Anh hùng Lĩnh Nam, Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

  • hann_80

    khoảng 2 10 năm trước
  • Hồi 1

    Trời nắng thu, gió heo may rít từng cơn, rừng thông trên đồi vi vu như tiếng ai oán của dân Việt mất nước. Trên bãi biển Ngọc Đường, một người đàn ông tuổi khoảng 50, lưng đeo bảo kiếm, tay dắt đứa trẻ, thả bước ngắm cảnh. Dân chài đang tụ tập làm việc, người vá lưới, kẻ giặt lưới. Thấy cha con người đàn ông, họ lễ phép đứng dậy chào hỏi. Mỗi lần như vậy cha con phải ngừng lại đáp lễ. Một lão già đang vá lưới đứng dậy chắp tay hỏi:
    - Đào hầu hôm nay thư thả ra đây ngắm cảnh?
    Người đàn ông chậm rãi trả lời:
    - Khi trong lòng đau đớn, còn cảnh nào đẹp nữa? Khi nước đã mất, còn dạ nào dạo chơi?
    Đứa trẻ đi cạnh ngước mắt nhìn cha:
    - Bố ơi, nước mình đã mất đâu? Bố con ta chả đang sống trên đất nước mình đây sao?
    Đào hầu không trả lời, dắt con ngược lên đồi thông. Tới một mỏm đá, ông kéo con ngồi xuống, chỉ hòn đảo cách bờ không xa hỏi:
    - Con biết hòn đảo kia tên gì không?
    Đứa trẻ trả lời:
    - Đó là đảo Nghi Sơn, dài 4 dặm, rộng 2 dặm, từ đây ra khoảng 150 trượng. Trên đảo có Biện sơn, có đền thờ Mỵ Châu. Bãi biển Nghi Sơn nhiều ngọc trai nhưng đều bị ố mờ.
    Đào hầu ngạc nhiên:
    - Ai đã dẫn con đi chơi đảo Nghi Sơn?
    Đứa trẻ cười nắc nẻ, giật tay cha:
    - Thưa bố, anh Đào Nghi Sơn.
    Đào hầu gật đầu, trầm tư nhìn những lớp sóng từ biển cuốn vào bờ, thở dài.
    Đào hầu tên Đào Thế Kiệt, là một trong chín Lạc hầu Cửu Chân. Ông có ba con trai, con lớn Đào Nghi Sơn, con thứ Đào Biện Sơn, đã trưởng thành. Con thứ ba Đào Kỳ mới 13 tuổi, ông thấy còn nhỏ nên chưa cho biết những điều hệ trọng của đất nước, vì vậy trên bãi biển nghe con hỏi liên quan đến đại vận dân tộc, ông không trả lời.
    Tổ tiên Đào hầu là một trong chín vị tướng của Thục An Dương vương. Khi Triệu Đà cất quân sang đánh, An Dương vương thua trận chạy đến đây thì khám phá ra Mỵ Châu làm mất nước bởi ngây thơ dại dột trong tình yêu. Ngài giết con gái tạ tội thiên hạ rồi nói với các tướng sĩ:
    - Ta sinh con không biết dạy đến nổi hư việc nước. Ta không còn mặt mũi nào nhìn quốc dân nữa, xin tự xử bằng cái chết. Sau khi ta chết rồi, các người hãy chịu nhục ẩn nhẫn theo gương Câu Tiễn nằm gai nếm mật, giúp người già, dạy trẻ thơ, mai này khôi phục giang sơn.
    Nói rồi An Dương vương nhảy xuống biển tự tử. Tổ tiên Đào hầu cùng binh sĩ khai phá đất hoang đốt rừng làm rẫy lập ra Đào trang, đến nay đã bảy đời. Lúc trước dân ở đây phiêu bạt sống rải rác khắp nơi, chín vị tướng Thục chia nhau mỗi người một vùng tụ tập họ lại dạy họ trồng cây chăn nuôi, giúp họ cất nhà đóng thuyền làm lưới đánh cá. Dân chúng cảm phục tôn thành chín vị Lạc hầu.
    Thời bấy giờ, người Hán cai trị đất Việt nhưng mỗi vùng vẫn để một vị Lạc hầu hay Lạc tướng nắm quyền điều động dân trong ấp, còn người Hán chỉ việc kiểm soát các Lạc hầu, Lạc tướng mà thôi.
    Quận Cửu Chân có một thái thú cai trị. Dưới thái thú có một đô úy coi về quân sự, một đô sát coi về an ninh. Quận Cửu Chân chia làm bốn huyện, mỗi huyện có một huyện lệnh coi chung, một huyện úy coi về quân sự, một giám sở tế tác coi về an ninh.
    Sau 100 năm, các Lạc hầu họp nhau lập ra Cửu Chân phái, thành ra ở Cửu Chân chỉ một phái võ nhưng có tới chín trang ấp khác nhau. Từ khi thành lập đến giờ trải gần 100 năm nữa, phái Cửu Chân lấy việc phản Hán phục Việt làm phương châm hoạt động. Các tôn sư của phái trọng nghĩa khinh tài nên được anh hùng khắp vùng Lĩnh Nam như Nam Hải, Quế Lâm, Giao Chỉ, Nhật Nam, Tượng Quận kính phục.
    Tuy phái Cửu Chân ý đồ lớn vậy nhưng vẫn giữ kín được, nên Đào hầu khi thấy Đào Kỳ biết tường tận về đảo Nghi Sơn, ông tưởng con đã biết bí mật mới vặn hỏi. Không ngờ Đào Kỳ chỉ nghĩ đảo là thắng cảnh địa phương, không biết gì hơn.
