Cái Hột Mận, Lan Khai- tiep theo

  • hann_80

    khoảng 2 10 năm trước
  • Vốn đã biết cái thân câu trõ,
    Cả no mồi cũng khó dử lên!
    Ngán thay cái én ba nghìn,
    Một cây cù mọc biết chen cành nào ?
    Ôn Như Hầu
    o O o

    5

    Vườn ngự uyển trong cấm thành là cả một cánh rừng có những lối đi râm mát.

    Dưới nắng xuân, muôn hoa nở tưng bừng. Những dòng nước, bắc tự núi xa về, chảy thành những con suối nhỏ róc rách qua các luống cây, giữ cho không khí lúc nào cũng mát mẻ...

    Đó đây, những khải hoàn môn bằng đồng chói lọi; những hòn giả sơn đắp tỉ mỉ; những nhịp cầu uốn cong cong bên rặng liễu buông mành....

    Giữa vườn một nhà thủy tọa rực rỡ vàng son, lộn bóng dưới gương hồ trong biếc. Quanh bờ hồ, những luống hồng nhung thắm đỏ, những cụm lài trắng nuột thoang thoảng đưa hương. Trước thủy đình, gần bên đầu tả hữu nhịp cầu bán nguyệt, hai cái lồng son lớn dựng đối nhau, một bên ríu rít những họa mi, khướu, yểng, một bên âm thầm một con mãnh hổ, sắc lông vàng rực, hai mắt lờ đờ như ủ trong trái tim khát máu, giấc mộng nhớ rừng xưa...

    Ngọa Triều Hoàng đế, nằm trên long ỷ đặt giữa thủy đình, đang lặng lẽ nhìn bầy cung nữ kéo nhau ra tắm...

    Họ ríu rít như đàn chim sẻ và nhất thời quên bẳng cái chết nó đang lởn vởn trên đầu họ.

    Những áo xiêm ướp xạ nối nhau rơi mềm trên nệm cỏ; những tấm thân ngà ngọc nổi bật trên nền lá xanh tươi; những tiếng nô đùa lẫn trong tiếng người ì òm đem lại giữa cảnh nặng nề nghiêm chỉnh một cảm giác nhẹ nhõm của tuổi trẻ tưng bừng....

    Bạo chúa vẫn mơ màng lãnh đạm; cặp mắt vẫn yên lặng xa xăm....

    Thái giám khép nép lại gần long ỷ, hắn đợi chờ một câu tâm sự.

    Quả nhiên, vua Ngoạ Triều khẽ phán:

    - Trẫm buồn và chán lắm! Những trò tiêu khiển trong cung thì lâu ngày đã nhàm....

    Hiểu ý vua, Thái giái tâu lơ lửng....

    - Tâu thánh thượng, hạ thần đã cho người theo dõi và biết rằng thiếu nữ trên dòng sông bữa trước là con Phạm Thái sư.

    Vua Ngoạ Triều nheo cặp mắt:

    - Khanh thực là bầy tôi quý hóa của Trẫm? Để đền sự trung thành ấy, Trẫm sẽ cho khanh lên chức Tam công.

    Đinh Thọ, sướng mở cờ trong bụng nhưng vẫn điềm nhiên nói tiếp:

    - Thánh thượng lưu tâm đến Phạm tiểu thư là phải: nàng thực không phụ cái thanh danh tuyệt thế giai nhân!

    Vua Ngoạ Triều lấy làm khoái trí:

    - Nếu phải đổi ngai vàng lấy người ấy, Trẫm cũng chẳng tiếc gì.

    - Tâu Thánh thượng, người muốn vời Phạm tiểu thư tưởng cũng dễ...

    - Đã đành như vậy nhưng...

    - Cái mộng đẹp của giai nhân tự cổ há chẳng là được gang tấc mặt rồng?...

    Một tiếng dặng hắng bỗng làm câu chuyện giữa hai người đứt quãng.

    Dương hậu từ sau cụm tử vi, rón rén bước lên lầu...

    Suốt đêm qua, Dương hậu không hề nhắm mắt; sự hững hờ của Công Uẩn và cái thói quen của vua Ngoạ Triều thường đãi nàng như một tên cung nữ khiến nàng cảm thấy mình bẽ bàng, đơn độc. Tình yêu nồng như lửa cháy, bị hắt hủi, càng khiến trái tim nàng, đầy những khát khao, đầy những huyễn tưởng, phải nấu nung cảnh phong gấm rủ là dần dần trở nên sự mỉa mai cay độc.

