

    Đề đốc vừa múa gươm vừa giảng giải từng thế một cho Anh Kiệt hiểu rõ cái lợi hại của đường kiếm bí truyền. Nào là thế làm cho đối thủ chống đỡ "Rời rạc", "Hoa mắt", "Thấy bóng tưởng hình"... Khi ông múa đến thế cuối cùng thì Anh Kiệt vô cùng khiếp sợ. Chàng thấy quanh mình Đề đốc có muôn ngàn hào quang sáng chói. Chắc chắn đối thủ khi giao đấu sẽ không biết đường mà đỡ...

    Chính chàng đến bên ngoài nhìn xem phải sửng sốt, khiếp sợ đến nỗi không dám động đậy, vì giữa sân lúc bấy giờ như có muôn ngàn lưỡi kiếm đang ồ ạt tung bay dưới ánh trăng, trong khi hình bóng vị Đề đốc cơ hồ như tan đi mất.

    Bỗng Anh Kiệt nghe một tiếng "Vút" rồi muôn ngàn hào quang vụt tắt mất giữa sân. Chàng còn đang ngơ ngẩn thì Đề đốc đã hiện ra. Mặt ông không hề đổi sắc.

    Anh Kiệt sụp xuống chân Đề đốc nói trong sự cảm phục vô biên:

    - Thưa thúc phụ! Đường kiếm cao xa quá, tiểu điệt chắc không thể học được.

    Đề đốc cả cười vỗ vai chàng:

    - Cháu đừng nói vậy. Ngày xưa, khi thân phụ ta múa đường kiếm này, ta cũng đã nản chí như cháu. Nhưng cái gì cũng không qua lòng kiên nhẫn, rồi thì cháu cũng sẽ thành công. Cháu cứ cố gắng lên đi, mọi việc sẽ có ta giúp đỡ.

    Thấy Anh Kiệt vẫn còn bỡ ngỡ trước sự mới lạ ấy, Đề đốc đã rời chàng ra giữa sân gọi lớn:

    - Nào hiền đệ! Chúng ta hãy bắt đầu đi thôi.

    Anh Kiệt không dám chậm trễ nhún mình nhảy vọt theo ông.

    Trên trời, ánh trăng hạ tuần càng lúc càng sáng tỏ hơn.

    Ngày tháng qua mau, đông tàn, xuân đến, hè sang rồi lại thu về mang theo những cơn gió buồn hiu hắt làm xác xơ cỏ cây hoa lá trong vườn Hoàng đề đốc.

    Sen trong hồ đã tàn hết, làm cho màu nước bớt trong xanh.

    Lệ Hồng cảm thấy lòng mình buồn man mác như ngày thu không có ánh mặt trời. Hoa viên còn tan tác hơn trong những ngày thiếu nắng, mây cứ đùn che khuất vầng dương, như sắp chuyển cơn mưa! Nhưng ngày lại ngày qua, mưa thu không đổ hột mà màu trời vẫn ủ rũ, thê lương.

    Cảnh vật càng làm cho Lệ Hồng thêm buồn ray rứt. Lòng nàng cũng như trời thu không nắng không mưa, muốn vui không vui được mà buồn thương cũng không có một duyên cớ nào.


    Mấy năm về trước, có lúc nào Lệ Hồng ủ dột như vậy đâu? Hồi ấy, nàng như con chim sơn ca tối ngày ca hót trong vườn, nhởn nhơ đùa cợt với muôn vạn cảnh đang phô hương sắc.

    Mấy tháng gần đây, nàng đâm ra ít nói, ít cười, hay mơ màng khi hoàng hôn xuống, lúc trăng lên. Nàng thường thơ thẩn trong vườn khi ngày tắt nắng và biếng nhác cả việc luyện tập kiếm cung.

    Sự thay đổi đó khiến Đề đốc phu nhân chú ý và để tâm do xét. Lệ Hồng thường làm ra vẻ vui tươi trước mẫu thân nàng, song trong đôi mắt của người thiếu nữ làm sao xóa được những nét buồn phản ảnh của một nỗi lòng u ẩn gây ra.

    Chính Anh Kiệt cũng ngạc nhiên về thái độ của Lệ Hồng, nàng không còn giữ sự vui vẻ hồn nhiên đối với chàng nữa, mà đôi khi Anh Kiệt cũng thấy như Lệ Hồng cố ý lẩn tránh mình. Chàng tự vấn mình xem có làm điều chi phật ý Lệ Hồng chăng, nhưng tuyệt nhiên chàng không thấy.

    Mấy lần toan hỏi Lệ Hồng, nhưng bận tập dượt đường kiếm bí truyền, chàng quên đi mất.

    Suốt một năm ròng rã. Anh Kiệt say sưa luyện tập kiếm pháp, không một phút nghỉ ngơi. Ban ngày chàng luyện kiếm trong phòng riêng và đêm khuya chàng đợi cho mọi người yên giấc, lại ra sân tập dượt một mình.

    Đề đốc mấy lần dặn dò chàng nên cẩn thận đừng nên tiết lộ sự học hành của mình vì đó là luật lệ nghiêm cấm của dòng họ Hoàng.

    Đề đốc vẫn thường nói:

    - Đây là đường kiếm cuối cùng. Cháu học xong là đủ sức giúp đời. Ta đã truyền dạy tất cả kiếm pháp của ta cho cháu, chắc Vũ huynh ở dưới suối vàng cũng yên tâm.

    Anh Kiệt rất cảm kích tấm lòng quý hóa của Đề đốc. Chàng tự hiểu rằng sau này mình sẽ trở nên người hữu dụng ấy là nhờ ở Hoàng Đề đốc và chàng mong ước có ngày nào đó sẽ trả được ơn người.

    Nhưng có lẽ ngày ấy còn xa xôi lắm!

    Đã cuối canh hai mà Anh Kiệt vẫn còn thơ thẩn ngoài vườn hoa. Chàng âm thầm với nỗi niềm riêng sâu kín.

    Trăng sáng dịu hiền mờ soi làn sương mỏng phủ giăng trên hoa lá.

    Trời trong, mây trắng, chị Hằng đã lên đến đỉnh đầu, lồ lộ giữa không gian, nhưng không soi sáng được lòng người chất chứa nỗi niềm riêng.

    Anh Kiệt dừng lại bên bờ sen, nhìn những giọt sương đọng trên những chiếc lá ngửa mặt lên không như hứng lấy sự sống!

    Mùa sen tàn, lá không còn xanh mướt mịn màng như mùa nước, thỉnh thoảng trong đám lá vài cành hoa muộn nhô lên khoe những cọng đỏ hồng hay trắng xanh màu tinh khiết.

    Bên hồ những cành liễu nghiêng mình xuống làn nước lặng lẽ như mặt gương mờ, in hình chị Hằng nương trong bóng liễu với những chiếc lá nhỏ dài tha thướt.

    Thỉnh thoảng một vài bóng chim bay về, lượn ngang mặt hồ trở lại với sự lặng yên triền miên trong đêm vắng.

    Có tiếng động phía sau lưng khiến Anh Kiệt quay nhìn lại. Chàng ngỡ ngàng khi thấy Lệ Hồng bước đến bên chàng.

    Ánh trăng dìu dịu cũng làm cho nàng đẹp hơn lên. Da nàng trắng mịn, mắt sáng lẫn nét u buồn sâu kín, môi nàng đỏ hồng, tươi như hoa nở, mũi nhỏ nhắn cân đối trên khuôn mặt yêu kiều; mái tóc đen huyền phủ xuống làn áo lụa trắng tinh khiết, vài sợi vươn xuống vầng trán cao của nàng thêm nét mặn mà.

    Lệ Hồng bây giờ là một thiếu nữ dịu dàng e lệ. Nàng có vẻ yếu ớt nhu mì, chứ không có vẻ gì là một võ sinh tài lực phi thường.

    Anh Kiệt cất tiếng nói:

    - Đêm đã khuya sao em chưa đi ngủ?

    Thiếu nữ mơ màng đáp:


    - Trăng sáng quá nên em không ngủ được, muốn đi dạo trong vườn một lúc. Còn anh làm gì thơ thẩn nơi đây?

    Anh Kiệt nhìn đi nơi khác để tránh đi đôi mắt đẹp của Lệ Hồng, đôi mắt như soi sáng lòng chàng.

    Chàng khẽ đáp:

    - Anh bứt rứt trong người nên cũng khó ngủ.

    Lệ Hồng mỉm cười. Lắc đầu một cách duyên dáng nói:

    - Anh nói dối. Em biết anh có tâm sự buồn đang giấu kín đó thôi.

    Anh Kiệt hơi sửng sốt bảo nàng:

    - Em nghĩ lầm rồi! Anh có điều gì buồn đâu?

    - Em nhất định không lầm. Em chú ý và bắt gặp anh buồn bã luôn, nhất là mấy lúc gần đây.

    Rồi đột ngột nàng hỏi Anh Kiệt:

    - Có phải anh muốn trở lại quê nhà mà chưa tiện nói ra đó chăng?

    Như gặp phải người tri kỷ, hiểu rõ tường tận những ý nghĩ của mình, Anh Kiệt không cãi nữa. Chàng nhìn xuống hồ sen đáp giọng buồn bã:

    - Em nghĩ đúng. Làm người ai lại không yêu mến quê hương của mình. Anh đã xa cách Hạnh Hoa thôn năm năm trời nay, đôi khi chạnh nhớ tới mẹ già mà buồn cho đạo làm con không được vẹn toàn.

    Lệ Hồng nín lặng một lúc rồi nói:

    - Ngày nay anh đã thành tài rồi, anh cũng nên về thăm gia đình cho trọn đạo.

    Nàng nói bình thản nhưng khuôn mặt buồn bã một cách lạ lùng. Có phải chăng nàng không muốn có sự xa cách với Anh Kiệt, sau bao năm trời sống bên nhau.

    Anh Kiệt như chợt nhớ ra điều gì, liền hỏi Lệ Hồng:

    Mấy lúc gần đây, anh nhận thấy em thường không được vui? Vì duyên cớ nào, em có thể cho anh biết chăng?

    Lệ Hồng không đáp. Nàng thờ thẫn nhìn xuống hồ sen. Anh Kiệt khó hiểu được lòng nàng vì chính Lệ Hồng đôi khi cũng không hiểu được lòng mình. Lòng nàng như mang nặng một mối buồn sâu kín, khó giải bày ra được.

    Anh Kiệt vô tình, thấy nàng nín lặng, ngỡ đâu Lệ Hồng có điều gì bí ẩn trong gia đình nên e dè khuyên nhủ:

    - Từ lâu rồi anh sống trong gia đình này, chúng ta đã xem nhau như ruột thịt nên anh mới hỏi em như thế. Nếu tiện em cứ nói ra, xem anh có thể giúp đỡ em được điều gì chăng?

    Lệ Hồng buồn bã đáp:

    - Không! Em có buồn gì đâu?

    Một con cá ngớp bọt dưới hồ làm lay động những cọng sen tàn gục ngã, mang theo những tấm lá sen khô héo còn vương.


    Lệ Hồng khẽ thở dài. Nàng hiểu rõ tấm lòng Anh Kiệt đối với nàng: Chàng chỉ xem nàng như một cô em gái nhỏ mà thôi!

    Qua những năm sống chung nhau dưới mái ấm gia đình, hai người có rất nhiều kỷ niệm buồn, vui. Không một tâm sự gì mà Lệ Hồng không thổ lộ cho Anh Kiệt biết. Mỗi lần như thế, Anh Kiệt thường tìm đủ cách khuyên nhủ nàng với những lời lẽ chân thành.

    Đối với Lệ Hồng, Anh Kiệt là một người bạn, một người anh, một ông thầy giàu kinh nghiệm.

    Tình cảm gia đình giữa hai người càng ngày càng đậm đà tha thiết, nhưng bỗng tan mất đi trong lòng Lệ Hồng, để nhường chỗ cho một thứ tình yêu thương mới lạ. Đó là tình yêu thơ mọâng của tuổi xuân. Nó phát hiện từ từ và in sâu vào quả tim người thiếu nữ đang tuổi dậy thì...

    Lệ Hồng không kịp chú ý đến sự biến đổi trong lòng mình. Mỗi ngày cứ nhìn Anh Kiệt múa kiếm trong vườn hay nghe chàng học sang sảng trong phòng là nàng thấy đầy đủ hạnh phúc lắm rồi! Anh Kiệt có rời xa nàng một bước nào đâu mà Lệ Hồng cảm thấy sự thiếu thốn của tình yêu...

    Nhưng, một đêm trăng rằm sáng đẹp. Lệ Hồng nằm trằn trọc mãi ngủ không được... Nàng đứng dậy bước ra ngoài hiên, bỗng nghe tiếng võ khí chạm nhau phía sau vườn.

    Lệ Hồng kinh lạ lẻn xuống nhà và gặp lúc cha nàng truyền dạy đường kiếm họ Hoàng cho Anh Kiệt.

    Lệ Hồng hết sức bất ngờ, và vui mừng vì Anh Kiệt đã thành tài.

    Nhưng một câu nói của Đề đốc đã làm cho Lệ Hồng âu lo:

    - Chỉ còn vài thế kiếm nữa cháu đã đủ sức giúp đời. Cháu có thể xa ta mà không còn lo ngại gì nữa!

    Lệ Hồng cảm thấy xót xa như mình sắp mất một báu vật. Anh Kiệt sẽ rời bỏ gia đình mình mà đi ư? Từ bao nhiêu năm nay. Lệ Hồng không bao giờ nghĩ đến việc đó. Đối với nàng, Anh Kiệt là người trong gia đình và phải sống mãi bên cạnh cha mẹ nàng.