    Hai hòn núi trên đảo trước đây chưa có tên, một lần Đào hầu cùng phu nhân ngoạn sơn hứng gió mới đặt tên là Nghi sơn và Biện sơn, sau đó lấy tên núi gọi luôn hai đứa con đầu.
    Thấy Đào Kỳ mới 13 tuổi đã khôn ngoan, Đào hầu muốn cho con biết những điều hệ trọng. Ông chọn cách gây sự tò mò của con hơn là nói thẳng ra. Ông hỏi:
    - Con đã học được bao nhiêu sách rồi?
    Đào Kỳ chìa bàn tay ra tính:
    - Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử. Tứ thư con học hết rồi. Ngũ kinh thì con đã học kinh Thi, Thư, Xuân thu, đang học kinh Dịch. Thầy bảo tháng sau con sẽ học Hàn Phi tử.
    Đào hầu hướng mặt nhìn ra xa:
    - Người Hán coi các dân tộc khác như thú vật, như man mọi. Họ gọi chúng ta là rợ Việt, là Nam man, là rợ Giao Chỉ. Chúng ta có quốc tổ Hùng vương mà không được thờ, phải thờ Hoàng Đế, Chu công, Văn vương, lại còn phải thờ cái gã nhà quê Lưu Bang tức Cao tổ nhà Tây Hán . Người Hán coi chúng ta như trâu chó, muốn giết thì giết, muốn bỏ tù thì bỏ. Tại sao chúng ta lại phải cúi đầu chịu nhục như vậy?
    Đào Kỳ như thức tỉnh:
    - Vì người Hán có gươm đao, có sức mạnh. Vì người Hán đông, người Việt ít.
    Đào hầu gật đầu:
    - Chúng ta cũng có gươm đao, có sức mạnh. Nhưng chúng ta thiếu hai thứ, một là sự hợp quần, hai là lòng can đảm. Nếu chúng ta được hai thứ đó thì có thể đuổi người Hán ra khỏi đất nước này. Bởi vậy hôm nay bố đưa con lên đây để dạy con mấy bài học.
    Đứa trẻ mở to mắt reo lên:
    - Bố ơi, con học xong Cửu Chân trượng pháp rồi. Hôm nay bố dạy con võ mới hả?
    Đào hầu lắc đầu:
    - Võ lúc nào học chẳng được. Con đã 13 tuổi rồi, bố phải dạy con bài học quan trọng hơn. Nếu không có bài học này thì con đọc hàng nghìn cuốn sách, học hết võ công trong thiên hạ cũng vô ích mà thôi. Đó là bài học để biết sử dụng những kiến thức trong sách vở, những chiêu thức võ học của thiên hạ.
    Đào Kỳ hỏi lại:
    - Bố ơi, con biết sử dụng Cửu Chân trượng pháp, Cửu Chân cầm nã thủ, Cửu Chân chưởng pháp và Cửu Chân kiếm pháp rồi. Có khó gì đâu?
    Đào Kỳ mượn kiếm của cha, làm lễ rồi múa như mây bay gió cuốn. Hết bài, nó tra kiếm vào vỏ, ngồi xuống. Đào hầu vẫn mơ màng nhìn ra biển:
    - Con biết sử dụng kiếm, nhưng dùng nó để làm gì? Giúp ích cho ai?
    Đào Kỳ suy nghĩ một lúc rồi chau mày muốn nói, song lại lắc đầu lộ vẻ không hiểu. Đào hầu vuốt tóc con:
    - Bố có ba con trai thì con ngộ tính cao nhất, hy vọng con sẽ thực hiện được cái chí của bố. Nên hôm nay bố đưa con lên đây để dạy dỗ các điều quan trọng giúp con sớm biết sử dụng những gì đã học.
    Ngừng một lát Đào hầu tiếp:
    - Chúng ta dòng giống Bách Việt ở phía nam núi Ngũ Lĩnh, tổ tiên là Lạc Long quân lấy tổ mẫu là Âu cơ, sinh được một trăm người con. Lạc Long quân phong mỗi con cai trị một vùng, thành ra Bách Việt. Người con cả của Lạc Long quân lên làm vua, lập họ Hồng Bàng, nước gọi Văn Lang. Trải qua mấy ngàn năm đất nước người Việt vẫn riêng một phương trời nam. Sau vua Hùng cuối cùng mải mê rượu chè bỏ bê chính sự, một trong các vua Bách Việt là Thục Phán đánh lấy nước Văn Lang, dựng nước Âu Lạc.
    Đào Kỳ reo lên:
    - Con nhớ rồi, có lần thầy đồ dạy học, nhắc đến nước Âu Lạc thì người ngưng bặt và thở dài. Con hỏi thầy lại lắc đầu không nói. Tại sao hở bố?
    - Đất nước có tên mà không dám nói tới, sống thế khác gì chết không? Thầy con không giảng con nghe quốc hiệu Âu Lạc vì chúng ta bị người Hán đô hộ, họ cấm nhắc về lịch sử chúng ta.
    Đào Kỳ như hiểu được ý cha:
    - Bố ơi, nước Âu Lạc làm sao mà mất, mất tự bao giờ?
    - Chúng ta mất nước 184 năm rồi. Khi An Dương vương dựng nước thì Tần Thỉ hoàng đã thôn tính hết Trung Nguyên nên muốn chiếm luôn Âu Lạc, mới sai Đồ Thư mang nửa triệu quân sang đánh. An Dương vương cương quyết chống lại. Người Việt ta do đại tướng quân Cao Nỗ chỉ huy, ngày ẩn vào rừng đêm ra đánh giặc, cuối cùng giết được Đồ Thư, bảo toàn độc lập. Trong cuộc chiến này, đất nước chúng ta quá rộng mà người ít, phải rút về phương nam. Quân Tần lấy mất vùng đất phía nam núi Ngũ Lĩnh đặt ra ba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận, giao Triệu Đà cai trị.