    Chiều ủ dột, giấc mai trưa sớm,
    Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ.
    Thâm khuê vắng ngắt như tờ,
    Cửa châu gió lọt, rèm ngà sương treo.

    Ngày nào cũng như ngày nào, Hậu chỉ những ra ngẩn vào ngơ, đợi chờ một hạnh phúc chẳng bao giờ tới... Rồi đêm đêm, lẳng tiếng chuông chiền, tâm hồn nàng lại bâng khuâng, man mác.... lạnh lùng giấc cô miên!...

    Sống những thời khắc kéo dài và suông nhạt ấy, nàng hãi hùng tưởng đến lúc xuân qua! Mắt nàng đã thấy bao nhiêu hương xạ phai tàn đành chờ chết trong sự thờ ơ và bóng tối.... Nàng muốn kêu gào lên với số mệnh. Thì, giữa lúc ấy, tiếng chim rạo rực ngoài thềm bảo cho nàng biết rằng: trời đã sáng. Nàng chực nhớ đến lời dặn trước của Đinh Thọ, vội vàng trang điểm rồi ra chơi vườn hoa.

    Nàng mặc cái áo dệt bằng kim tuyến, vạt lẩn trong những bức xiêm màu tím nhạt Một giải lụa bạch choàng qua vai, tha thướt dưới hai nách Hậu như đôi cánh bướm. Nàng đeo một chuỗi ngọc bích, sắc xanh tôn màu da cổ trắng như mỡ đọng.

    Sự xuất hiện rỡ ràng ấy chẳng khiến nổi nhà vua tươi vẻ mặt. Ngài điềm nhiên hỏi:

    - Ái khanh ra chơi vườn Ngự sớm nhỉ?

    Sau một liếc nhìn Đinh Thọ, nàng quỳ gối và dịu dàng đáp:

    - Tâu Thánh thượng, thần thiếp chẳng khi nào tự dưng lại dám bận mắt cửu trùng....

    Bạo chúa ngạc nhiên:

    - Thế ra ái khanh có điều muốn nói với Trẫm.

    - Tâu Thánh thượng một điều rất quan trọng!

    - Gì thế? Giặc Tàu tràn sang...

    - Không phải giặc Tàu, chính quân Chiêm Thành đã phạm tới bờ cõi nước Nam.

    Như bị điện giật, vua Ngoạ Triều đứng phắt lên, hai mắt nảy lửa:

    - Thế nào? Lũ mọi rợ ấy lại dám phạm tới oai trời của Trẫm? Hậu nghe tin này ở đâu?

    Thái giám vội nói:

    - Tâu Thánh thượng, cái tin giặc Chiêm Thành vào cướp phá biên cương, hạ thần biết rõ từ đêm qua nhưng vì đang lúc quân vương giải trí, hạ thần không dám làm mất thú vui ngàn vàng.

    - Sao binh tướng của Trẫm không giết cho hết lũ chuột ấy đi?

    - Tâu Thánh thượng, chúng sở dĩ lăng loàn như thế, nghe đâu vì có Phạm Thái sư xúi giục...

    Hắt đổ chiếc long án làm cho những ấm ngọc chén vàng rơi vỡ tan nát, bạo chúa gầm lên:

    - Phạm Cự Lượng làm phản!... Có đích như vậy chăng?

    Đinh Thọ rụt rè:

    - Hình như có thực vì, ít lâu nay, Thái sư tỏ ý mua chuộc Lý Công Uẩn và các võ tướng trong Kinh thành.

    - Chém!... Phải chém đầu những quân phản chủ ấy đi.

    Bọn cung nữ thất đảm, vội mặc áo xiêm đoạn lủi vào các lối đi khuất khúc...

    Một tên thị vệ chạy lên thềm:

    - Tâu Bệ hạ quan Ngự tiền hộ giá xin vào chầu.

    Bạo chúa thét:

    - Vũ sĩ đâu? Hãy khám trong mình Lý Công Uẩn!...

    Nhưng chàng tuổi trẻ đã quỳ xuống và tung hô vạn tuế.

    - Nhà ngươi có việc gì dám kinh động tới Trẫm?

    - Giặc Chàm vào phá biên cương, hạ thần ngửa trông lượng thánh cho phép đi dẹp loạn.

    Vua Ngoạ Triều ngẩn ngơ nhìn Dương hậu và Thái giám.

    Công Uẩn nhắc:

    - Tình thế ngoài biên khẩn cấp lắm, xin Thánh thượng chuẩn y nhời thỉnh giáo của hạ thần.