    Cho đến giờ phút này, Lệ Hồng mới hiểu được lòng mình và nhận thấy tình yêu của mình đối với Anh Kiệt không còn là thứ tình anh em nữa... Nàng cảm thấy khi Anh Kiệt ra đi là mang theo cả nguồn vui, hạnh phúc của đời nàng.

    Sự buồn khổ âm thầm kia đã thay đổi tính tình Lệ Hồng mấy tháng nay, nhưng nàng đành cắn răng chịu đựng, không thể giải bày ra được.

    Đôi khi Lệ Hồng cũng dò xét Anh Kiệt, xem chàng có cùng chung tâm trạng buồn khổ như mình chăng? Nhưng nàng hoàn toàn thất vọng khi biết được Anh Kiệt ngày đêm cố gắng học tập để được sớm trở về Hạnh Hoa thôn, thăm viếng mẹ già!

    Hiểu được lòng chàng, Lệ Hồng thấy rằng mình không có quyền ngăn cản chàng về thăm mẹ và nàng chỉ còn biết buồn vơ vẫn một mình, khi hoàng hôn xuống, hay lúc trăng lên.

    Nàng cho việc Anh Kiệt về Hạnh Hoa thôn thăm mẹ già là đúng, song đôi khi nàng vẫn mong mỏi cho ngày kia chậm đến để Anh Kiệt chậm xa nàng.

    Đến đêm hôm nay, hai người có dịp thố lộ tâm tình, Lệ Hồng mới hiểu rõ lòng Anh Kiệt hơn. Càng thấy Anh Kiệt mong mỏi được trông thấy mẹ hiền, nàng càng thấy sự vô lý của mình.

    Nàng rất buồn và vô cùng hối hận.

    Hai người lặng lẽ đi bên nhau trong hoa viên. Sương đêm âm thầm rơi xuống, thấm vào da thịt, lạnh buốt thấu xương. Lệ Hồng khẽ rùng mình và cảm thấy tất cả nỗi trống trải trong lòng.

    Nàng kéo áo lên tận cổ và hỏi Anh Kiệt:

    - Anh định bao giờ về Hạnh Hoa thôn?

    Anh Kiệt dừng lại đáp:

    - Anh chưa thành tài làm sao định được. Vả lại còn phải chờ lệnh của thúc phụ.

    Lệ Hồng ranh mãnh nói:


    - Sao lại chưa thành tài? Anh đã học hết đường kiếm họ Hoàng rồi kia mà!

    Anh Kiệt sửng sốt kêu lên:

    - Kìa em, Lệ Hồng...

    Lệ Hồng mỉm cười bí mật, khiến Anh Kiệt thêm ngượng ngùng, ngước nhìn mảnh trăng khuya đã lên đến đỉnh đầu.

    Lâu lắm chàng mới hỏi:

    - Em biết chuyện này từ bao giờ?

    Lệ Hồng đáp:

    - Em đã nhìn thấy anh múa kiếm ở trong vườn.

    - Việc này do thúc phụ dặn dò...

    Lệ Hồng ngắt lời chàng:

    - Vâng! Em hiểu, anh đừng để ý làm gì. Em muốn biết, anh định bao giờ trở về Hạnh Hoa thôn, thế thôi.

    Anh Kiệt lộ vẻ buồn:

    - Anh thật khó nghĩ. Ngày nay, đường kiếm vừa thuần thục, không lý anh vào thưa với thúc phụ để về ngay ư? Không thể được, anh cần ở lại phụng dưỡng người... Bao giờ người truyền lịnh anh mới đi.

    Lệ Hồng rất cảm phục những lời đầy ân nghĩa của Anh Kiệt và thấy yêu kính chàng hơn. Lòng ích kỷ bấy lâu của nàng làm sao xứng đáng được với chàng? Lệ Hồng quyết định trong lòng, sẽ tìm cách nói giúp với cha cho Anh Kiệt sớm được về quê.

    Nàng bỗng nhìn Anh Kiệt rồi hỏi:

    - Anh về Hạnh Hoa thôn bao giờ anh mới trở lại Phiên Ngung?

    Anh Kiệt đáp mơ hồ:

    - Rồi cũng có ngày, anh sẽ trở lại thăm thúc phụ, thăm em...

    Lệ Hồng lẩm bẩm, giọng buồn buồn:

    - "Cũng có ngày" nhưng chắc ngày ấy còn xa lắm phải không anh?

    Anh Kiệt thoáng ngạc nhiên. Hình như Lệ Hồng có phật ý điều gì nên câu nói của nàng đượm vẻ đầy trách móc...

    Chàng khẽ đáp:

    - Không lâu đâu! Thế nào anh cũng trở lại, em cứ tin lời anh...

    Một con vạc ăn đêm bay ngang qua nền trời, kêu lên những tiếng buồn thê thảm rồi mất hút ở chân trời...

    Lệ Hồng nhìn theo bóng chim nói nhỏ:

    - Chim kia bay về đâu nhỉ?

    Rồi như không tự chủ được lòng mình, nàng tiếp:

    - Anh ví như con chim trời, hôm nay ở đây rồi mai kia, không biết đến chốn vô định nào!

    Anh Kiệt an ủi nàng:

    - Sao em có những ưu tư như vậy! Em không tin lời nói của anh sao Lệ Hồng? Thế nào anh cũng trở lại nơi anh đã sống qua những năm tháng êm đẹp nhất trong đời.

    Lệ Hồng gượng cười:

    - Em tin lắm chứ, nhưng em đoán ngày ấy còn xa xôi lắm và chúng ta không còn dịp sống gần nhau nữa. Anh quên rằng từ đây anh sẽ là kẻ giang hồ phiêu bạt, mang kiếm cung đi khắp miền sông núi để cứu giúp cho đời. Anh làm sao có thì giờ để nghĩ đến chốn này!

    Lệ Hồng không dấu diếm được lòng mình. Nàng tự nhủ: Hãy giữ lấy thái độ vui tươi, cho Anh Kiệt yên lòng về thăm mẹ, nhưng không hiểu sao những lời nói của nàng thốt ra mỗi lúc mỗi lúc càng thêm chua xót.

    Nàng bực tức, tại sao mình cũng là trang anh thư nữ kiệt mà không thể như cánh chim băng lướt gió tung mây ra muôn vạn dặm đường, lại phải ngày đêm ủ rũ trong phòng the cửa kín.

    Phải chi nàng là trai? Chắc chắn sẽ không rời xa Anh Kiệt bước nào!

    Anh Kiệt không thể hiểu được tâm trạng bí ẩn của người em gái khác họ mà chàng lại hiểu lầm là Lệ Hồng đang tiếc rẻ những ngày vui đã mất: Hai anh em không còn có dịp sống chung nhau dưới mái gia đình.

    Chàng càng yêu mến Lệ Hồng hơn vì nàng đã xem mình không khác gì anh ruột.

    Anh Kiệt cố làm vui lòng nàng, nói:

    - Lệ Hồng! Sao em cứ buồn mãi! Chúng ta sống bên nhau nhiều lắm rồi, bây giờ phải cho anh thử thách với đời nữa chứ! Chứ không lý bắt anh bó mình mãi trong bốn cửa thành này ư?

    Chàng lại nói đùa:

    - Anh có phải là gái như em đâu?

    Lời nói của Anh Kiệt nếu thốt ra trong dịp khác, thì sẽ làm cho hai người phát lên cười vui vẻ, nhưng gặp lúc này, nó lại chạm vào lòng tự ái của Lệ Hồng.

    Nàng tủi thân tức tửi khóc và nhìn Anh Kiệt, nước mắt rưng rưng:

    - Anh khinh em đến thế à?

    Anh Kiệt sửng sốt nhìn em. Chàng thật không ngờ Lệ Hồng mà còn có thể khóc dễ dàng như vậy!

    Chàng lúng túng không biết làm sao để ngăn những giọt lệ long lanh kia đừng chảy nữa.

    Nhưng Lệ Hồng cứ tức tửi, sụt sùi. Sự bực tức, buồn thương tự bấy lâu, được dịp tuôn trào theo nước mắt.

    Nàng không khóc vì câu nói đùa của Anh Kiệt mà khóc cho mối tình thầm kín của mình sắp phải vỡ tan. Nàng yêu mà không nói được, đành để cho người yêu lặng lẽ ra đi, mang theo cả nguồn hạnh phúc của đời nàng.

    Anh Kiệt bỡ ngỡ đứng bên Lệ Hồng, không biết khuyên giải cách nào để cho nàng đừng khóc nữa. Thực tâm, chàng có cố ý làm phật lòng nàng đâu!

    Lâu lắm chàng mới ấp úng:

    - Lệ Hồng... Anh nói đùa cho vui, sao em lại khóc?

    Thiếu nữ ngước nhìn chàng đôi môi mấp máy như muốn thốt ra điều gì, rồi lại thôi. Nàng bỗng khóc nấc lên chạy vụt đi, khiến Anh Kiệt hốt hoảng gọi theo:

    - Lệ Hồng... Lệ Hồng... Em...

    Nhưng Lệ Hồng, như không nghe tiếng chàng, lẩn mình dưới những giàn hoa lý, rồi chạy thẳng vào nhà.

    Anh Kiệt đứng sững sờ trông theo, lòng phân vân nhiều nỗi. Chàng thật không hiểu được tâm trạng của Lệ Hồng và thầm đoán, chắc có điều gì bí ẩn không giải bày ra được, nên nàng mới có thái độ kỳ quặc như vậy.

    Đêm đã khuya lắm rồi, trống trên mặt thành đã điểm canh ba mà Anh Kiệt vẫn bước đều trong vườn vắng. Lòng chàng nặng trĩu ưu phiền, không làm sao đi ngủ được. Thỉnh thoảng chàng ngước nhìn lên phía lầu hoa.

    Lệ Hồng vẫn còn thức. Hàng bạch lạp phía trong in rõ bóng nàng trên bức màn the trước cửa.

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Máu Nhuộm Đường Về

    Hoàng Đề đốc nắm hai vai Anh Kiệt dặn dò:

    - Thôi cháu lên đường nhớ lời ta khuyên bảo, tuy ở xa nhưng ta sẽ theo dõi cháu luôn. Đừng bao giờ quên mình là người của hai dòng họ Vũ, Hoàng.

    Anh Kiệt cúi đầu chào thúc phụ, lên yên.

    Con tuấn mã hí lên một tiếng vui mừng như saÜn sàng đưa chủ qua vạn dặm đường.

    Đề đốc bỗng gọi giật lại:

    - Hiền điệt, cho ta gởi lời thăm mẫu thân cháu nhé!

    Anh Kiệt vâng dạ và khẽ liếc nhìn lên lầu hoa như tìm kiếm một người. Bức màn the lay động, bóng ai vội vã trở vào phòng.

    Anh Kiệt cúi chào Đề đốc lần sau cùng rồi ra roi cho ngựa rời khỏi dinh thự nhà họ Hoàng.

    Ngồi trên lưng ngựa, chàng nhớ lại những chuyện đã xảy ra. Mấy hôm nay chàng đã sống trong sự thắc mắc, khổ tâm: "Lệ Hồng cáo bệnh ở mãi trong phòng riêng không cho chàng gặp mặt để giải bày hay xin lỗi về chuyện đã qua". Anh Kiệt hết sức ngạc nhiên về thái độ cố chấp của Lệ Hồng. Nàng tức giận đến nỗi không muốn nhìn mặt chàng nữa ư?

    Đã mấy lần Anh Kiệt xin phép vào thăm, Lệ Hồng đều cáo thác, sai tỳ nữ ra bảo nàng đang ngủ hay đang mệt để chàng trở về phòng riêng.

    Anh Kiệt buồn lắm. Trong bao nhiêu năm trời sống chung, anh em rất thuận hòa, nay vì một câu nói đùa không suy nghĩ mà chàng lại làm phật lòng đứa em gái nhỏ rất quý mếm của mình!... Chàng muốn đem câu chuyện thưa với thúc phụ nhưng lại sợ Lệ Hồng sẽ giận nhiều hơn.

    Bỗng nhiên sáng nay, chàng đang ngồi trong thư phòng đọc sách thì tên tiểu đồng vào gọi chàng lên hầu Đề đốc.

    Anh Kiệt vội vã đi ngay, trong lòng lo lắng vô cùng. Chàng không hiểu chuyện lành, dữ thế nào?

    Khi chàng bước vào phòng riêng của Đề đốc thì gặp lúc ông đang ngồi xem các công văn từ các nơi gởi đến. Thấy Anh Kiệt, Đề đốc xếp gọn đồ đạc, chỉ ghế bảo chàng ngồi.

    Anh Kiệt không dám đường đột ngồi đối diện nên khoanh tay đứng hầu. Đề đốc mỉm cười bảo:

    - Cháu cứ tự nhiên, đừng giữ lễ nữa, chúng ta sắp phải xa nhau rồi đấy!

    Anh Kiệt kinh ngạc nhìn thúc phụ không chớp mắt.

    Đề đốc lại hỏi:

    - Có phải cháu muốn về Hạnh Hoa thôn thăm mẹ không? Tại sao cháu không thố lộ cho ta biết?

    Anh Kiệt ngơ ngác chưa hiểu sự thể ra thế nào thì Đề đốc gật gù như tự bảo mình:

    - Năm, sáu năm trời còn gì nữa! Ta bận luyện tập cho cháu nên người, để khỏi phụ lời gởi gấm của Vũ huynh mà quên nghĩ đến việc cho cháu về thăm nhà! Chắc mẫu thân cũng buồn phiền ta nhiều lắm. Nếu không có Lệ Hồng nhắc nhở...

    Anh Kiệt bỗng thốt ra:

    - Lệ Hồng, thưa thúc phụ...