    Nghe cha nói, mặt Đào Kỳ hiện nét ưu tư như người lớn. Đào hầu tiếp:
    - Sau Tần Thỉ hoàng tàn ác, dân nổi loạn khắp nơi, Triệu Đà cũng không thần phục, tự xưng Triệu Võ vương, đóng đô ở Phiên Ngung. Y là người khôn ngoan có chí lớn, muốn lập quốc lâu dài, nhưng mở rộng về phương bắc vướng nhà Hán hùng mạnh, chỉ còn nam tiến. Triệu Đà thấy trước đây Đồ Thư thất bại mạng vong vì Âu Lạc có ba bảo vật, mới tìm cách phá ba thứ đó. Y hỏi cưới công chúa Mỵ Châu cho thái tử Trọng Thủy, và mưu mẹo xin ở rể.
    Đào Kỳ cau mặt:
    - Chắc An Dương vương không chịu gả.
    Đào hầu lắc đầu:
    - Con lầm rồi. An Dương vương chịu gả mới khổ. Tại sao con cho rằng An Dương vương không chịu?
    - Con nghĩ An Dương vương tài trí mới thắng được Hùng vương, sau khi thắng lại thêm kinh nghiệm, không lẽ không biết ý đồ Triệu Đà? Mà vương có lầm lẫn thì tướng sĩ sẽ ngăn cản, dại gì đem gả.
    Thấy con nhận xét tinh tế, Đào hầu mừng lắm. Ông nghĩ thầm nếu cứ đà này thì năm 20 tuổi, Đào Kỳ sẽ là người lỗi lạc có thể nối chí ông mưu đồ phục quốc.
    - Con biết nhìn xa đó. Quân Tần mạnh mẽ gồm thâu Trung Nguyên, thế như thác đổ. Vua Tần dùng đến nửa triệu quân đánh Âu Lạc nhưng vẫn bị bại. An Dương vương vì tự hào đó mà mất nước. Ngài quên Âu Lạc có tam bảo mới thắng được Tần. Con biết tam bảo là gì không?
    Đào Kỳ ngơ ngác nhìn cha, suy nghĩ một lúc rồi gãi đầu, bứt rứt trả lời:
    - Thứ nhất võ công Âu Lạc, Văn Lang hơn Tần. Thứ nhì địa thế Âu Lạc hiểm trở khiến quân Tần tiến không được lui cũng không xong. Còn bảo vật thứ ba là gì con nghĩ không ra.
    - Được, bố sẽ cho con biết. Con hãy làm đừng hỏi vặt, xong rồi sẽ rõ.
    Ông lấy cỏ bện cái bùi nhùi dài rồi quấn quanh người con như áo giáp. Ông lại lấy kiếm chặt tre đẽo thành cây côn đưa cho Đào Kỳ, dặn:
    - Con đã học Cửu Chân trượng pháp, đánh cho bố coi.
    Đào Kỳ cầm côn bái tổ rồi đi thứ tự từng lộ một, mới đến lộ thứ mười thì có tiếng ngựa hí, hai con tuấn mã chở hai người Hán ăn mặc theo lối quan binh tiến lại gần. Biết có người lạ nhưng Đào Kỳ không dám ngừng tay vì Đào hầu dạy con rất nghiêm, khi luyện tập võ nghệ dù biến cố gì chăng nữa cũng không được phân tâm. Nên hai con ngựa tới bên cạnh, Đào Kỳ vẫn tiếp tục đi hết 36 lộ.
    Hai quan binh Hán, một to lớn da trắng, một gầy cao da đen. Gã to lớn quát:
    - Bọn Nam man này to gan thực, trốn lên đây tập võ, không coi phép tắc ra gì.
    Dứt lời y quất roi ngựa ra, tiếng gió rít vi vu đủ tỏ kình lực không tầm thường. Cây roi da mềm quấn ngang lưng Đào Kỳ ba vòng. Y quát lên một tiếng giật mạnh roi về, người Đào Kỳ vọt tới phía con ngựa. Gã cao gầy thấy thế cười ha hả:
    - Triệu Thanh, xé xác thằng Nam man con làm đôi đi.
    Y vừa nói hết câu, một tiếng bốp vang lên, gã to lớn mập mạp đã ngã lăn xuống đất, còn Đào Kỳ ngồi chễm chệ trên lưng ngựa.
    Thì ra khi thấy Triệu Thanh dùng roi kéo mình lên khỏi mặt đất, Đào Kỳ mượn thế nhảy theo, sức người sức mình hợp nhất bay về phía địch. Từ trên không, nó chuyển trượng giáng một đòn vào đầu đối thủ.
    Nói thì chậm nhưng diễn biến vô cùng nhanh, khiến gã gầy gò chỉ còn biết há miệng ra quát tháo:
    - Phản rồi. Phản rồi.
    Y rút đao ở lưng ra, chân thúc ngựa tiến về phía Đào Kỳ. Đào Kỳ liếc mắt nhìn Đào hầu, thấy ông ngồi trên tảng đá lơ đãng nhìn ra biển như nghĩ ngợi xa xôi. Ông bảo con:
    - Đã trót thì phải giải quyết cho xong đi chứ.
    Đào Kỳ dạ một tiếng, đưa côn gạt đao đối thủ, rồi lộn một vòng trên không đáp xuống đất cười hỏi:
    - Ngươi là ai?