    Để rơi người xuống Long ỷ, vua Ngoạ Triều lặng yên suy nghĩ giây lâu mới cất giọng nghiêm khắc hỏi chàng họ Lý:

    - Giặc ngoài biên cương chưa cần dẹp loạn bằng lũ phản bội trong Kinh thành. Công Uẩn nhà ngươi có biết những tên nào đáng chết không?

    Đến lượt Công Uẩn ngạc nhiên nhìn Dương hậu và Thái giám:

    - Tâu Thánh thượng, làm gì có sự ấy?

    Bạo chúa nghiến răng trợn mắt:

    - Nhà ngươi nhất định chối không?

    - Hạ thần quả quyết như vậy.

    Giọng thành thực của chàng khiến bạo chúa nguôi lòng. Rồi, chợt nảy ra một ý định, vua Ngọa Triều khẽ mỉm cười:

    - Phải đấy? Cho khanh vào Nam hỏi tội những quân bạn nghịch. Trẫm muốn trừng phạt chúng một cách thảm khốc để chúng nhớ mãi về sau này. Trẫm cần nhiều thủ cấp, rõ nhiều, khanh nhớ lấy.

    - Tâu bệ hạ, tiểu nhân xin đem về đủ số để treo khắp địch lâu.

    - Tốt lắm! Khanh hãy về sửa soạn để mai sớm Trẫm duyệt binh.

    Công Uẩn vái tạ rồi lui ra. Trong lúc vội vàng. Công Uẩn không kịp thấy nở trên môi bạo chúa một nụ cười thâm độc.

    Là một võ tướng nhiệt thành yêu nước. Công Uẩn lấy việc gìn giữ non sông làm một thiên chức thiêng liêng. Chàng đã nổi giận khi nghe tin báo quân Chiêm Thành sang lấn cõi. Chàng muốn đánh cho chúng tan tành để từ nay chúng khỏi coi nhờn người Nam Việt. Cái ý tưởng tranh hùng ấy đã làm cho Công Uẩn nhất thời quên được tất cả những hình ảnh hãi hùng hôm trước và tất cả những căm giận của chàng đối với sự tàn ác của hôn quân. Những câu hỏi vừa rồi của Ngọa Triều Hoàng đế bỗng lại khiến chàng suy nghĩ. Ở Kinh thành có một bọn phản nghịch thật ư? Những ai vậy? Không có lẽ vua Ngọa Triều lại ngờ vực chàng. Tuy căm hờn bạo chúa Công Uẩn thực ra chưa có những ý định ấy trong đầu. Thế thì cớ sao vua Ngọa Triều đã nói với chàng bằng một giọng gay gắt? Chàng hiểu rồi:
    chắc lại chỉ Dương hậu dèm pha để chực báo thù chàng!...

    Công Uẩn mỉm cười rồi kết luận:

    - Dương hậu là một bông hoa nở trong bụi gai...

    O ~ O ~ O

    Chí làm giai dặm nghìn da ngựa,
    Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao,
    Giã nhà đeo bức chiến bào.
    Thét roi cầu. Vị ào ào gió thu!...
    Ôn Như Hầu
    o O o

    6

    Trên bãi đất mở ra trước ngọ môn, đoàn chiến sĩ chỉ còn chờ điểm duyệt nữa là theo chủ tướng xuống miền Nam, đạp phẳng cái giang sơn các vũ nữ mê hồn, có những tháp đá hoa cao vút.

    Mặt trời mọc, tỏa hào quang xuống đám đông dân chúng lao xao quanh những đội quân nghiêm chỉnh.

    Trống trận điểm thì thùng; ngựa chiến kêu the thé: cái bể người dào dạt như bị điện truyền. Hồn thượng vũ của chủng tộc lại một phen sôi nổi.

    Người ta xì xào khen ngợi toán tượng binh: hơn trăm con vật khổng lồ đen trũi nối nhau thành hai hàng đá tảng; mắt long lanh những tia sáng thông minh. Chúng cuộn vòi liếc lên những chiếc ngà nhọn hoắc. Sau tượng binh, hai nghìn kỵ mã, ngất nghểu trên những con ngựa ô lĩnh. Họ mặc nhung trang màu đen, tay trái cầm khiên mây hình bầu dục, tay phải cầm mã tấu sáng lòa....

    Cuối cùng đến bộ binh, áo đỏ, nón xanh, cắp giáo trường có những ngù bông rực rỡ .

    Tất cả im lìm như tượng đất, giữa mớ ồn ào của trống chiêng, của ngựa kêu, voi thét. Những vẻ mặt rắn đanh, những tia mắt lạnh lẽo như ánh kiếm làm cho dân gian vừa khen ngợi vừa hãi hùng...