    Đề đốc hơi ngạc nhiên, vì từ khi Anh Kiệt vào gia đình này, đây là lấn đầu tiên chàng sơ suất đến ngắt ngang lời nói của ông. Đề đốc nhìn chàng nói:

    - Phải, chính Lệ Hồng nhắc nhở ta! Cháu muốn hỏi gì?

    Biết mình lỡ lời, Anh Kiệt vội vàng thưa:

    - Bẩm thúc phụ, cháu nghe tin hiền muội thọ bịnh, nhưng biết đã qua khỏi chưa. Vì nóng lòng cháu đã sơ suất, mong thúc phụ khoan dung...

    Hoàng Đề đốc mỉm cười dễ dãi:

    - Không sao, cháu đừng ngại, Lệ Hồng đã bình phục rồi.

    Và ông tiếp theo câu chuyện:

    - Đêm qua nhờ Lệ Hồng nhắc nhở, ta mới nhớ ra. Vậy cháu kịp sửa soạn về Hạnh Hoa thôn đi.

    Anh Kiệt bàng hoàng trước quan Đề đốc vì sự mong muốn của chàng bỗng dưng được thực hiện một cách bất ngờ.

    Chàng chắp tay thưa:

    - Bẩm thúc phụ! Cháu xin được về Hạnh Hoa thôn trong ít lâu rồi trở lại Phiên Ngung để hầu thúc phụ và học thêm kiếm pháp.

    Đề đốc vuốt râu bạc, lộ vẻ cảm động.

    - Ta hiểu lòng cháu lắm! Cháu muốn đền ơn, đáp nghĩa ta ư? Đừng bận tâm đến việc đó. Ta còn mạnh khỏe lắm! Hơn nữa, có thím cháu và em Lệ Hồng luôn luôn ở bên ta. Cháu yên lòng về Hạnh Hoa thôn phụng dưỡng mẫu thân cháu thì ta đẹp dạ lắm rồi.

    Đề đốc ngừng lại, ngước nhìn ra ngoài nói tiếp:

    - Kiếm pháp của cháu ngày nay không phải học thêm nữa, chỉ cần được luyện tập luôn luôn cho thuần phục. Vả lại, ta muốn cháu giao tiếp với đời, tìm kết giao với những tay anh hùng hào kiệt, trừ gian, diệt ác. Cháu phải học nhiều ở ngoài đời hơn là ở đây.

    Đề đốc nhìn xem có ai ở trong phòng không rồi tiếp, giọng nghiêm nghị hơn:

    - Tổ quốc ta rồi đây không thoát khỏi thời ly loạn. Đức vua thì còn nhỏ mà Hoàng thái hậu lại quá chuyên quyền, dung dưỡng cho quân Hán hoành hành trên đất nước.

    Các quan trong triều ai nấy đều phẫn uất. Ta ngày đêm hằng lo nghĩ đến việc đó mà mất ăn mất ngủ song dù muốn làm gì đi nữa, cũng chỉ cốt ở lòng dân.

    Đề đốc nắm lấy vai Anh Kiệt thốt ra những lời tâm huyết:

    - Cháu nhớ lời ta dặn. Khi về Hạnh Hoa thôn rồi phải tìm cách kết giao với tất cả những tay anh kiệt trong vùng, quy tụ trong những kẻ tài giỏi đồng chí hướng như ngày xưa ta và phụ thân cháu đã làm và lúc nào cũng lấy tinh thần hiệp sĩ đặt lên trên hết... Biết đâu rồi cũng có ngày ta sẽ cần sự giúp đỡ của các cháu.

    Đề đốc dứt lời, Anh Kiệt cúi đầu vâng dạ. Chàng nghĩ đến một ngày nào đó, chàng sẽ có dịp giúp ích cho thúc phụ để đền đáp ơn dưỡng dục của người.

    Hoàng Đề đốc đứng lên bảo Anh Kiệt:

    - Thôi cháu về phòng lo thu xếp hành lý để lên đường cho sớm và nhớ kỹ những lời căn dặn của ta.

    Anh Kiệt sụp xuống đất lạy hai lạy rồi lui ra.


    Chàng đi dọc theo hành lang, cốt ý tìm Lệ Hồng lần cuối cùng để từ giã nàng.

    Thái độ của Lệ Hồng làm cho chàng nghĩ ngợi rất nhiều. Bên ngoài, nàng tỏ ra oán giận Anh Kiệt nhưng luôn luôn lo nghĩ đến chàng.

    Tại sao nàng lại thưa chuyện với Đề đốc để giúp chàng sớm trở về Hạnh Hoa thôn? Hay là... Một ý nghĩ vụt đến trong óc chàng làm cho Anh Kiệt vô cùng chua xót! Hay là Lệ Hồng không muốn gặp mặt chàng nữa nên tìm cách đuổi chàng đi đó thôi? Anh Kiệt không tin như vậy. Bao năm trời sống gần nhau, chàng hiểu rõ tâm tánh của Lệ Hồng: Nàng không thể tệ bạc như thế.

    Anh Kiệt bước qua phòng riêng của Lệ Hồng và chàng vô cùng thất vọng: Cửa phòng vẫn đóng im lìm như mấy ngày qua. Chàng kêu cửa một hồi lâu vẫn không có tiếng đáp. Lệ Hồng nhất định không tiếp chàng dù biết chắc chắn hôm nay Anh Kiệt sẽ rời bỏ Phiên Ngung!

    Anh Kiệt buồn bã trở về phòng, chàng không ngờ Lệ Hồng lại oán ghét chàng đến như vậy.

    Nhưng làm sao chàng cũng phải giải tỏ được nỗi lòng, chứ biết mai kia trên đường đời, hai người có còn gặp được nữa chăng? Chàng lấy giấy bút viết một búc thư để gửi Lệ Hồng, mong nàng xóa bỏ những lầm lỗi của chàng.

    Và không biết có phải vì bức thư đó mà có người đứng nép bên rèm the, giữa lúc Anh Kiệt lên đường về Hạnh Hoa thôn?

    Ra khỏi cửa Nam thành Phiên Ngung, con tuấn mã phi nước đại, đưa Anh Kiệt về Hạnh Hoa thôn.

    Đường từ kinh đô về quê hương xa diệu vợi. Anh Kiệt không dám chậm trễ một phút nào. Chàng ruổi ngựa qua bao đoạn đường thênh thang, bao gò nổng gồ ghề, bao đường mòn khúc khuỷu và đến thôn Cao Đồng khi mặt trời chếch bóng.

    Tuy nhiên, ánh nắng trưa vẫn còn gay gắt làm sùi bọt mép con tuấn mã, dù nó vẫn còn chạy rất hăng.

    Anh Kiệt không đành để cho ngựa mệt nhọc, vì còn phải trải qua nhiều đoạn đường dài, nên chàng trai tìm chỗ nghỉ chân.

    Ở đây dân cư đông đúc, nhưng họ sống về nghề ruộng rẫy, rất khó tìm một hàng quán bên đường.

    Bỗng Anh Kiệt thoáng thấy phía trước một gian lều khá rộng, nép mình dưới một tàn cây to lớn. Trước lều có ba ngựa cột trên mé cỏ.

    Có lẽ là một gian hàng nước? Anh Kiệt thầm đoán như vậy. Chàng ghì cương xuống ngựa và bước vào lều.

    Nhìn qua một lượt, Anh Kiệt thấy rằng mình đoán đúng.

    Bếp lửa phía trong, có chủ quán và bà mẹ đang thì thầm cạnh một con gà đang nướng chín vàng. Thỉnh thoảng hai mẹ con lại liếc nhìn ba ông khách mà trông qua cách ăn mặc, Anh Kiệt biết ngay là bọn lính Tàu.

    Chàng hơi ngạc nhiên không hiểu tại sao chúng lai vãng đến vùng này?

    Anh Kiệt bước vào, làm cho mọi người chú ý. Cô chủ quán bước tới nhìn chàng rụt rè; ba người Tàu quay lại ngó chàng, thiếu thiện cảm.

    Anh Kiệt ngồi xuống ghế và bảo thiếu nữ:

    - Cô cho tôi bình trà!

    Thiếu nữ dạ một tiếng nhỏ, quay vào trong. Ba người khách chùm hum lại nói bằng tiếng Tàu, nhưng không ngờ Anh Kiệt hiểu được rất nhiều, nhờ sự truyền dạy của Hoàng Đề đốc.

    Tên cao lớn vạm vỡ nhất trong bọn nói:

    - Thằng kia có vẻ là tay kiếm khách! Ở cái nước tồi tệ này, cũng có bọn đó nữa ư?

    Tên còn trẻ có vẻ xấc láo, bĩu môi đáp:

    - Kiếm khách! Thằng bé chưa ráo máu đầu mà anh cho là kiếm khách à? Phải nó tới sớm một chút nữa, tôi mượn kiếm nó cắt cổ gà cho anh xem!

    Cả bọn cười lên khanh khách vì câu pha trò ý nhị.

    Anh Kiệt vẫn nín lặng ngồi nghe nhưng trong lòng chàng sự tức giận đã lên đến cực độ. Chàng nghĩ rằng cần phải trừng phạt bọn này một phen cho chúng bớt hống hách.

    Đây là lần đầu tiên mà chàng được nghe những lời khinh miệt của quân nhà Hán đối với dân mình.

    Từ lâu rồi, chàng vẫn thường nghe nói tới sự hống hách của bộ hạ sứ giả Hán triều: An Quốc Thiếu Quý, mãi đến ngày nay, chàng mới được dịp gặp chúng.

    Tiếng than van của dân chúng trong thành Phiên Ngung về bọn này không ít, và chính Hoàng Đề đốc đã nhiều lần thổ lộ với Anh Kiệt về nỗi khốn khổ của đồng bào trước hành đông vô lương của chúng.

    Làm đến chức vị Đề đốc hộ thành mà ông không đủ sức để giữ an bình cho dân chúng nên ông rất khổ tâm.

    Bọn bộ hạ của An Quốc Thiếu Quý dựa hơi Cù Thái Hậu, xem các quan trong triều không ra gì. Chúng tha hồ tung hoành trong các phố.

    Bao lần Đề đốc bắt tội chúng thì An Quốc Thiếu Quý can thiệp, Cù Thái Hậu nói vào, nhà vua lại bảo tha...

    Ai Vương quá nhỏ không hiểu được mối nguy cơ đang hăm dọa nước nhà trong khi tất cả quyền hành đều giao về tay Cù Thái Hậu.

    Các quan trong triều bất mãn, dân chúng xầm xì bàn tán về sự có mặt của vị sứ giả Hán triều và quyền lực của hắn ngày càng rộng ra thêm...

    Có nhiều đồn đãi không hay trong hoàng cung, khiến cho dân tình chấn động. Người ta bảo Cù Thái Hậu ngày xưa, lúc còn ở bên Tàu là người tình của An Quốc Thiếu Quý! Cho nên ngày nay sứ giả Tàu sang đây hai người lại tư thông với nhau để làm điên đảo sơn hà đất Việt.

    Đó là cái họa lớn của nước nhà, thực hư thế nào ai biết, nhưng cái họa nhỏ hằng ngày do bọn bộ hạ của sứ giả nhà Hán gây ra, cũng đủ cho dân tình khốn khổ lắm rồi. Hằng ngày chúng đi nghênh ngang trong thành phố phá phách, cướp giựt, bắt cóc phụ nữ gây xáo trộn khắp nơi. Bắt được chúng thì không được quyền trị tội nên càng ngày chúng càng lộng hành hơn, chẳng kể gì luật pháp.

    Anh Kiệt hiểu rõ nỗi khổ tâm của Đề đốc, nhưng bấy lâu, bận học tập kiếm cung, chàng đành gác bỏ mọi việc ngoài tai.

    Ngày nay, bọn chúng gặp phải tay chàng, kể ra cũng không được may mắn lắm.

    Trong khi đó, ba tên bộ tướng của sứ giả Tàu vẫn huênh hoang cười nói. Chúng không ngờ có người hiểu được tiếng Tàu và đang để tâm dò xét từng cử chỉ, từng hành động của cả bọn.

    Tên ngồi sát trong góc nhà, ốm tong ốm teo, bỗng nói:

    - Chúng bây đừng làm ồn quá! Mình đi chỗ xa, cần thận trọng cho lắm mới được.

    Tên trẻ tuổi nhất trong bọn vội phản đối:

    - Anh điên rồi à? Ở đây còn ai dám động tới bọn ta? Vua Ai Vương kia mà ta còn không xem ra gì, thì nói chi đến những kẻ hèn mọn.

    Tên ốm nhom bĩu môi:

    - Mi đừng khinh thường quá. Đêm hôm qua, năm thằng ra cửa Bắc thành Phiên Ngung, nhậu say, bị giết chết liệng xác trong rừng kia! Liệu hồn mi, rồi cũng có ngày rã xương nơi đất này...

    Tên trẻ tuổi cụt hứng, nhưng vẫn còn hống hách:

    - Bọn nó bất tài mới chết! Gặp tay tôi, anh phải biết, tôi chém không còn sót một đứa.

    - Ừ giỏi! Mi anh hùng lắm! Để rồi tao chống mắt lên xem.

    Tên cao lớn vạm vỡ, từ nãy giờ bận uống rượu, không góp phần cãi vã, bỗng cười lên khanh khách mắt liếc về phía cô chủ quán rồi bảo bạn:

    - Thôi, xin can các cha, bàn chuyện khác vui hơn... Tôi tính bắt con bé này về Phiên Ngung hú hí cho vui, các cha nghĩ sao?

    Tên ốm nhom toan cất tiếng cản ngăn nhưng khi nhìn lại người thiếu nữ thấy da mặt hồng hào tươi tắn, thân thể gọn gàng, chắc nịch thì trong lòng hắn cũng ưa thích, nên im lặng.