    - Ta là lữ trưởng kỵ binh Mã Dũng. Ngươi đánh ngã lữ phó của ta, hãy mau nạp mình chịu tội.
    Đào Kỳ cười:
    - Đã là lữ trưởng võ nghệ phải cao cường, có giỏi xuống ngựa đấu với ta.
    Thấy Triệu Thanh thảm bại chỉ một chiêu, Mã Dũng cẩn thận định giá địch thủ. Thời bấy giờ quân Hán tác oai tác quái thế nào dân chúng cũng phải chịu, trẻ con người lớn gặp là chạy trốn. Đào Kỳ đã không sợ còn coi thường nữa, thêm người cha chưa ra tay làm y chột dạ. Nhưng quen tính hống hách của kẻ cai trị, y không thể lui được, liền rút đao nhảy xuống ngựa đứng thủ thế. Bất thình lình y hét lên một tiếng lớn chém liên tiếp năm đao từ trái sang phải, phải sang trái, trên xuống dưới, dưới lên trên, quay một vòng rồi đâm thẳng vào ngực Đào Kỳ. Đào Kỳ chỉ nhảy nhót tránh né chứ không phản công, vì lần đầu giao chiến với địch nên thiếu kinh nghiệm.
    Đào hầu kêu lên:
    - Ngũ Hổ Đoạn Môn đao.
    Nghe bố nhắc, nó tỉnh ngộ. Ngũ Hổ Đoạn Môn đao là đao pháp đất Thục, thiên về dương cương, sơ hở bộ vị dưới chân. Chờ tới khi đối thủ chém đao cuối cùng theo vòng tròn, Đào Kỳ thụp xuống quất côn vào hạ bàn y. Y lộn người tránh, chân vừa chạm đất thì thế côn thứ nhì lại đâm vào hạ bộ. Y hoảng hồn lăn tròn bốn vòng thoát nạn, bật người đứng dậy, cây côn đã trúng đầu y bốp một cái. Y ngất xỉu.
    Dẫu sao Đào Kỳ cũng là một đứa trẻ, đánh ngã địch thủ rồi không biết giải quyết thế nào:
    - Bố ơi, chúng nó ngất hết rồi.
    Đào hầu chỉ thanh kiếm cạnh mình:
    - Cho mỗi đứa một kiếm vào cổ.
    Tên béo mập đã tỉnh dậy, bở vía quỳ gối chắp tay lạy:
    - Xin làm ơn làm phúc tha cho tội mạo phạm. Từ nay gặp đại nhân đâu, tiểu nhân sẽ cúi đầu làm lễ.
    Đào Kỳ hỏi bố:
    - Bố ơi, tha hay giết?
    - Con thắng chúng nó, không phải bố thắng. Tha hay không tùy con.
    Đào Kỳ nhìn hai Hán quan đang quỳ dưới đất, lòng bỗng thấy tội nghiệp, quát lên:
    - Ta tha cho đấy. Về đi.
    Hai gã như xuống quỷ môn quan được trở về, vội thụp lạy Đào Kỳ rồi lên ngựa phóng thẳng.
    Đào hầu nhìn con đầy vẻ hân hoan:
    - Con đã thắng hai võ quan kỵ binh. Qua cuộc đấu vừa rồi con thấy thế nào?
    Đào Kỳ tưởng nhớ lại:
    - Con thấy rất lạ. Hai người đều có sức mạnh, đòn đánh vũ bão chứng tỏ đã nhiều năm luyện tập, sao để lộ sơ hở quá nhiều, những sơ hở đó lại hợp với những chiêu thức bố dạy con.
    - Con nhận xét rất đúng. Có gì mà không hiểu. Nếu luyện võ Trung Nguyên, ta chưa chắc đối phó lại họ. Còn học võ Văn Lang Âu Lạc, một hai chiêu hạ họ lẽ thường. Con nên biết Cửu Chân trượng pháp là của ông Nồi, tức Trung Tín hầu Vũ Bảo Trung, khai quốc công thần của An Dương vương. Ông Nồi có hai con trai, lớn là ông Đống tức Bảo Nghĩa hầu Vũ Bảo Sơn, thứ là ông Vực tức Bảo Tín hầu Vũ Bảo Hà. Các ông nhân giao đấu với quân Tần, tìm ra tất cả phá cách võ học Trung Nguyên, rồi chế 36 lộ trượng pháp. Bởi vậy những chiêu thức con đánh đều khắc chế với mỗi thế của họ, thắng họ dễ dàng... Bây giờ con dùng Cửu Chân trượng pháp tự vệ, bố sẽ lấy những cành cây làm tên, bắn vào con.
    Đào Kỳ tuân lệnh múa côn bao phủ lấy thân. Đào hầu phóng những cành tre nhỏ vào người con. Ông phóng một lúc năm mũi, Đào Kỳ gạt được hai, còn ba mũi ghim vào tấm áo giáp bằng cỏ. Đào hầu ngừng lại:
    - Lúc nãy bố con ta đang nói đến tam bảo, con đoán được hai. Vậy vừa rồi là đệ tam bảo đó.
    Đào Kỳ ngơ ngác:
    - Thế nghĩa là...
    - Là kỹ thuật bắn tên của Âu Lạc.
    Đào Kỳ đang hớn hở bỗng buồn thiu lại:
    - Con nghe truyện này rồi. Mẹ kể ngày xưa An Dương vương xây thành Cổ Loa cứ bị đổ. Sau thần Kim Quy hiện lên bắt ma đi mới xây được thành. Xong thần cho vua cái móng rùa làm nỏ, mỗi phát bắn ra cả ngàn người chết.