    Bỗng, như cả một trận phong ba long trời lở đất bao nhiêu loa trống mõ chiêng cùng vang lên, vỡ lở...

    Ngọa Triều Hoàng đế hiện ra trong bóng tán vàng tán tía....

    Tiếng hô của các võ tướng nổi dậy; binh sĩ giơ kiếm reo hò:

    - Thánh thượng vạn tuế! Đại Nam quốc vạn tuế !

    Vua Ngọa Triều thản nhiên và lẫm liệt trong bộ áo long bào. Trên mặt rồng chẳng thớ thịt nào rung động; cặp mắt sắc như dao nhìn trừng trừng đoàn chiến sĩ đang sắp sửa lăn vào tên đạn để làm cho uy vũ nhà vua được nể trọng.

    Theo hầu bên tả Hoàng đế, quan Thái sư họ Phạm, mình mặc áo gấm tía thêu rồng, năm chòm râu trắng nuột, đạo mạo như một vị tiên ông trên Thượng giới. Bên hữu Ngài, Đại tướng Lý Công Uẩn, giáp vàng chói lọi, khẽ mỉm cười với đám sĩ tốt thân yêu...

    Chờ những tiếng hoan hô dứt hẳn, nhà vua quay lại dặn quan tướng mấy nhời sau cùng:

    - Sĩ tốt không thiếu thốn gì chứ?

    - Tâu bệ hạ. Không!

    - Chiến lược của khanh đã sẵn sàng?

    - Tâu bệ hạ đã!

    - Dọc đường, nếu cần đến vật gì, khanh được phép bắt các địa phương cung ứng Từ các công khanh xuống đến mạt tốt nếu ai trái lệnh, cho phép cứ việc chém đầu.

    Vừa nói vua Ngọa Triều vừa quay sang phía Phạm Thái sư và cầm lấy lá cờ lệnh cùng thanh bảo kiếm Thượng Phương trao cho Công Uẩn.

    - Đối với giặc Chàm, khanh phải hỏa tốc như cơn bão, và đánh như sấm sét mới được!

    Công Uẩn vái tạ ơn vua đoạn xuống thành cùng một lúc với quan Thái sư họ Phạm.

    Chàng ghé tai dặn vị lão thần:

    - Như nhời tiểu tướng đã nói: Hoàng đế xem chừng nghi ky bọn ta, bởi những nhời gièm pha của Dương hậu. Tiểu tướng đi rồi, Tướng công nên thời thường vào bệ kiến và đừng cho văn võ lui tới hậu môn nhiều quá.

    Phạm Thái sư, lo ngại, thở dài. Trước sự nghi ngờ đáng sợ của bạo chúa, Ngài có thể điềm nhiên, nếu không cần phải giữ gìn tương lai, hạnh phúc và sinh mệnh của con gái thương yêu. Ngài cầm tay Công Uẩn và ân cần dặn:

    - Tướng quân đi chuyến này, lão xin chúc Tướng quân kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công, mau mau trở về, kẻo một mình lão ở nhà không ai nương tựa nhỡ khi sóng gió đất bằng!

    - Xin Tướng công chớ ngại! Tiểu tướng tuy đi xa mà tâm trí lúc nào cũng ở gần Tướng công và tiểu thư....

    Hai người đã ra khỏi điếu kiều. Bạo chúa, thấy hai người nói nhỏ, sinh nghi nên vội vàng lên tiếng giục:

    - Mau khởi hành thôi chứ! Sự hờn giận lũ mọi kia chưa nguôi. Trẫm thấy mỗi phút dài bằng mười năm...

    Công Uẩn vái chào vua, chào bố vợ đoạn nhảy lên lưng bạch mã. Con ngựa long câu, đuôi dài như cả mớ tóc của đàn bà, hét lên một tiếng dữ dội, cất bổng hai vó trước, đoạn bắt đầu băm kiệu lớn....

    Dân chúng reo hò ầm ĩ nhảy lên như điên cuồng.

    Kỵ binh chuyển động rồi tiếp theo sau chủ tướng. Những mao, đuôi bay phấp phới, những tiếng hí như gắt gỏng những móng gõ mặt đường lầm bụi.

    Bộ binh dồn vào giữa; sau cùng voi trận đi đoạn hậu.

    Đại đội từ từ ra khỏi kinh thành. Quần chúng mỗi lúc một say sưa náo nức, ồ ạt theo sau. Dòng thác người cuồn cuộn ấy pha lẫn hò reo với những tiếng chiêng trống vang lừng. Theo gió vụt những lá cờ đầu vùng vẫy như những khúc rồng chói lọi...