    Tên trẻ tuổi thấy bạn đồng ý liền xúi thêm:

    - Ừ, được à Phà Thón! Anh bắt nó đi, tôi tiếp một tay.

    Anh Kiệt cảm thấy máu giận sôi lên sùng sục. Chàng toan nhảy vào chém chết lũ khốn kiếp ấy, nhưng chàng cố dằn, để đợi xem bọn chúng còn giở thêm những trò gì.

    Người thiếu nữ bán quán không hay biết gì hết. Cả bà mẹ cô ta đang cặm cụi sang lửa than cho gà mau chín, có ngờ đâu rằng bọn hung thần kia đang toan tính hãm hại con bà.

    Bỗng một tiếng gọi vang lên:

    - Chủ quán!

    Thiếu nữ ngước nhìn về phía bàn ba ông khách, sợ sệt.

    Gã Phà Thón cười to lên một cách khả ố rồi hỏi thiếu nữ bằng tiếng Việt, giọng trại hẳn đi.

    - Hà cô nàng, gà đâu? Mang ra đi cô em...

    Thiếu nữ vội thưa:

    - Bẩm các ngài nán đợi một chút, gà chưa được chín ạ!

    Hắn liền trỗi giọng bông lơn:

    - Mau lên đi cô em! Bộ muốn qua đây ngủ với cô em sao?

    Rồi cả bọn cười lên sặc sụa khiến cô bán quán thẹn quá cúi đầu...

    Tên ốm nhom bỗng nín cười khều tay Phà Thón chỉ về phía bàn Anh Kiệt.

    - Coi chừng tên kiếm khách ấy! Tại sao hắn chưa chịu đi mà cứ lẩn quẩn đây, như muốn dò xét bọn ta.

    Phà Thón quay nhìn Anh Kiệt. Chàng thanh niên biết bọn chúng chú ý đến mình, vẫn điềm nhiên không tỏ vẻ gì khác lạ, mắt đăm đăm nhìn ra ngoài trời như đang suy tính việc gì.

    Phà Thón thấy Anh Kiệt nhỏ thó, ngồi im lìm không dám động đậy thì có ý khinh thường, nói với bạn:

    - Đại huynh đừng ngại! Thằng này có nhằm gì đâu? Nó có biết mình nói chuyện chi mà chú ý.

    Rồi hắn tặc lưỡi, nắm bàn tay hô pháp để lên bàn tiếp:

    - Dù cho nó muốn sinh sự đi nữa, tôi chỉ búng ngón tay cũng đủ giết nó rồi.

    Đến lúc này, Anh Kiệt nghĩ rằng mình cần phải nói khẩy chúng vài câu cho bõ ghét, miễn làm sao cho chúng đừng tưởng mình khiêu khích là được. Chàng hiểu chúng biết bập bẹ tiếng Việt, nên gọi cô chủ quán:

    - Cô hàng ơi! Quán cô sao nhiều ruồi thế này? Làm sao tôi đuổi chúng đi bây giờ đây?

    Thấy cô chủ quán ngơ ngác, Anh Kiệt làm bộ đập ruồi đậu trên bàn, rồi tiếp:

    - Bộ mày muốn chết cả lũ sao cứ bu quanh hũ đường.

    Cô chủ quán càng không hiểu người khách võ sinh muốn nói gì? Nhưng ba tên bộ tướng của sứ giả Tàu nhìn nhau, ngầm hiểu là Anh Kiệt muốn ám chỉ bọn mình.

    Tên Phà Thón không dằn được sự tức giận, đứng lên, đi thẳng lại bàn Anh Kiệt.

    Anh Kiệt vẫn ngồi yên. Chàng làm như không chú ý đến hành động của tên lính Tàu vạm vỡ ấy.

    Phà Thón bước đến bên bàn, quắc mắt nhìn chàng rồi thét hỏi bằng tiếng Tàu:

    - Thất phu! Mi muốn gây sự hả?

    Anh Kiệt đứng lên, giả vờ sợ hãi. Chàng lại ngơ ngác hỏi bằng tiếng Việt:

    - Thưa ông! Ông muốn gì ạ?

    Thái độ của Anh Kiệt và câu hỏi bằng tiếng Nam làm cho Phà Thón tin tưởng rằng chàng thanh niên kia không nghe được tiếng nói của y.

    Nhưng y cũng hỏi thêm cho chắc chắn:

    - Mi biết tiếng Tàu không?

    Anh Kiệt mỉm cười lắc đầu:

    - Không ạ!

    Phà Thón quay lại hỏi hai đồng bạn:

    - Các anh nghe chưa? Hắn có biết gì đâu?

    Anh Kiệt khẽ hỏi:

    - Các ông có cần tôi giúp việc gì chăng?

    Phà Thón nghiêm trang đáp:

    - Không!

    Y trở lại bàn và cả ba đứa cười sằng sặc:


    Tên ốm nhom trong góc nhà, gật gù:

    - Chúng mình đa nghi quá. Hắn nói thật, cũng tưởng ám chỉ bọn mình. Ta không ngờ bộ tịch hắn có vẻ là tay kiếm khách mà lại hèn nhát đến thế?

    Tên trẻ tuổi càng kiêu ngạo hơn:

    - Sá gì bọn chuột này, tôi gặp chúng đầy đường ở Phiên Ngung. Bên ngoài coi bộ hùng dũng lắm nhưng chưa nạt đã chạy mất.

    Đằng kia, Anh Kiệt giả vờ cúi gầm mặt xuống bàn. Chàng không muốn nhìn thấy đôi mắt thương hại của người thiếu nữ bán quán. Nàng làm sao hiểu được hành động bí mật của chàng dũng sĩ.

    Lúc này khi thấy bọn lính Tàu đến gây sự với Anh Kiệt thiếu nữ lo sợ lắm. Nàng cầu mong cho đừng có việc gì xảy ra, nhưng đến khi thấy chàng thanh niên có vẻ sợ sệt, nàng đâm ra khó chịu và xót xa trong lòng.

    Giữa lúc ấy, đôi mắt thiếu nữ vụt sáng lên khác thường. Từ bên ngoài, một thanh niên tuấn tú khôi nhô, lưng đeo trường kiếm, vai mang cung tên bước vào. Chàng nhìn thiếu nữ mỉm cười và cúi đầu cung kính chào bà mẹ.

    Bà lão lộ vẻ vui mừng hỏi:

    - Kìa tráng sĩ đi Phiên Ngung về rồi đấy à?

    Khi bà lão bước vào trong buồng thì thiếu nữ tiến đến gần chàng thanh niên, lấy tay xoa nhẹ chuôi kiếm hỏi rất nhỏ, nhưng cũng đủ lọt vào tai Anh Kiệt:

    - Anh đi đường có mệt lắm không?

    Thanh niên nhìn chàng đáp:

    - Cám ơn em! Không mệt lắm nhưng nhớ em rất nhiều.

    Thiếu nữ quay đi e thẹn rồi vụt chạy ra nhà sau. Chàng thanh niên nhìn theo nàng bằng đôi mắt trìu mến.

    Nhưng chàng bỗng sa sầm nét mặt, khi nhìn thấy ba tên lính Tàu đang ngồi bên kia bàn.

    Chàng quay nhìn đi nơi khác song tất cả những cử chỉ của chàng từ khi bước vào quán đều không lọt qua cặp mắt của tên lính Tàu ốm nhom đang ngồi trong góc.

    Hắn thì thầm bên tai Phà Thón:

    - Cái thằng này đáng ghét thật! Nó lộ vẻ khinh khi chúng mình ra mặt.

    Phà Thón cúi xuống nốc hết ly rượu đáp:

    - Không cần biết chuyện đó! Nó dám cười tình với con bé kia thì đủ khiến cho tôi giết nó rồi mà.

    Và như nổi xung lên, hắn hét vang nhà:

    - Chủ quán!

    Hắn loạng choạng đứng dậy trong lúc mọi người hoảng kinh quay nhìn hắn. Thiếu nữ từ trong bếp chạy ra hớt hải.

    Phà Thón hất hàm gọi:


    - Lại đây!

    Thiếu nữ khiếp đảm quá, chưa biết tính sao, đôi mắt nàng cứ nhìn người yêu như muốn hỏi xem mình hành động cách nào?

    Bà mẹ từ trong buồng chạy ra đáp thế cho con:

    - Dạ! Dạ, các ông hỏi gì?

    - Không ai hỏi bà? Biểu con kia lại đây.

    Thiếu nữ bước tới vài bước rồi dừng hẳn lại, thu hết can đảm nói:

    - Mấy ông muốn gì?

    - Lại đây biểu!

    Thiếu nữ đáp cứng rắn:

    - Không! Mấy ông muốn gì cứ nói.

    Phà Thón tức giận đến cực độ, nhảy xổ tới, nắm lấy tay thiếu nữ lôi về phía bàn, miệng la hét:

    - À, con này gan thật! Mi dám trái lệnh các ông hả?

    Thiếu nữ kêu la thảm thiết. Chàng thanh niên vụt đứng phắt lên, chụp lấy chuôi gươm rút ra khỏi vỏ.

    Thiếu nữ kinh hoảng, cố vùng vẫy thoát khỏi bàn tay hộ pháp của Phà Thón, chạy về phía người yêu khuyên can:

    - Đừng, anh ơi! Đừng gây sự với chúng! Anh chưa thật hết bệnh mà.

    Thanh niên, đôi mắt như nảy lửa, xô thiếu nữ sang bên, bước tới.

    Ba người Tàu cũng rút đoản đao ra. Phà Thón nghiến răng ken két, hầm hừ bảo:

    - Nhãi con! Mi đã tận số rồi!

    Thanh niên không nói một lời, vung kiếm lên, chém bổ vào đầu hắn. Phà Thón né mình sang bên, chém phạt ngang hông địch thủ một nhát nhanh như gió, bắt buộc chàng thanh niên phải luôn tay kiếm bọc theo mình đỡ một miếng đòn bất ngờ. Một tiếng "Keng" vang lên.

    Phà Thón ngạc nhiên nhìn chàng thanh niên. Mới qua hiệp đầu, hắn thấy rõ kẻ địch không phải là tay vừa và hắn không thể thắng dễ dàng như đã tưởng.

    Hai tên kia, như hiểu rõ tình thế, vội vàng xông vào trợ chiến. Thanh niên vẫn điềm tĩnh giao đấu, không chút nao núng.

    Chàng đánh càng lúc càng hăng, đường kiếm biến hóa nhanh nhẹn khác thường làm cho cả ba người Tàu đều kinh hồn khiếp vía.

    Anh Kiệt đứng sát vào vách nhà, bình tĩnh xem trận đấu và thầm khen kiếm pháp của người thanh niên.

    Chàng nguyện trong lòng sẽ tìm cách kết giao với kẻ tài hoa ấy.

    Nhưng chỉ một lúc Anh Kiệt lo sợ. Tự dưng kiếm pháp của chàng thanh niên đâm ra rời rạc và mặt chàng tái mét hẳn đi. Chàng loạng choạng vài bước rồi bổ nhào xuống cạnh bàn.

    Thấy thế Phà Thón cả mừng giơ cao lưỡi dao, saÜn sàng chém xuống. Anh Kiệt toan nhảy vào cứu chàng tráng sĩ, thì một tiếng thét vang lên làm cho mọi người đều quay lại.

    Thiếu nữ chủ quán liều chết lăn xả vào ôm choàng lấy người yêu, khóc nức nở. Nàng ngước nhìn Phà Thón cầu khẩn van xin:

    - Đừng giết anh ấy ông ơi! Anh ấy đang bệnh mà...

    Phà Thón rút đao về, Anh Kiệt càng theo sát chúng hơn. Chàng chỉ sợ chậm trễ một phút sẽ nguy đến tính mạng của đôi thanh niên nam nữ.

    Tên lính ốm nhom vụt nhìn ra ngoài trời bảo bạn:

    - Chiều rồi Phà Thón ạ! Chúng ta đi thôi.

    Phà Thón như hiểu ý, cúi xuống ôm ngang lưng thiếu nữ.

    Nàng vùng vẫy la hét:

    - Buông tôi ra! Buông ra! Mẹ ơi là mẹ ơi! Cứu con với!

    Bà lão từ nãy giờ quá khiếp sợ, núp trong buồng, nghe tiếng con gọi vội chạy ra, lăn xả vào ôm chân Phà Thón.

    - Trời ơi! Đừng bắt con tôi... Già nua tuổi tác, chỉ còn một mẹ một con ông ơi.

    Phà Thón lấy chân hất bà lão nhưng bà vẫn ôm chặt cứng. Thiếu nữ trên tay hắn cũng giãy giụa mạnh hơn, Phà Thón tức giận lắm, không cần suy nghĩ, đưa cây đoản đao lên toan bổ xuống đầu bà lão.

    Nhưng thình lình một lằn sáng lóe dài dưới ánh nắng chiều xuyên kẽ lá. Một tiếng "Cạch" khô khan vụt nổi lên, cây đoản đao của Phà Thón gãy làm hai đoạn.

    Ngay lúc ấy Anh Kiệt đã đứng đấy tự bao giờ. Chàng khẽ mỉm cười nhìn Phà Thón đang hốt hoảng buông thiếu nữ ra, mắt nhìn cây đoản đao cụt ngủn và lùi dần, về phía hai tên đồng bọn.

    Anh Kiệt ôn tồn và nhã nhặn cất tiếng:

    - Thôi chứ mấy ông! Hiếp bức người ta quá sao đành?