    - Không phải thế con ơi. Không phải thần Kim Quy mà là đại tướng Cao Nỗ chế ra nỏ bắn một lúc cả trăm mũi tên. Ban nãy bố phóng năm mũi con chỉ đỡ được hai. Vậy tướng dẫn quân xung trận, nỏ Cao hầu bắn một phát ắt tướng phải chết, phân nửa đoàn quân tê liệt. Nếu hàng trăm nỏ thì quân nào chịu nổi? Vì có nẫy nỏ đó, Âu Lạc thắng Tần, Triệu Đà nhiều lần đánh Âu Lạc đều bị bại.
    Bây giờ Đào Kỳ mới hiểu:
    - Thì ra Triệu Đà đánh không được mới cho Trọng Thủy sang ở rể để phá tam bảo. Một là biết đường sá, địa thế, tình hình. Hai là biết võ học Âu Lạc. Ba là biết cách làm nỏ thần.
    - Đúng đấy. Bấy giờ các quan trong triều đa số phản đối, nhưng một số nhận hối lộ của Trọng Thủy nên tán thành. Đại tướng quân Cao Nỗ buồn rầu, cùng em Cao Tứ lui về ở ẩn. Trọng Thủy ở rể một thời gian mua chuộc được nhiều người, ngầm phá hoại hết tất cả xe nỏ, dàn nỏ lớn đặt trên thành. Y nhân lúc vợ chồng tình nghĩa mặn nồng, hỏi về bí mật chế nỏ. Mỵ Châu nhẹ dạ, ăn cắp sơ đồ đưa chồng xem. Y ghi nhớ trong lòng rồi đem trả. Nắm được tam bảo, Trọng Thủy xin về thăm nhà. Y tính khi mang quân đánh, tam bảo bị mất Âu Lạc tất bại trận. Sợ An Dương vương bỏ chạy rồi tụ tập quân phản công, y nghĩ kế tặng vợ chiếc áo lông ngỗng, dặn nếu giặc tới, chạy đi đâu thì rắc lông ngỗng đến đó, y sẽ theo dấu tìm.
    Đào Kỳ quát lên:
    - Thực là độc địa.
    - Con đoán được rồi à?
    - Dạ. Trọng Thủy biết Mỵ Châu sẽ theo cha, nên miệng nói tìm vợ nhưng thực bụng muốn truy bắt An Dương vương.
    - Đúng. Trọng Thủy về Nam Việt cho chế nỏ thần rồi cùng cha cất quân đánh. Âu Lạc lâu nay hòa bình không phòng bị, khi quân giặc tới vội vàng mang nỏ ra bắn thì mười cái hỏng cả mười. Đại quân Âu Lạc tan vỡ mau chóng, An Dương vương ôm Mỵ Châu lên ngựa chạy về phía nam, được hai ngày gặp đoàn đệ tử của anh em Cao Nỗ. Khi về ở ẩn, đại tướng Cao Nỗ đã chế loại nỏ mới mỗi lần bắn cả ngàn mũi tên, tầm xa gấp đôi. Vì vậy đoàn đệ tử của ngài tuy chỉ mấy trăm người nhưng bắn lui quân giặc. Sau quân Triệu Đà tới trùng trùng điệp điệp, anh em ngài cuối cùng đều tuẫn quốc. Nhờ Cao gia ra sức cản giặc, An Dương vương mới chạy đến đất này.
    Đào hầu chỉ mỏm đá trước mặt:
    - Đây là chỗ An Dương vương giết Mỵ Châu rồi nhảy xuống biển chết. Còn ngôi đền trên đỉnh núi kia tổ tiên ta xây để thờ An Dương vương.
    Đào hầu xuất thần ngơ ngẩn nhìn những lớp sóng biển trắng xoá, lớp nọ đè lớp kia xô nhau tiến vào bờ. Hốt nhiên ông nắm tay thành quyền, chéo sang phải một bước, phóng chưởng đánh vào một bụi cây. Chưởng phong vù vù xô tới, cây cỏ bật tung lên. Ông lùi một bước phóng chưởng thứ nhì, cát đá bay mịt mờ. Ông lùi tiếp phóng chưởng thứ ba ầm một cái, trúng cây thông gãy làm đôi đổ xuống. Đào Kỳ reo lên:
    - Cửu Chân chưởng pháp, chiêu Hải Triều Lãng Lãng. Chiêu này năm lớp, sao bố phóng có ba?
    Đào hầu xoa đầu con:
    - Con học rồi phải không? Khi An Dương vương chạy đến đây, ngài nhớ lại lúc 20 tuổi đả bại các anh hùng Tây Vu được tôn lên làm vua, 25 tuổi thắng vua Hùng dựng nghiệp lớn, 30 tuổi đuổi quân Tần giết Đồ Thư, 35 tuổi xây thành Cổ Loa, bây giờ tuy tuổi già nhưng lực chưa tàn, chỉ vì thiếu tinh tế mà mất nghiệp. Uất khí bốc lên, ngài sáng chế chiêu Hải Triều Lãng Lãng gồm năm lớp, mỗi lớp tượng trưng một thời kỳ của ngài, lớp chưởng sau công phá mạnh gấp đôi lớp trước. Ban nãy bố phát ba lớp đã mạnh như vậy. Đặc biệt, các loại chưởng khác công lực phải ở mức độ nào đó mới tập được, còn Cửu Chân chưởng thì công lực thấp mãnh liệt ít, công lực cao mãnh liệt như sóng bể tràn lan không biết đâu mà lường.