    Gã tuổi trẻ nhất trong bọn vẫn kiêu ngạo và xem thường Anh Kiệt từ khi chàng mới bước chân vào quán. Hắn sấn tới, thét:

    - Thằng chết bầm này! Mày cũng muốn can thiệp vào chuyện riêng của bọn ta nữa phải không?

    Anh Kiệt cười khanh khách:

    - Bạn còn nhỏ quá mà kiêu căng tự phụ thì chắc chắn sẽ không khỏi bị hại. À, lúc nãy, hình như lúc nãy bạn muốn mượn kiếm của ta để cắt cổ gà chứ gì? Hà, hà, kiếm này bén lắm! Chém sắt như chém bùn bạn ạ!

    Rồi làm ra vẻ thân thiện. Anh Kiệt tiếp lời:

    - Bạn chưa tin hả? Để tôi cắt thử một bên tai bạn xem có đúng không?

    Anh Kiệt quay lưỡi kiếm vùn vụt nhiều vòng, làm cho tên lính trẻ tuổi mờ mắt đi, không thấy đường nữa.


    Thình lình hắn thét lên một tiếng, quăng kiếm, ôm lấy đầu kêu la thảm thiết.

    Phà Thón nhìn bạn và khiếp đảm vô cùng, khi thấy một lỗ tai của hắn đã bị Anh Kiệt xẻo mất tự bao giờ!

    Nàng thiếu nữ và bà mẹ quá khiếp sợ chạy vào trong.

    Hai gã lính Tàu, trước sự đau đớn của bạn, nghĩ ngay đến phiên mình bị hại, liền xông vào một lượt, vây chặt kẻ địch.

    Phà Thón hăng hái nhất, chụp thanh kiếm của chàng thanh niên dưới đất, chém bổ vào đầu Anh Kiệt.

    Chàng dũng sĩ cười dòn tan, không cần né tránh, đưa kiếm đỡ. Một tiếng xoảng vang lên, hai thanh kiếm chạm vào nhau nảy lửa.

    Phà Thón tê buốt cả cánh tay, loạng choạng suýt té. Thanh kiếm của chàng thanh niên rất tốt, nên không sứt mẻ chút nào.

    Tên lính gầy ốm, toan sấn tới giúp bạn, nhưng không hiểu nghĩ sao, hắn thối lui, đứng sát vào vách, mò trong áo như tìm vật gì.

    Anh Kiệt đưa kiếm chỉ vào mặt Phà Thón nói:

    - Anh nóng nảy lắm nhưng rất ngu dại. Đừng nên tin vào sự sợ sệt bên ngoài của kẻ lạ mà đôi khi bị hại. Lần này ta dạy cho bài học để chừa bớt tính hung hăng.

    Anh Kiệt nói xong vung kiếm chém thẳng vào mặt Phà Thón. Và đợi khi hắn đưa kiếm lên đỡ, chàng nhanh nhẹn rút kiếm lại chém đứt "Cùi chỏ" của hắn.

    Phà Thón hét to lên, xuôi tay, buông rơi thanh kiếm.

    Anh Kiệt nói tiếp:

    - Từ nay, anh sẽ không bao giờ còn cầm được vũ khí để giết người nữa.

    Anh Kiệt vừa dứt lời, bỗng nhiên quay đầu lại, xoay tròn lưỡi kiếm bao bọc thân mình. Từ phía trước ba lưỡi dao vùn vụt bay tới, đụng nhằm lưỡi kiếm bắn vẹt đi...

    Tên lính gầy ốm thấy ám hại chàng không được, vội chạy ra cửa toan thoát thân, nhưng Anh Kiệt đã nhảy tới nắm cổ hắn kéo lại.

    Chàng tức giận lắm, nhưng cố dằn xuống nói:

    - Đừng trốn chạy, ta không giết mi đâu. Bình thường ta nể những tay mưu sĩ nhưng rất ghét những thằng giết lén. Ta cần phải làm dấu lên mặt mi cho dễ nhớ.

    Anh Kiệt đưa kiếm lên gạch tréo vào mặt hắn rồi buông tay ra. Chàng hành động trong nháy mắt, khiến tên lính Tàu không ngờ trước được.

    Hắn chỉ kịp la lên một tiếng đau đớn, rồi ôm chầm lấy mặt, lăn lộn dưới đất.

    Trừng trị xong bọn khốn kiếp, Anh Kiệt liền gọi thiếu nữ.

    - Cô chủ quán!

    Thiếu nữ vẫn còn run sợ bước ra, nhưng khi nhìn ba tên lính Tàu đều bị thương nhăn nhó rên la, thì nàng yên lòng.

    Anh Kiệt cất tiếng hỏi:

    - Cô đành bỏ chàng tráng sĩ ấy ư?

    Sau phút kinh hoàng thiếu nữ chợt nhớ ra, vội chạy đến vực người yêu dậy, và gọi mẹ nàng. Bà lão tiếp tay với thiếu nữ đem chàng tráng sĩ vào trong cứu chữa.

    Anh Kiệt bước đến gần ba tên lính Tàu nói từ từ:

    - Ta không giết chết các ngươi vì đây là lần thứ nhất. Các ngươi là kẻ ngoại bang, đến đây cần phải giữ lễ độ với người trong xứ, đừng hống hách quá, chỉ đem họa vào thân.

    Chàng nhìn thẳng vào mặt tên lính kiêu ngạo nhất nói tiếp:

    - Lúc nãy, mi cho rằng vua Ai Vương sợ chúng bây thì dân chúng là đồ hèn mọn cả, mặc tình cho chúng bây tung hoành ra sao cũng được, phải không? Mi lầm lắm! Ta tha chết cho mà về bảo với tất cả rằng "Dân Nam không hèn mọn như bây tưởng đâu! Liệu mà bớt hống hách không thì có ngày bỏ xác ở đất này".

    Ba tên lính Tàu nín lặng cúi đầu. Chúng cắn răng chịu đựng sự đau đớn của những vết thương.

    Anh Kiệt bỗng im lặng chú ý nghe. Xa xa hình như có tiếng vó ngựa dồn dập, mỗi lúc một gần.

    Chàng nhìn ra cửa và thấy một đoàn kỵ sĩ đang tiến gần về phía quán. Tướng đi đầu mặc giáp trắng rất uy nghi.

    Anh Kiệt lo sợ vô cùng, không khéo chàng nguy mất vì đoàn kỵ sĩ kia là binh lính của triều đình đi tuần tiểu quanh vùng. Nếu gặp chàng đang hành hạ lũ bộ tướng sứ giả Hán triều thì chàng không thoát khỏi tội.

    Theo lệnh Ai Vương và Cù Thị, bất cứ người ở cấp nào cũng không được quyền trị tội quân sĩ nhà Hán. Dù chúng đang phá rối, cướp của, giết người đi nữa, quân lính chỉ được phép bắt chúng giải về triều cho vua xét xử mà thôi. Ai giết chết một tên lính Tàu có thể bị xử tử hình. Nghiêm lệnh bất công ấy, các tướng đều biết do An Quốc Thiếu Quý bày ra để bảo vệ quân lính của hắn, nhưng đã là lệnh vua truyền thì mọi người chỉ biết răm rắp tuân theo.

    Tiếng vó ngựa của đoàn kỵ sĩ dồn dập nện trên đường, càng đến gần càng làm cho Anh Kiệt bối rối.

    Bây giờ, chàng chỉ lên ngựa phóng đi là xong, nhưng đã gây ra cớ sự này không lý lại để liên lụy cho bà chủ quán ư? Còn chàng tráng sĩ bị bệnh thình lình ngã lăn ra kia rồi sẽ ra sao?

    Chắc chắn, người này sẽ bị bọn lính Tàu trả thù! Dù sao thì chàng cũng không thể bỏ họ nửa chừng.

    Anh Kiệt bước lại cửa buồng hối mẹ con người thiếu nữ:

    - Bà và cô nên đem chàng thanh niên này đi nơi khác. Quân triều đình đã đến kia rồi. Hãy ra ngã sau mà trốn mau lên!

    Thiếu nữ và bà lão đều kinh hoàng chưa biết tính sao thì chàng tráng sĩ bỗng cựa mình. Thiếu nữ thấy thế vụt reo mừng:

    - Kìa! Anh ấy đã tỉnh rồi mẹ ơi!

    Chàng tráng sĩ từ từ mở mắt như vừa qua một cơn ác mộng. Chàng nhớ lại tất cả mọi việc, vội đứng phắt dậy, nhìn Anh Kiệt.

    Anh Kiệt cũng bớt lo, chàng nói nhanh:

    - Vậy bà và cô đi mau lên để không còn kịp nữa.

    Chàng tráng sĩ chợt nghe tiếng vó câu và nhìn thấy ba người Tàu đang ôm những vết thương thì thầm đoán được hiện tình bèn nói:

    - Bác và em đi ngay đừng chần chờ nữa. Cháu đã bình phục rồi.

    Tiếng vó ngựa bỗng chậm lại rồi rộn rịp trước cửa quán. Mẹ con bà lão kinh hoàng bỏ chạy ra ngã sau hướng về phía ngọn đồi. Họ đi tắt ra con đường khá rộng rồi lẩn mất.

    Bây giờ đám lính tuần đã xuống ngựa và rầm rộ kéo vào quán. Ba tên lính Tàu vụt kêu cứu vang ầm và chỉ tay về phía Anh Kiệt và chàng tráng sĩ...

    Đám lính tuần kinh ngạc khi thấy bọn lính Tàu bị thương, máu đổ đầm đìa...

    Anh Kiệt và chàng tráng sĩ biết là cơ nguy đã đến vội bước ra ngoài giữ thế thủ.

    Đằng kia, bọn lính tuần chợt hiểu là hai người này đã hành hạ quân sĩ nhà Hán! Và như vậy là phạm phép vua nên chúng thét lên, rút binh khí xông vào vây chặt lấy hai người.

    Chàng tráng sĩ chụp vội lấy thanh kiếm của mình đang nằm dưới đất để phòng thân, còn Anh Kiệt quát to lên:

    - Bọn khốn kiếp kia toan giở trò áp bức một cô gái hiền lành, ta là kẻ đi đường thấy chuyện bất bình phải ra tay can thiệp, các ngươi hãy vì lẽ phải mà làm tội chúng đi, cớ sao lại vây bắt bọn ta?

    Nhưng bọn lính không nghe lời chàng. Viên tướng mặc giáp trắng đi đầu lúc nãy vội nói:

    - Đừng nhiều lời! Chúng bây đã phạm phải luật vua thì hãy giơ tay chịu trói. Bằng không, khó tránh khỏi chết.

    Trước những lời nói oai vệ ấy, chàng tráng sĩ không chịu được nữa. Chàng vung kiếm lên để mở vòng vây. Quân lính bên ngoài đổ ập vào, giáo mác dày đặc.

    Anh Kiệt không dừng được nữa đành đưa kiếm lên đỡ gạt khí giới quanh mình và gọi chàng tráng sĩ:

    - Nhân huynh, chúng ta mau rời khỏi nơi này đi thôi.

    Thanh kiếm chàng vung mạnh lên, đánh bật giáo gươm của bọn lính tuần khiến chúng phải lùi lại. Nhưng khi chàng ra trước cửa quán thì một tiếng thét vang lên, lính vẹt ra hết, nhường chỗ cho viên tướng mặc giáp trắng, múa trường côn vùn vụt đập vào đầu Anh Kiệt. Chàng kinh hoàng nhảy lùi lại thì đà côn vụt sát mặt chàng. Anh Kiệt trông thế côn mãnh liệt, biến chuyển mau lẹ thì biết ngay là mình gặp phải một tay bản lãnh cao cường, nên vội né tránh thêm lần nữa.

    Nhưng viên tướng kia sử dụng cây côn rất lẹ làng, vừa đánh hụt đã hoành thân bổ tiếp xuống đầu chàng một côn nữa nhanh chớp nhoáng.

    Không thể tránh kịp, Anh Kiệt phải vung gươm lên gạt mạnh ra. Trường côn dội ngược trở lại khiến tên kia ngạc nhiên nhìn Anh Kiệt, và không ngờ sức chàng mạnh đến thế...

    Anh Kiệt toan đánh trả ngay nhưng giữa lúc ấy chàng tráng sĩ kia bị bọn lính bao vây rất nguy khốn. Chàng đang lo đỡ gạt phía trước mặt thì sau lưng, một tên lính dùng giáo đâm tới rất nhanh.

    Anh Kiệt không dám chần chừ vội thối bộ và đưa kiếm gạt phăng ngọn giáo, rồi phóng chân đá nhào tên lính đó.

    Chàng mở rộng đường kiếm đánh dạt bọn lính để cứu nguy cho chàng tráng sĩ thì tên lính cầm giáo đã ngồi dậy được, tức tối đâm mạnh ngọn giáo vào yết hầu chàng.

    Anh Kiệt khinh thường đưa kiếm chém cụt lưỡi giáo, và chém tạt xuống đầu tên nọ một phát nhanh như gió.

    Chỉ nghe một tiếng rú ghê hồn là tên kia ôm đầu, máu ra có giọt, một lỗ tai của anh ta đứt lìa rơi xuống đất, khiến bọn lính tuần khiếp đảm vì tài nghệ của Anh Kiệt.

    Viên tướng cầm đầu tức giận điên người, xốc tới vung côn vùn vụt áp đảo Anh Kiệt làm cho chàng phải chống đỡ liên hồi. Nhân đó bọn lính mới xông vào vây chàng và tráng sĩ kia khắp bốn phía.

    Anh Kiệt thấy đánh lâu rất có hại cho chàng thanh niên, nên không dám chần chừ nữa, vội kêu lên:

    - Nhân huynh, hãy theo tôi.