    Đào Kỳ đứng nhìn xuống biển mênh mông sóng vỗ điệp trùng, rồi nhìn lên đền An Dương vương hỏi:
    - Con đã vào đền lễ nhiều lần cùng mẹ và các anh. Mẹ chỉ cho con tượng người cầm gươm đứng giữa là An Dương vương, người cầm nỏ đứng bên phải là Cao Nỗ, người cầm trượng đứng bên trái là Vũ Bảo Trung, hai người quỳ gối trước mặt là Triệu Đà và Trọng Thủy. Nhưng bố ơi, tại sao không thờ Mỵ Châu?
    - Không thờ. Người Việt không thờ hạng gái vì chồng ngoại tộc hại cha mẹ, tổ tiên, giang sơn, dân tộc. Lúc người Hán cai trị chúng ta, họ mới xây ngoài đảo Nghi Sơn đền thờ Mỵ Châu để khuyến khích con gái Việt theo giặc, bán thân cho giặc. Có điều sau khi Mỵ Châu chết, tự nhiên ngọc trai vùng Cửu Chân ố mờ vết máu. Còn Trọng Thủy đuổi tới đây thấy vợ chết, chôn cất tử tế, rồi về Cổ Loa nhảy xuống giếng tự tử. Ngọc trai ở đây lấy nước giếng Cổ Loa rửa lại sáng đẹp vô cùng.
    Đào Kỳ thắc mắc:
    - Bố đặt tên hai anh là Nghi Sơn và Biện Sơn, vì địa danh ở Ngọc Đường hay vì lý do vong quốc?
    Đào hầu thở dài:
    - Tổ tiên con cũng là tướng của An Dương vương, truyền bảy đời đến bố. Mình mất nước tới nay 184 năm rồi. Nếu muốn phục quốc phải tìm cho được hai thứ, một là bí quyết làm nỏ của đại tướng Cao Nỗ, hai là tất cả võ công thời An Dương vương. Bố đặt tên hai anh con là muốn nhắc nhở cái hận vong quốc, còn tên con là muốn nhớ đến cái hận mất đất Lĩnh Nam, bởi dân ta gốc ở Kỳ sơn phía nam Ngũ Lĩnh.
    Đào Kỳ khẳng khái:
    - Võ công người xưa chế ra, tại sao mình không thể chế ra?
    Đào hầu dắt con trở về, đủng đỉnh xuống núi:
    - Đã đành mình có thể, nhưng người xưa mất bao tâm huyết mới tìm ra những chiêu thức bí hiểm, nếu học võ tổ tiên rồi từ đó biến chế thành võ học mới sẽ đỡ tốn công hơn. Bố nghe nói, sư phụ ông Nồi là Vạn Tín hầu Lý Thân trước khi tự vận đã chép tất cả võ công vào 200 thẻ đồng, còn trước khi Cao Nỗ đánh trận cuối cùng rồi tuẫn quốc cũng ghi vẽ đồ hình nỏ thần để lại cho đời sau, không hiểu nay ở đâu?
    Hai cha con đang đắm mình trong những biến cố gần hai trăm năm trước thì có tiếng quát:
    - Khôn hồn đứng im, nếu động đậy, ta ra lệnh buông tên.
    Hai người giật mình nhìn xung quanh, gần ba mươi binh Hán tên đặt lên cung chờ lệnh là buông, chỉ huy là tên béo mập Triệu Thanh. Đào hầu sợ Đào Kỳ dụng võ, bảo con:
    - Không được chống trả.
    Triệu Thanh ra lệnh:
    - Quăng vũ khí ra xa.
    Đào hầu tháo thanh kiếm trên lưng quăng ra xa. Triệu Thanh cười ha hả:
    - Phen này tụi bây có đến trăm cái đầu cũng phải rụng hết.
    Triệu Thanh ra lệnh trói hai cha con rồi bắt đi về phía một doanh trại. Đào hầu chú ý thấy đây là doanh trại kỵ binh mới cất lên không lâu. Ông thắc mắc:
    - Quân kỵ đâu đông thế? Họ đến vùng này làm gì mà ta không biết?
    Nhìn lên lá cờ thêu con gấu đen, ông giật mình:
    - Thì ra kỵ binh Giao Chỉ. Có biến cố gì đây?
    Thời bấy giờ thái thú Cửu Chân Nhâm Diên bất hòa với thái thú Giao Chỉ Tích Quang, nên những người bị Tích Quang truy nã chạy vào Cửu Chân ẩn náu, những người bị Nhâm Diên truy nã chạy ra Giao Chỉ tỵ nạn. Mỗi thái thú có quân đội trực thuộc tổng cộng 12500 người Hán, chia làm bốn sư bộ một sư kỵ. Mỗi huyện lại có một sư hỗn hợp nửa Hán nửa Việt.
    Thấy kỳ hiệu thiết kỵ Giao Chỉ tiến vào Cửu Chân, Đào hầu nảy ra nghi vấn. Một là hai thái thú bất hòa đem quân đánh nhau. Hai là có cuộc khởi binh của Lạc hầu, lực lượng Cửu Chân chống không nổi phải viện thêm lực lượng Giao Chỉ. Điều này chắc không đúng vì chín Lạc hầu Cửu Chân thì năm vị đã thỏa hiệp, hai vị an phận, chỉ còn ông với Đinh Đại em vợ ông giữ chí nguyện tổ tiên. Tuy nhiên Đào trang với Đinh trang hiện chưa hành động gì đến nỗi thái thú Cửu Chân phải viện quân.
    Như quan chế hồi đó, địa vị Lạc hầu còn cao hơn sư trưởng, nhưng thực tế bọn Hán quan thường dùng sức mạnh bắt giam các Lạc hầu, Lạc tướng là thường. Đấy là nói quân Hán ở Cửu Chân, huống hồ đây lại là quân Hán của Giao Chỉ gửi vào.
    Triệu Thanh giao cha con Đào hầu cho mấy tên lính, dặn:
    - Chúng bây hãy giam hai con chó Nam man này lại, đợi ta phát lạc sau.
    Mấy tên quân dẫn cha con Đào Kỳ vào một căn lều kín, bỏ đó đóng cửa đi ra. Đào hầu bảo con:
    - Có cách thoát thân rồi, con thử nghĩ xem giống ý bố không?
    Đào Kỳ thì thầm vào tai bố:
    - Đợi đến đêm, bố cắn dây cởi trói cho con, rồi con cởi trói cho bố. Bố con mình thư thả đi về.
    - Con ra khỏi doanh trại về báo nhà biết kẻo mẹ lo sợ. Còn bố ở lại dọ thám xem quân kỵ Giao Chỉ vào Cửu Chân làm gì.
    - Bố nghi là phải. Con nghĩ binh lính Cửu Chân dư sức đánh dẹp bất cứ trang ấp nào của ta, hà cớ thái thú phải viện kỵ binh Giao Chỉ. Có khi y muốn tiêu diệt hết chín nhà cũng nên.
    Mặt trời ngả bóng, vẫn không thấy Triệu Thanh trở lại trả thù. Đào hầu ghé răng cắn đứt dây trói con, sau đó Đào Kỳ cởi trói cho cha. Vừa xong thì có tiếng chân người đi tới, rồi tiếng một tên quân Hán:
    - Ta mang cơm cho hai con chó Việt ăn đây.
    Cửa mở, hai tên quân Hán bước vào. Đào hầu hô:
    - Phát chưởng.
    Đào Kỳ ra chiêu Loa Thành Nguyệt Hạ, Đào hầu ra chiêu Tây Vu Xuất Binh, hai tên quân ngã chết giấc tức thì. Đào Hầu cởi quần áo tên to lớn mặc vào. Đào Kỳ bắt chước cha, mặc quần áo tên nhỏ bé, nhưng vẫn rộng thùng thình. Hai cha con trói hai tên quân lại rồi mở cửa lều ra ngoài. Đào hầu dẫn con đến góc doanh trại vắng người, nói:
    - Con theo hướng này băng qua đồi thì về trang được.
    Đợi Đào Kỳ thoát rồi, ông tìm tới đại doanh. Đại doanh là căn lều khá lớn, đèn nến sáng choang. Ông nép mình dưới cửa sổ nhìn vào. Có mười người ngồi quanh một cái bàn, dường như đang hội họp. Ông chỉ nhận được mặt ba người: thái thú Nhâm Diên, đô úy Dương Hiển, đô sát Chu Khải.
    Đô sát Chu Khải chỉ lên tấm bản đồ:
    - Đào trang cách Đinh trang mười dặm. Trang chủ Đào Thế Kiệt 50 tuổi, văn võ kiêm toàn. Vợ Đinh Xuân Hoa 40 tuổi, võ công không thua chồng. Đệ tử chân truyền Trần Dương Đức, Trịnh Quang, Hoàng Thiều Hoa đều văn võ tinh thông. Hoàng Thiều Hoa 18 tuổi, quốc sắc thiên hương khắp vùng biết tiếng. Ba con trai Đào Nghi Sơn, Đào Biện Sơn, Đào Kỳ đều văn hay võ giỏi. Có 88 ngoại đồ, 500 tráng đinh, 200 phụ nữ biết võ. Dân chúng gồm 1200 nóc gia, 6300 người, đội ngũ chỉnh tề, lương thực lừa ngựa đầy đủ.
    Thái thú Nhâm Diên hướng vào một võ quan trẻ ngồi ghế chủ tọa, nói:
    - Từ khi ty chức về đây trấn nhậm nhận thấy điều khó khăn nhất là tất cả dân chúng đều quy tụ vào chín Lạc hầu, con cháu đám di thần Âu Lạc. Đám này nhận di ngôn của Thục Phán ẩn náu chờ thời, nguy cơ nổi loạn không biết nổ ra lúc nào. Mấy năm trước bên mẫu quốc xảy vụ Vương Mãng cướp ngôi, thiên hạ tao loạn phân năm xẻ bảy. Ty chức không quy phục nên Vương Mãng mấy lần định mang quân sang hỏi tội. Bọn Lạc hầu, Lạc tướng thấy vậy rục rịch nổi dậy, ty chức phải vội vàng ban hành pháp lệnh năm điều làm tan thế đoàn kết của bọn chúng.
    Đô úy Dương Hiển hỏi:
    - Người Hán chúng ta cai trị bọn Nam man, nếu chúng nổi loạn thì mang quân đi dẹp, há sợ gì? Đại nhân ban hành pháp lệnh chi cho mệt.
    Nhâm Diên nói:
    - Đô úy biết một không biết hai. Dân chúng ở đây đều quy tụ vào chín nhà, nếu dẹp hết thì Cửu Chân chỉ còn bãi đất hoang. Nên bản nhân mới theo Tôn tử binh pháp: dụng binh chi đạo, toàn quân vi thượng, phá quân thứ chi. Chỉ dùng một tờ giấy, viết năm điều pháp lệnh, cho Hán Việt được bình đẳng, được kết hôn với nhau, lại cho người Việt làm quan chức, dạy chữ thánh hiền, lễ nghĩa cho chúng...