    Chàng thay đổi kiếm pháp, thanh gươm theo đà tay mở rộng ra, đánh dạt bọn lính tuần về một phía.

    Chàng tráng sĩ cũng vung kiếm chém như mưa bấc, khiến quân sĩ sợ hãi lùi ra xa. Viên tướng cầm đầu bực tức hét lên. Chúng lại liều chết sấn vào.


    Anh Kiệt cứ lo thầm vì đường côn của viên tướng kia không phải tầm thường, cứ thay đổi thế đánh luôn luôn. Trong giây phút chàng thấy mình bị khốn trong những "Lằn" côn nguy hiểm đó, nên đành phải đem hết tài nghệ ra chống đỡ.

    Giữa lúc ấy, viên tướng kia chuyển đường côn ào ạt xuống đầu chàng tới tấp. Anh Kiệt không tránh nữa, xuống tấn rồi đưa kiếm lên gạt mạnh.

    Đầu côn vừa dội trở lại thì mũi kiếm của Anh Kiệt đã đâm thẳng vào yết hầu đối thủ, khiến viên tướng phải dùng côn bên tay kia chống đỡ nhưng may mắn làm sao Anh Kiệt đã thu gươm về, rồi chém vụt vào hông kẻ địch.

    Viên tướng mặc giáp trắng đổ mồ hôi khắp thân mình. Anh ta quá khiếp sợ, uốn mình nhảy vọt lên tránh thế kiếm độc hiểm đó và quét ngay một côn ngang đầu Anh Kiệt, khi chân anh ta chưa chấm đất.

    Anh Kiệt ghen thầm tài nghệ kẻ địch quá cao, vừa thoát độc thế đã trả đòn liền bắt buộc kẻ địch không tấn công thêm được nữa.

    Còn viên tướng kia cũng khiếp sợ tài Anh Kiệt và thấy cơ nguy cho mình càng thúc bọn lính xông vào trợ giúp.

    Từ lúc giao đấu đến giờ, bọn lính đứng gần đoàn ngựa, tin tưởng nơi tài nghệ của chủ tướng và các bạn nên không vào, bây giờ chúng mới áp tới trợ lực.

    Vòng vây bên ngoài lại thêm chặt chẽ hơn.

    Anh Kiệt vẫn không nao núng. Chàng dùng toàn thế độc, đánh dạt bọn chúng ra, khiến tướng cầm côn vừa sợ, vừa ngạc nhiên.

    Anh ta nhớ đường kiếm của kẻ địch, dường như rất quen với mình. Viên tướng biết mình không thể lầm được, phải rồi những thế kiếm kia trong bài kiếm bí truyền của dòng họ Hoàng! Nhưng tên này là ai mà học được đường kiếm ấy? Anh ta phân vân lắm và lo sợ nghĩ thầm:

    - Thế này thì ta nguy mất, mà sẩy nó thì còn gì là danh dự của ta!

    Đằng kia, Anh Kiệt không dám đánh lâu nữa. Chàng xoay kiếm nhanh như chớp khiến bọn lính và chủ tướng chúng đều hoa cả mắt. Bọn lính tưởng chừng như xung quanh mình có hàng vạn lưỡi kiếm lấp lánh sáng, chực đâm vào mình khiến chúng hoảng sợ lùi trở lại.

    Nhân cơ hội đó, Anh Kiệt vung mạnh kiếm chém đứt lìa mấy lưỡi giáo và phạt mất một đầu côn cửa viên tướng khiến cả bọn quá khiếp mất hết tinh thần.

    Anh Kiệt vội kéo tay chàng tráng sĩ chạy về chỗ buộc ngựa, thét lên:

    - Lên ngựa đi, để chúng đó, mặc tôi.

    Tráng sĩ y lời phóng lên mình ngựa của tên chủ tướng kẻ địch rồi chụp lấy cung tên máng lên hông ngựa quay đầu lại. Tráng sĩ, không chạy vội, lắp tên vào cung nhắm bắn vào bọn lính đang tràn tới. Sau một tiếng rú kinh khủng, một tên ngã lăn ra.

    Tráng sĩ lại lắp tên vào mà bắn tiếp theo khiến cho bọn lính bận đỡ thân mình, không dám sấn tới nữa... Tráng sĩ thắng thế hét to lên:

    - Lùi lại mau, tên nào chần chừ, ta bắn ngay vào cổ họng.

    Thấy chàng bắn không sai một phát nào, bọn lính tuần kinh sợ không dám tràn lên nữa.

    Thừa cơ hội, Anh Kiệt phóng mình lên ngựa ra roi.

    Viên tướng giáp trắng, mất một cây côn không còn bám chặt vào Anh Kiệt như trước, nhưng thấy Anh Kiệt lên ngựa tẩu thoát, anh ta cũng liều nhảy theo...

    Nhưng, người tráng sĩ buông dây cung, một mũi tên bay vào ngực viên tướng, anh ta phải đưa côn lên đỡ và chưa kịp hạ côn, mũi tên thứ nhì đã bay tới... Viên tướng biết mình đỡ không kịp nữa, hét to lên một tiếng, ngã nhào ra phía sau... Mũi tên bay vút qua, ghim thẳng vào yết hầu một tên lính đứng gần đấy.

    Anh Kiệt thầm khen chàng tráng sĩ.

    Chàng vội gọi:

    - Nhân huynh! Chúng ta đi thôi.

    Thanh niên bắn thêm một mũi tên nữa rồi thúc gót chân vào hông tuấn mã, cho phóng tới như bay. Cả hai thẳng đường về phía mặt trời lặn.

    Viên tướng mặc áo giáp trắng, vừa hoàn hồn, đã lồm cồm bò dậy, la hét vang trời:

    - Đuổi theo chúng nó mau lên. Lấy cung tên bắn chết hai đứa cho ta.

    Mấy mươi tên lính được lệnh phóng lên mình ngựa, đuổi theo tức khắc.

    Chạy được một quãng khá xa, Anh Kiệt nhìn lại thấy bọn lính tuần vẫn đuổi theo ráo riết. Chàng toan quay lại cho chúng một trận thì thanh niên đã nói:

    - Ân nhân đừng bận tâm, để chúng mặc đệ.

    Tráng sĩ lắp tên và vẫn cho ngựa phi nước đại chàng bắn ngược trở lại nhiều phát. Mỗi lần chàng quay đầu là một tên lính kêu rú lên ngã gục xuống.

    Bọn lính phía sau, thấy đồng bọn chết quá nhiều, kinh sợ không dám đuổi theo nữa.

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Cổ Am Trong Chùa Vắng

    Đôi ngựa vẫn chạy nhanh vùn vụt xuyên qua bao cánh đồng mênh mông hiu quạnh, giữa buổi chiều tà.

    Thấy đã xa quân địch, Anh Kiệt ghìm cương ngựa, nhảy vụt xuống đất sụp lạy:

    - Cảm tạ ơn cứu tử của ân nhân. Hà Thiệu này xin ghi lòng tạc dạ.

    Anh Kiệt kinh hãi, nhảy xuống ngựa, đỡ chàng thanh niên dậy:

    - Kìa nhân huynh, làm chi quá đáng vậy. Gặp nhau giữa đường là bổn phận của con nhà võ, nhân huynh làm vậy thật đệ xấu hổ vô cùng.

    Chàng thanh niên chưa chịu đứng lên, khiến Anh Kiệt phải tiếp lời:

    - Vả lại, nếu không có tài thần tiễn của nhân huynh thì chắc gì đệ thoát khỏi vòng vây.

    Hà Thiệu từ từ đứng lên nói:

    - Tiểu đệ không ngờ gặp việc rủi hóa may. Nếu không có trận giao đấu vừa rồi làm sao gặp được bậc kỳ tài... Nhưng ân nhân đi về đâu? Chẳng hay cao danh quý tánh là gì?

    Anh Kiệt đã dự định kết giao với Hà Thiệu từ lúc còn ở trong quán, nên càng không ngần ngại đáp:

    - Tiểu đệ tên thật là Anh Kiệt, từ Phiên Ngung định về Hạnh Hoa thôn.

    Chàng chưa kịp dứt lời thì Hà Thiệu đã reo lên:

    - Hạnh Hoa thôn! Hạnh Hoa thôn! Có phải chăng là nơi ẩn dật của hiệp sĩ Vũ Anh Tùng.

    Anh Kiệt sửng sốt hỏi lại:

    - Sao nhân huynh biết người?

    Hà Thiệu nói với tất cả lòng hâm mộ:

    - Tên tuổi của hiệp sĩ vang lừng khắp bốn phương trời, anh hùng trong thiên hạ, ai còn không biết. Sư phụ của tiểu đệ khi xưa là bạn cố giao của Vũ hiệp sĩ.

    Anh Kiệt lộ vẻ vui mừng:

    - Thế à! Hiện tại người đâu? Nhân huynh, có thể cho đệ yết kiến người chăng?

    Hà Thiệu nhìn Anh Kiệt lo ngại:

    - Sư phụ của tiểu đệ đang ẩn dật trong một cổ am gần đây! Bình nhật, người không tiếp ai cả, nhưng đối với ân nhân đệ xin cố gắng. Hơn nữa, trời sắp tối, thế nào ân nhân cũng phải nghỉ qua đêm nay.

    Anh Kiệt vẫn thường mong mỏi được gặp những người bạn cũ của cha chàng để được nghe những lời khuyên bảo mà chàng chắc chắn sẽ có ích cho mình trên đường đời.

    Hôm nay bất ngờ được yết kiến một người ở vùng này, thật là một dịp may hiếm có.

    Hà Thiệu bỗng nói:

    - Thôi chúng ta lên đường, trời đã tối. Không chừng ân nhân sẽ được gặp anh Tiểu Lý Bá ở nhà.

    Hà Thiệu gục gặc đầu như nói với mình.

    - Họa chăng anh Tiểu Lý Bá mới xứng tay đối thủ chứ Hà Minh không sánh bằng.

    Anh Kiệt ngạc nhiên hỏi:

    - Nhân huynh bảo sao? Tiểu Lý Bá là ai vậy?

    Biết mình lỡ lời, Hà Thiệu vội đáp:

    - Dạ không! Anh Tiểu Lý Bá là dưỡng tử của sư phụ tiểu đệ, một tráng sĩ vũ dũng, đa mưu, tài học quán thống thiên hạ. Vừa rồi tiểu đệ trộm nghĩ chỉ có anh Tiểu Lý Bá họa chăng mới đủ tài giao đấu với ân nhân.

    Anh Kiệt vội chống chế:

    - Nhân huynh quá lời! Tài nghệ của đệ có thấm gì với những bậc kỳ tài.

    Hai người cùng giục ngựa đi về phía những vườn cây rậm rạp, giữa lúc bóng đêm cứ lan dần, lan dần...

    Bầu trời không có trăng, nhưng ngàn sao le lói, tỏa sáng lờ mờ, đủ cho Anh Kiệt thấy rõ con đường vào xóm, ngoằn ngoèo dưới những chòm cây dày đặc.

    Hà Thiệu cho ngựa chạy đều đều, trên con đường càng lúc càng nhỏ hẹp hơn.

    Bốn bề vắng lặng, không nghe một tiếng chó sủa, gà kêu... Vườn cây như nối tiếp liền nhau, đến nơi vô tận.

    Xa xa, có tiếng chuông buồn ngân nga làm tăng thêm vẻ cô tịch của khu vườn.

    Hà Thiệu bỗng quay lại bảo bạn:

    - "Ân nhân" có nghe chăng tiếng chuông từ Cổ Am của sư phụ tôi vọng lại?

    Anh Kiệt đột nhiên dừng ngựa và nói với Hà Thiệu với vẻ trách móc:

    - Nhân huynh muốn đưa tôi đến gặp sư phụ hay định đuổi tôi về?

    Hà Thiệu kinh ngạc nhìn người bạn đường trong bóng tối lờ mờ:

    - Kìa ân nhân! Tôi có làm điều gì không phải đâu?

    Anh Kiệt nghiêm nghị đáp:

    - Tại sao nhân huynh gọi tôi là "Ân nhân" mãi vậy khiến tôi xấu hổ lắm!

    Hà Thiệu bật cười:

    - Tráng sĩ thật khó tánh! Nếu vậy tôi xin thưa một điều này, không biết tráng sĩ có đồng ý chăng? Tôi muốn chúng ta kết nghĩa đệ huynh, sống chết có nhau.


    Anh Kiệt vui mừng đáp:

    - Được vậy còn gì hơn nữa!

    Hà Thiệu lại nói:

    - Tráng sĩ cao tuổi hơn, tôi xin nhường làm anh và bắt đầu từ giờ phút này hai ta xem nhau như ruột thịt.

    Anh Kiệt nói một cách chân thành:

    - Tôi là một kẻ mồ côi, không có anh em, chỉ còn có một mẹ già ở Hạnh Hoa thôn. Từ bao lâu rồi, lòng vẫn khát khao được kết nghĩa với những bậc anh hùng trong thiên hạ nhiều tài đức để cùng chung sức giúp đời. Ngày nay được gặp hiền đệ thật tôi mãn nguyện lắm.

    Hà Thiệu cảm động, khẽ đáp:

    - Hiền huynh chớ lo. Người trên đường đời, rồi đây chúng ta sẽ còn gặp nhiều đồng chí hướng. Lát nữa đây, không chừng hiền huynh gặp anh Tiểu Lý Bá và chúng ta sẽ cùng kết nghĩa với nhau.

    Rồi như sực nhớ điều gì. Hà Thiệu dặn dò:

    - Anh Tiểu Lý Bá là người cương trực, thẳng thắn. Anh rất ghét những kẻ không thật lòng. Hiền huynh chớ nên dè dặt điều gì cả, lỡ anh ấy hiểu lầm thì khó mà kết thân với nhau được.