    Viên võ quan dáng người uy nghi ngồi ghế chủ tọa nói:
    - Tuyệt! Chúng ta là con cháu Văn vương, Chu công, Khổng tử. Nhà Đại Hán coi thần dân như con đỏ. Thái thú ban pháp lệnh cho người Việt được như người Hán, về Trung Nguyên mượn những nho gia khoa bảng thất thời sang đây dạy dỗ họ, đúng như Khổng tử nói giáo bất biệt hoại, khi dạy học thì không phân biệt giống người. Làm như vậy vừa được âm đức vừa làm sáng nghĩa Khổng Mạnh.
    Đào Thế Kiệt cố moi óc xem võ tướng trẻ tuổi này là ai, nhưng đoán không ra. Thấy dáng điệu đường bệ của y và cung cách lễ phép của Nhâm Diên, ông cũng biết y địa vị không nhỏ. Lại nghe Nhâm Diên nói:
    - Ty chức không thực tâm như vậy, chẳng qua tâm chiến giai đoạn thôi. Ty chức phong năm Lạc hầu làm huyện úy, từ đấy quan binh Hán cứ ngồi chơi, người Việt gây loạn thì huyện úy người Việt mang bản bộ quân mã người Việt đi đánh. Pháp lệnh ban ra mấy năm, đâu cũng nghe nhắc tam hoàng, ngũ đế, Chu công, Văn vương, Khổng tử, không hề nhắc Hùng vương. Trà dư tửu hậu người ta bàn về Hạng Võ thua trận Cai Hạ tự tử ở Ô giang, không bàn đến An Dương vương thắng Hùng vương. Trẻ con học cuộc chiến Hoàng Đế, Suy Vưu, không học cuộc chiến An Dương vương, Đồ Thư. Dân chúng chỉ biết cái nhục bị Tần Thỉ hoàng cai trị, quên cái hận Cổ Loa bị Triệu Đà phá. Nam nữ thanh niên chỉ biết diễm tình Tiêu Sử, Lộng Ngọc, quên chuyện Trương Chi, Mỵ Nương. Ty chức lại nay khen ngợi mai ban thưởng, khiến chín Lạc hầu năm người trở thành đầy tớ của ta, hai người mải mê phát triển văn hóa Trung Nguyên xa lìa cái gọi là phản Hán phục Việt. Rút cục chỉ còn Đào trang, Đinh trang cần phải ra tay tiêu diệt.
    Viên võ quan trẻ hỏi:
    - Nhâm thái thú bấy lâu nêu cao nhân nghĩa, nay cũng phải truyền hịch kể tội Đào, Đinh, thì ta ra quân mới được dân chúng tôn phục. Vậy đã tìm ra tội trạng gì của hai trang chưa? Tôi nghĩ vô cớ đánh người là ác độc, dã man, vô nhân đạo, thất nhân tâm.
    Đô sát Chu Khải nói:
    - Lĩnh Nam công đúng là người hiệp nghĩa. Việc soạn hịch ty chức xin đảm nhận, có thể ghép tội hai trang làm rối loạn trị an.
    Nghe bọn Hán quan bàn luận đánh trang ấp của mình, bất giác Đào hầu rùng mình nghĩ:
    - Thì ra tên tướng trẻ này là Lĩnh Nam công Nghiêm Sơn, chức Bình Nam đại tướng quân. Y xả thân đấu võ với Vương Mãng hai mươi trận, bị thương mười lăm lần, cứu Quang Vũ rồi cùng Quang Vũ phất cờ dựng lại nhà Hán. Y được giao toàn quyền sáu quận Lĩnh Nam là Nam Hải, Tượng Quận, Quế Lâm, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Chắc Nhâm Diên xin phép y để diệt hai trang Đào, Đinh. May mình biết trước.
    Thái thú Nhâm Diên tiếp:
    - Ty chức muốn một trận diệt gọn hai trang, nên đã nhờ Nghiêm đại nhân điều thiết kỵ Giao Chỉ vào trợ chiến. Kế sách ty chức như sau. Sáng mai Dương đô úy chỉ huy bao vây Đinh trang, sư số 1 mặt đông, tây, sư số 2 phục ở đèo phía nam, sư kỵ Cửu Chân tấn công mặt bắc. Giặc thấy trống mặt nam tất chạy qua đèo Đôn Dương, sư số 2 dùng cung tên tiêu diệt. Còn Chu đô sát bao vây Đào trang, sư số 3 mặt tây, nam không cho chúng liên lạc với Đinh trang, sư số 4 mặt đông, sư kỵ Giao Chỉ tấn công mặt bắc. Trước đó ty chức sẽ mời Đào Thế Kiệt, Đinh Đại đến phủ thái thú ăn tiệc rồi ép chúng đầu hàng. Nếu chúng biết điều quy phục, chúng ta chỉ việc tiến quân vào trang cử người thay chúng làm Lạc hầu. Còn chúng không chịu thì ty chức sẽ đốt pháo lệnh, các vị bắt đầu tấn công.
    Đô sát Chu Khải hỏi:
    - Trường hợp chúng đầu hàng, giải quyết gia đình chúng ra sao?
    Nhâm Diên tủm tỉm cười:
    - Cho mỗi gia đình cái thuyền lớn, nội ngày phải ra đảo Nghi Sơn ở. Thuyền đã cắt đai đục lỗ sẵn, ra khơi sóng đánh chìm ngay.
    Nghiêm Sơn không đồng ý:
    - Người ta đã đầu hàng còn giết tuyệt như vậy, đâu có đạo nghĩa gì?
    Nhâm Diên liếc ngang mắt, không dám nói gì. Nghiêm Sơn nói:
    - Nếu họ đầu hàng, ta vẫn để họ làm Lạc hầu. Được một hào kiệt còn hơn được một trăm tên xu phụ.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group