    Hà Thiệu lại nói thêm:

    - Người dù tài giỏi đến đâu cũng phải có tật, hoặc ít hoặc nhiều phải không hiền huynh?

    Anh Kiệt mỉm cười trong bóng đêm:

    - Hiền đệ chớ lo! Anh rất ưa thích những người tánh tình khẳng khái như vậy.

    Hà Thiệu chợt nhìn lên ngôi sao hôm, rồi thúc ngựa lên đường.

    Tiếng chuông từ Cổ Am đã vắng bặt từ bao giờ. Gió đêm rì rào qua muôn kẽ lá như tiếng thì thầm của vườn cây, nội cỏ.

    Hai người rẽ sang tay phải, đến một con rạch nhỏ.

    Anh Kiệt nhìn thấy không có cầu ngang chưa biết phải qua sông bằng cách nào thì Hà Thiệu đã cho ngựa lội xuống nước... Rạch cạn, nuớc chỉ lấp xấp dưới chân ngựa nên cả hai đi qua rất dễ dàng.

    Vừa lên đến bờ, Anh Kiệt đã thấy trước mặt có ánh đèn và trong gió đêm, chàng ngửi thấy mùi trầm hương thoang thoảng. Hai người cho ngựa qua khỏi những đống gạch vụn trước sân thì đến cửa.

    Tiếng mõ tụng kinh từ bên trong vọng ra đều đều rồi lơi dần và im bặt.

    Hà Thiệu đưa tay đẩy cánh cửa am. Hơi ấm lùa ra quấn lấy hai người, xua đi khí lạnh ở bên ngoài. Anh Kiệt cảm thấy trong lòng khoan khoái dễ chịu vô cùng.

    Ánh sáng của ngọn đèn treo trên vách tỏa khắp gian phòng trống trải, giống như một nơi dùng để luyện võ. Những món binh khí để sát góc phòng làm cho Anh Kiệt chắc chắn ý nghĩ của mình hơn. Một điểm nghi ngờ thoáng hiện ra trong óc chàng. Sư phụ của Hà Thiệu có quả là một bậc chân tu không? Hay là người đội lốt nhà sư, mượn cửa thiền để làm việc lớn?

    Hà Thiệu bỗng ghé vào tai chàng bảo nhỏ:

    - Nơi đây, sư phụ dùng để dạy môn đệ luyện tập võ nghệ!


    Hà Thiệu lại đưa Anh Kiệt qua một cửa nhỏ ăn thông ra phía nhà sau. Cả hai cùng dừng lại khi thấy trước mặt một nhà sư vạm vỡ đang ngồi tham thiền trước bàn Phật.

    Hà Thiệu lại nói:

    - Sư phụ đã nhập định. Giờ tụng kinh sắp dứt, chúng ta vào quỳ để đợi lệnh người. Anh Kiệt theo bạn vào quỳ trước bàn Phật, lòng vẫn chưa hết phân vân.

    Bỗng chàng giật mình kinh ngạc khi nghe nhà sư cất tiếng:

    - Hà Thiệu đấy à? Con đến với ai vậy?

    Câu hỏi của nhà sư làm cho Anh Kiệt hiểu rằng ông là một bậc kỳ tài: Ngồi tham thiền mà đoán được bước chân đi...

    Hà Thiệu vội đáp:

    - Bạch thầy! Con đưa vị ân nhân vào ra mắt. Người vừa cứu con khỏi bọn lính Tàu.

    Nhà sư từ từ quay lại.

    Anh Kiệt sụp xuống thi lễ:

    - Bạch sư cụ! Tiểu sinh từ phương xa đến đây, đường đột vào làm rộn, xin sư cụ miễn chấp.

    Nhà sư biết gặp người hiền, nên đỡ Anh Kiệt đứng lên:

    - Tráng sĩ đừng làm vậy! Tráng sĩ cứu mạng đệ tử của bần tăng thì chính bần tăng đã mang ơn rất nặng rồi.

    Anh Kiệt thưa:

    - Xin sư cụ chớ nghĩ đến điều đó.

    Nhà sư bỗng hỏi Hà Thiệu:

    - Quan Tàu đã làm gì đến đỗi đệ tử phải gây sự. Ta đã cấm đệ tử không được giao đấu kia mà!

    Hà Thiệu cúi đầu nhận lỗi. Một lúc sau chàng đáp:

    - Bạch thầy! Chúng hà hiếp người cô thế nên con không chịu được. Vả lại con tưởng bệnh đã hết, nào ngờ đánh với chúng không đầy mười hiệp đã ngất lịm đi.

    Nhà sư chậm rãi nói:

    - Cũng thật là may! Nếu không gặp tráng sĩ đây thì con đã bỏ mạng rồi, dù ta có hay tin cũng trễ. Phải chi ta cho Tiểu Lý Bá cùng đi với con thì mọi việc đều yên.

    Nhà sư nhìn Anh Kiệt với đôi mắt hiền từ cảm mến. Ông chỉ tay sang bên cạnh nói:

    - Mời tráng sĩ sang phòng bên. Chúng ta cùng dùng trà để đàm đạo cho vui.

    Anh Kiệt nhường bước cho sư cụ rồi cùng Hà Thiệu theo sau.

    Gian phòng bày trí rất đơn sơ mộc mạc biểu lộ tâm hồn giản dị của chủ nhân. Ngoài chiếc gương kê ở góc phòng, bên mặt là một án thư, bên trái là một chiếc bàn con để uống trà... Trên vách một chiếc đàn tỳ bà treo giữa hai ống tiêu nhaÜn bóng, như gián tiếp giới thiệu chủ nhân là một tay giỏi cầm ca.

    Thấy Anh Kiệt cứ chăm chú nhìn chiếc đàn tỳ bà, nhà sư mỉm cười:

    - Đàn ấy không phải của bần tăng đâu? Nó là của một người bạn đã qua đời...

    Nhà sư im lặng một phút, mơ màng nhớ thời xa xưa, tiếp lời:

    - Buổi thiếu thời bần tăng là một kẻ giang hồ, lưu lạc khắp bốn phương trời. Gặp người bạn kia trong lúc giao tranh với bọn cường đạo ở núi Nghiêm Trang, huyện Vụ Bản rồi mến nhau kết nghĩa đệ huynh. Người ấy, thường hay ngồi trên mình ngựa, khảy đàn tỳ trong những chiều xa xứ... Khi chia tay nhau người trao tặng chiếc đàn này nên bần tăng giữ mãi bên mình, thấy nó như thấy bạn hiền... Bây giờ thì người ấy đã về chầu đức Phật.

    Hà Thiệu rụt rè nói:

    - Bạch thầy! Tráng sĩ đây là người ở Hạnh Hoa thôn.

    Đôi mắt nhà sư vụt sáng lên biểu lộ sự ngạc nhiên:

    - Tráng sĩ ở Hạnh Hoa thôn chắc biết rõ hiệp sĩ Vũ Anh Tùng! Đàn tỳ bà kia là người đó.

    Anh Kiệt bỗng quỳ xuống lạy nhà sư giữa sự ngạc nhiên của người và Hà Thiệu.

    - Cháu kính chào thúc phụ! Cha cháu chính thật là Vũ Anh Tùng.

    Nhà sư vụt đứng lên nắm chặt lấy vai chàng:

    - Ồ; kìa! Vũ Anh Kiệt đây ư?

    Rồi người nghẹn ngào không nói lên lời, trong lúc Hà Thiệu bước tới, bước lui, bồn chồn, vui thích.

    Một lúc chừng như bớt cảm xúc, nhà sư nói:

    - Khi hay tin cha cháu mất ta tìm đến Hạnh Hoa thôn thì đã quá trễ rồi. Mẹ cháu có bảo rằng quan Đề đốc hộ thành Hoàng Quốc Kính mang cháu về Phiên Ngung học tập đúng như lời trăn trối của Vũ huynh. Ta rất yên lòng vì Quốc Kính là người bạn tốt đầy đủ tài đức dìu dắt cháu trên đường đời. Ta về ẩn dật nơi đây, nhưng vẫn hằng nhớ đến cháu. Hôm nay sao cháu lạc bước đến chốn này?

    Anh Kiệt khẽ đáp:

    - Thưa thúc phụ! Hoàng Đề đốc vừa cho phép cháu về Hạnh Hoa thôn thăm mẹ, vì đã hơn sáu năm rồi, mẹ con không được gặp nhau.

    Nhà sư mỉm cười:

    - Quốc Kính tệ thi thôi! Chắc là Vũ hiền tẩu buồn phiền lắm!

    Hà Thiệu bỗng bước đến nắm chặt tay Anh Kiệt:

    - Trời! Vũ huynh! Từ lúc chiều đến giờ sao không nói rõ tung tích cho tiểu đệ kịp mừng?

    Nhà sư trách khéo Hà Thiệu như để khuyên răn:

    - Nếu ở vào địa vị của đệ tử, chắc đệ tử đã thú nhận mình là con của hiệp sĩ Vũ Anh Tùng để mọi người khiếp sợ chứ gì?


    Hà Thiệu cụt hứng, lấm lét nhìn sư phụ.

    Nhà sư bảo thêm:

    - Đi đường xa, luôn luôn ta cần phải dè dặt cho lắm! Không mỗi một chút, mỗi xưng danh tánh. Bọn gian biết ta là con giòng, cháu giống thì chúng càng để ý và tìm cách hãm hại ngay. Đệ tử chưa cứu giúp được người đời thì đã mang họa vào thân. Thái độ của Vũ hiền điệt vừa qua đáng là một bài học cho đệ tử ghi nhớ.

    Hà Thiệu cung kính đáp:

    - Bạch thầy, con đã hiểu.

    Nhà sư bỗng nói với Hà Thiệu:

    - Chắc Anh Kiệt chưa dùng cơm, đệ tử hãy vào nhà trai lo lắng thay cho thầy. Tiểu Lý Bá đi vào núi chưa về kịp.

    Hà Thiệu vâng dạ lui ra cánh cửa bên trái ăn thông qua phía sau vườn.

    Nhà sư quay nhìn Anh Kiệt rồi từ từ cất tiếng:

    - Ta cũng biết cháu nóng lòng về thăm mẫu thân cháu. Nhưng không biết nhau thì thôi, nay đã gặp nhau rồi, ta muốn cháu ở lại Cổ Am vài ngày để ta biết qua nghề văn, nghiệp võ. Biết đâu ta sẽ giúp ích cho cháu phần nào để khỏi phụ lòng Vũ huynh. Nếu rủi mai kia trên đường đời, cháu thất bại vì những cái mà bọn ta đã trải qua, thì đáng trách biết chừng nào!

    Anh Kiệt nín lặng, lòng chàng hết sức phân vân.

    Thật ra, chàng rất nôn nao về thăm mẹ, nhưng trước những lời nói chân thành và hữu lý của nhà sư, chàng thấy mình khó cưỡng lại được.

    Tất cả những hiệp sĩ bạn thân của cha chàng đều cùng chung một ý nghĩ: Họ muốn truyền dạy cho Anh Kiệt đầy đủ kiếm pháp, võ nghệ cũng như cách đối nhân xử thế, để cho chàng thành công trên đường đời. Chẳng riêng gì Hoàng Đề đốc hay nhà sư mà Anh Kiệt dư biết rằng những người bạn của cha mà chàng sẽ gặp sau này, đều muốn giúp chàng nên người hữu dụng.

    Lúc nhỏ, mẹ chàng thường kể lại khi hạ sinh chàng, các tay hiệp sĩ có tụ họp ở Hạnh Hoa thôn để chúc mừng cha chàng. Người nào cũng dành được quyền dạy dỗ Anh Kiệt nên sau cùng cha chàng đã nói:

    - "Tôi xin trao quyền dạy dỗ đứa trẻ này cho tất cả mọi người có mặt nơi đây, trong bất cứ trường hợp nào, gặp lại nó trên đường đời".

    Do câu nói ấy mà ngày nay Anh Kiệt đành nén lòng nhớ mẹ ở lại thôn Cao Đồng. Chàng chưa kịp đáp thì nhà sư đã hỏi:

    - Thế nào! Cháu có nghe lời ta nói không?

    Anh Kiệt vội vã đáp:

    - Kính thưa thúc phụ, cháu xin vâng ạ!

    Nhà sư vui mừng đứng dậy bảo:

    - Các con đừng khách sáo nữa. Anh hùng trong bốn bể đồng thanh, đồng chí là anh em, huống chi các con cùng môn phái. Nay may mắn hội ngộ với nhau thì phải có chén rượu mừng nhau gọi là lễ ra mắt mới đúng phép.

    Anh Kiệt nói:

    - Thúc phụ dạy chí phải!

    Tiểu Lý Bá cũng mỉm cười nói:

    - Chúng con cũng ra mắt Anh Kiệt hiền huynh.

    Anh Kiệt khiêm nhượng nói:

    - Ngự đệ được hầu thúc phụ và nhị vị đại huynh đã là may mắn lắm rồi, có đâu dám nhận mình vào hàng môn khách.

    Một lúc sau bàn tiệc được bày ra dưới ánh trăng khuya.

    Nhà sư và ba đồ đệ cùng Anh Kiệt ngồi quanh vừa uống rượu vừa bàn thế sự.

    Hà Thiệu thuật lại chuyện vừa qua của mình và Anh Kiệt cho Hà Minh, Tiểu Lý Bá nghe khiến hai người đều bực tức không có mặt để cho lũ khốn kiếp đó một trận.

    Riêng Anh Kiệt lòng nghĩ miên man không dứt. Chàng bước ra đời đã gặp những tay tài giỏi, thế mới biết trong thiên hạ thiếu gì kẻ anh hùng hào kiệt.

    Hà Thiệu đã giỏi kiếm cung mà Hà Minh còn giỏi hơn em gấp bội, đến Tiểu Lý Bá thì là bậc phi thường, tài ba xuất chúng. Mọi người đều ca tụng tài năng của chàng thật không quá đáng.

    Trông Tiểu Lý Bá có vẻ là một văn nhân tao nhã nhưng sức chàng khỏe lạ lùng, khiến Anh Kiệt khiếp phục và nhận người ấy còn hơn mình một bậc.

    Lúc chiều, Anh Kiệt đã nghe Hà Thiệu nói Tiểu Lý Bá là tay mưu trí, thần quỷ khôn lường, tài năng xuất chúng, đúng là người tế thế an nhân bang, nhưng chàng muốn chính mình gợi chuyện để dò xét xem thực hư.

    Anh Kiệt khởi bàn qua nghề văn, nghiệp võ, đến đâu Tiểu Lý Bá cũng đều thông suốt làu làu như nằm trong trí.

    Nhà sư bỗng đứng dậy, lui về phòng riêng, để cho các tráng sĩ được tự do bàn bạc.

    Ông đã già rồi, thuộc vào lớp cũ nên chỉ giúp đỡ con, cháu khi nào chúng hỏi đến mình.

    Đợi cho nhà sư đi khuất, cả bọn lại quây quần bên tiệc rượu tiếp tục câu chuyện.

    Anh Kiệt lại hỏi Tiểu Lý Bá về chuyện trong nước:

    - Lý huynh nghĩ sao về vận nước ta ngày nay?

    - Nước ta rồi sẽ có ngày loạn lạc. Hiện nay, ngoại bang đang dòm ngó, mình có khác chi "Trứng để đầu miệng rắn"! Nếu không chuyển được tình thế này, chúng ta đành làm tôi mọi cho Hán triều.

    Anh Kiệt sửng sốt:

    - Tình thế ra sao mà Lý huynh nói vậy?

    Hà Thiệu nhanh nhẩu đáp thay cho Tiểu Lý Bá:

    - Vũ huynh không thấy bọn bộ tướng sứ giả Hán triều hống hách khắp cùng nơi, xem mạng dân lành như cỏ rác. Chúng giết người mà không bị làm tội, dân mình không có loạn lên ư?

    Tiểu Lý Bá nhìn Hà Thiệu mỉm cười:

    - Cuộc diện không như em tưởng mà còn nhiều nguyên do sâu xa khác. Chúng ta là những kẻ đã thề liều chết vì dân vì nước thì trước bất cứ việc gì cũng phải nêu ra câu hỏi: "Tại sao? Tại sao?" để tìm ra sự thật!

    Chàng ngừng lại một chút rồi nói:

    - Bây giờ anh hỏi em tại sao bộ tướng Tàu hống hách với dân lành?

    - Vì dân yếu hèn không khí giới!

    - Đúng! Nhưng tại sao quân triều đình lại dung dưỡng cho chúng làm vậy?

    - Đó là lệnh của Ai Vương!

    - Đúng nữa! Nhưng vì lẽ gì Ai Vương ra lệnh ấy?

    Hà Thiệu lúng túng không đáp được:

    Tiểu Lý Bá cả cười:

    - Em thấy chưa? Hiểu cuộc diện nước nhà không thấu đáo thì làm sao giúp đời để tế thế an bang! Ai Vương ra lệnh vì nhà vua còn nhỏ dại, không biết gì, nên Cù Thái Hậu mới chuyên quyền...

    Giọng nói của chàng càng buồn bã hơn trước:

    - Cứ phăng lần theo đầu mối, chúng ta mới thấy điều điếm nhục cho đất nước, tổ tiên vì một tay Cù thị. Tất cả sự chuyên quyền của người đàn bà ấy đều nằm trong kế hoạch cướp nước của tên sứ giả Hán triều An Quốc Thiếu Quý mà ta đã dò biết chắc chắn ngày xưa hắn là tình nhân của Cù Thái Hậu.

    Hà Thiệu buột miệng kêu lên:

    - Trời! Có thật vậy sao đại huynh?

    Anh Kiệt thầm phục tài Tiểu Lý Bá. Chàng ẩn mình nơi chốn Cổ Am này, không bao giờ đặt chân đến Phiên Ngung mà có thể hiểu được tất cả những chuyện trong nội điện.

    Chàng tìm cách nói khích để khích tài bạn:

    - Đại huynh có thể lầm lẫn chăng?

    Tiểu Lý Bá mặt vẫn điềm nhiên, không đổi sắc, nhìn Anh Kiệt rồi nói:

    - Vũ huynh ở tại kinh thành há không rõ sự thế xảy ra thế nào sao? Vũ huynh chắc biết ngày nay Cù thị và An Quốc Thiếu Quý vẫn tư thông với nhau như chỗ không người, làm những chuyện dâm bôn để lăng nhục triều thần, tôn miếu. Quyền vua sụp đổ, làm thế nào để trăm họ khỏi lầm than.

    Hà Minh và Hà Thiệu đều tức giận thét lên:

    - Thật là điếm nhục! Điếm nhục!

    Cả hai cùng hỏi Tiểu Lý Bá:

    - Chúng ta đành bó tay nhìn đất nước rơi lần vào tay nhà Hán ư?

    Tiểu Lý Bá chậm rãi đáp:

    - Việc gì cũng phải có thời cơ! Vả lại không chỉ mình bọn ta là biết đau lòng trước cơn quốc biến mà còn biết bao anh hùng ẩn nhẫn đợi thời. Trong triều còn bao vị trung thần mưu toan việc lớn thì lo gì không diệt được lũ gian. Nhưng mà...

    Tiểu Lý Bá ngập ngừng không nói hết câu làm cho mọi người tò mò, chú ý...


    Hà Thiệu hỏi:

    - Nhưng... Làm sao đại huynh?

    Tiểu Lý Bá thở dài:

    - Nhưng thời cơ có lẽ đến rồi! Nếu các vị lão quan không hành động, ta sợ sẽ không còn kịp nữa!

    Anh Kiệt khiếp phục tài quán thông của Lý Bá, nhưng cũng sửng sốt trước lời nói ấy.

    - Đại huynh, nói thế có ý gì?

    - Quân nhà Hán sắp chiếm nước ta phải không? Hà Minh hỏi tiếp theo.

    Tiểu Lý Bá từ từ đáp:

    - Cũng gần như thế! Quân nhà Hán dưới quyền Cù Lạc vừa vượt biên giới nước ta! Vì Cù Lạc là em Cù Thái Hậu nên quân triều chịu lép cho vào!

    Anh Kiệt cùng hai tráng sĩ họ Hà kinh ngạc thét lên:

    - Trời ơi! Thế thì...

    Tiểu Lý Bá trấn an lòng các bạn:

    - Tuy vậy không sao! Chúng chưa dám đương nhiên cướp lấy nước ta, mà chỉ muốn đe dọa triều thần sợ hãi đó thôi!

    Anh Kiệt lẩm bẩm:

    - Đe dọa triều thần? Các quan còn ai giám chống lại sự có mặt của sứ giả Tàu nữa mà đe dọa? Lệnh vua truyền ra họ thi hành tức khắc.

    Tiểu Lý Bá nói:

    - Vũ huynh đừng lấy làm lạ. Chúng đã bắt đầu nhận thấy sự uất ức ngấm ngầm trong triều nội, nên vội phòng xa đó.

    Hà Thiệu bỗng hỏi:

    - Đại huynh được tin từ bao giờ! Hiện tại chúng đã đến Phiên Ngung chưa?

    - Anh em Hiệp và Hoài, từ biên giới trở về lúc chiều. Chắc chúng chưa đến kịp kinh thành.

    Tiểu Lý Bá ngừng lại một phút rồi tiếp:

    - Nhưng chuyện đó không đáng lo ngại vì chắc chắn chúng không dám dùng binh lính để đánh cướp nước ta. Chúng muốn tránh đổ máu và thôn tính nước ta một cách êm thắm, không phải tốn hao một tên lính nào!

    An Quốc Thiếu Quý và Cù thị đã dùng lời ngon ngọt, dùng quyền lực để bắt ép các quan trong triều theo chúng. Hiện nay, hầu hết bọn nội giám là dư đảng của Thái Hậu. Ngày đêm chúng làm sáo trộn nội cung, bắt người này, giết kẻ kia, gây sự khiếp đảm trong lòng người, để theo chúng dễ dàng. Tuy nhiên, còn một số đông các lão quan và các vị công tử ngấm ngầm chống lại. Thái Hậu sợ địa vị mình lung lay mới nhờ Hán triều cho Cù Lạc kéo quân sang làm áp lực. Nếu các quan khiếp sợ, bè đãng rã tan thì chúng mặc tình làm mưa, làm gió ở kinh thành. Điều nguy cơ thấy rõ là các quan trong triều chưa đồng tâm hiệp lực lắm, không thúc đẩy các ông thì sớm muộn gì cũng theo chúng hay bị giết hết mà thôi.

    Anh Kiệt bất giác nghĩ đến Đề đốc Hoàng Quốc Kính! Chàng chắc chắn rằng thúc phụ của mình thà chết chứ không bao giờ chịu nhục! Rồi Lệ Hồng sẽ ra sao?

    Bỗng dưng, chàng nghĩ rằng mình không nên rời bỏ Phiên Ngung trong lúc này. Giữa khi nguy cấp, cần có mặt chàng để giúp đỡ Hoàng Đề đốc một tay, chống kẻ thù.

    Chàng đứng lên nói với Tiểu Lý Bá:

    - Thưa đại huynh! Tiểu đệ xin tình nguyện trở lại Phiên Ngung để báo tin này, và thúc giục các lão quan lo kế chống giặc.

    Tiểu Lý Bá nhìn Anh Kiệt có vẻ ái ngại:

    - Đệ đã nghĩ đến việc đó! Nhưng xét kỹ Vũ huynh nên về Hạnh Hoa thôn thăm thúc mẫu, để người trông ngóng ngày đêm, Vũ huynh không xót dạ ư?

    Anh Kiệt thừ người ra buồn bã, nhưng mạnh dạn đáp:

    - Vận nước đang gặp hồi nguy hiểm! Chắc mẹ tôi hiểu mà tha thứ cho...

    Hà Minh và Hà Thiệu đều nhìn Anh Kiệt với đôi mắt cảm phục.

    Tiểu Lý Bá suy nghĩ giây lâu rồi nói:

    - Vũ huynh khỏi bận tâm, cứ yên lòng về Hạnh Hoa thôn. Đệ và Hà Minh sẽ thay Vũ huynh đến Phiên Ngung liền ngay bây giờ để báo tin chẳng lành. Đệ cũng cần đến Phiên Ngung liền bây giờ để thấu đáo tình hình hơn.

    Anh Kiệt cúi đầu nói:

    - Đệ xin cảm tạ ơn đại huynh. Đệ về Hạnh Hoa thôn trong vài hôm, sẽ trở ra ngay.

    Tiểu Lý Bá khoát tay:

    - Không cần hấp tấp như vậy! Vũ huynh cứ thư thả, vì rồi đây chúng ta sẽ còn bận rộn nhiều biết đâu không còn có dịp về thăm. Vũ huynh cứ ở Hạnh Hoa thôn, bao giờ cần đến, đệ sẽ cho người báo tin. Bây giờ Vũ huynh nên cho đệ một là thư làm bằng, để ra mắt Hoàng thúc phụ.

    Hà Thiệu bỗng đứng lên xin với Tiểu Lý Bá:

    - Đại huynh nên cho đệ theo với!

    Tiểu Lý Bá lắc đầu:

    - Không nên! Việc này cần kíp và vô cùng nguy hiểm. Phải đủ mưu mô qua mắt kẻ thù, để khỏi liên lụy đến các lão quan. Nếu sơ hở một chút, họ sẽ bị hại ngay. Hiền đệ còn đang bệnh, ta không dám phiền...

    Hà Thiệu ngồi xuống ghế vẻ mặt dàu dàu, khiến Tiểu Lý Bá phải nói tiếp:

    - Hiền đệ ở lại Cổ Am chăm sóc thúc phụ thay ta và ráng uống thuốc cho mau lành bệnh. Rồi đây chắc chắn hiền đệ phải dùng cái tài "Thần tiễn" của mình để đánh đuổi quân cướp nước. Ta cùng Hà Minh chỉ đi trong vòng vài hôm sẽ trở về ngay.

    Hà Thiệu nhìn lên khẽ nói:

    - Đại huynh yên lòng ra đi. Việc nhà đã có đệ chăm lo.

    Anh Kiệt cũng bước vội vào phòng lấy giấy mực thảo một lá thơ dài cho Hoàng Đề đốc nói rõ tình hình và giới thiệu Tiểu Lý Bá.

    Giữa lúc ấy cả hai người đang chuẩn bị hành trang để lên đường kịp khi trời vừa sáng.

    To Be Continued

  • ngoc phu

    May 27th 2012, 4:40 am
  • thangbe21 wrote:Lửa Cháy Phiên Ngung Thành

    I. Đường Kiếm Họ Hoàng
    II. Máu Nhuộm Đường Về
    III. Cổ Am Trong Chùa Vắng
    IV. Đêm Hội Hoa Đăng
    V. Cơn Nguy Trong Triều Nội
    VI. Tan Nát Gia Đình
    VII. Người Thiếu Nữ Hạnh Hoa Thôn
    VIII. Đường Lên Núi Sơn Nhai
    IX. Tạ Liên Hồng Xuất Hiện
    X. Chống Giữ Hạnh Hoa Thôn

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 27th 2012, 11:27 am
  • cái này là truyện hay lịch sử ta Shock


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group