    Nhưng, lúc ấy, Công Uẩn đã không nghe, không thấy gì nữa... Sự hăng hái của tuổi trẻ, lòng quyết thắng của binh gia chẳng át nổi những thổn thức của khách chung tình. Là vì, trong thẳm cùng mộng tưởng, quanh cái hình ảnh rỡ ràng của Bội Ngọc, chàng thấy chớm ra nhiều trận bão táp không thường....

    Một khi, nghe Dương hậu gièm pha, bạo chúa đã ngờ chàng, Phạm Thái sư tất sẽ bị coi như tòng phạm. Nếu, giữa lúc chàng đi vắng, Thái sư bị búa rìu của hôn quân thì Bội Ngọc thoát sao khỏi con mắt thèm thuồng sắc dục.

    Tương lai, đối với chàng, vì vậy, đầy những hãi hùng. Sự thảo phạt Chiêm Thành, mà chàng đã hết sức nài xin với bạo chúa, lúc này, trở nên một điều đáng ngại. Chàng không muốn đi xa nữa vì chàng không muốn cha con nàng mất chỗ tựa nương, cuộc đời của hai người mất hết bảo đảm. Tiếc thay lệnh tiến binh đã phát, ấn nguyên nhung chàng đã cầm, chàng không thể nào do dự được nữa. Chàng phải đi, đi trong tiếng hoan hô của quần chúng, đi trong ánh sáng của vầng hồng và lớp bụi vàng mờ mịt...

    Sự rủi may đành trông cậy ở Cao xanh!...

    Một đàn quạ vụt bay kêu trên đầu sĩ tốt....

    Lý Công Uẩn rùng mình:

    - Quạ kêu, phải chăng là một điềm gở?

    Ý nghĩ ấy khiến chàng bất giác ngoảnh đầu trông lại:

    Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu,
    Ngàn dâu xanh ngắt một màu:
    Lòng chàng, ý thiếp, ai sầu hơn ai ?...

    Kinh thành đã khuất lẩn...Đoàn binh kéo đã xa.... Dân chúng đã dừng lại trên đường và đang hò reo để tiễn biệt.

    Công Uẩn phóng ngựa lên một gò cao, vẫy gươm chào bách tính.

    Muôn tiếng hoan hô càng náo nức, càng trội như tiếng sóng cồn...

    Sự sùng bái say sưa lạ?....

    Chàng cảm thấy mình hoàn toàn chiếm được sự yêu mến của lê dân. Chàng lại bắt đầu hy vọng...

    O ~ O ~ O

    Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng,
    Hàng cờ bay trông bóng phất phơ.
    Dấu chàng theo lớp mây đưa,
    Thiếp nhìn dáng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
    Ôn Như Hầu
    o O o

    7

    Cuối xuân. Trong các vườn, hoa đào, hoa mận rụng, rơi theo gió.... Mặt đất phủ đầy những cánh trắng, hồng...Bên các hồ ao, cuốc non đã bắt đầu tha thiết và trong ánh nắng, từng đàn rĩn bay tung như cát bụi...

    Kinh thành Hoa Lư thức giấc, vui cười: ai nấy kéo nhau đi dự lễ Thanh Minh.

    Các phố trong thành, bởi vậy, trống không, vắng ngắt: từ các nhà quyền quý đến bọn dân thường đều tản về các vùng thôn quê tịch mịch. Trên nền cỏ xanh phủ kín mặt đồng, trên các dải đường đất cong queo, khúc khuỷu, lũ năm lũ ba ồn ào như nước chảy. Thực là một cảnh tượng vui mắt, tuy Thanh Minh là ngày hội của các vong hồn. Những chiếc võng điều của các tiểu thư mỹ mạo, những áo màu lam của các thư sinh, văn sĩ đi tìm những gặp gỡ lạ lùng hoặc những vần thơ say đắm chấm lên nền nâu mộc mạc của dân chúng những nét rỡ ràng...Bầu không khí yên tĩnh nhất thời âm vang những tiếng gọi, những khúc đồng dao, những chuỗi cười trong trẻo...Từ những nấm đất vàng phủ đầy những thoi giấy trắng, khói hương bốc nghi ngút, tan trong không trung, hình như các linh hồn, gặp ngày xuân vui đẹp cũng hiện lên để chia với người sống cái say sưa của tuổi trẻ, của ánh sáng, của hoa nở, chim kêu....

    Trên cao, vòm trời mênh mông, xanh biếc, giống như bức trần mui luyện của một ngôi chùa vĩ đại. Bể biếc đằng xa, im sóng gió, khẽ lẳng lơ tung bọt trắng lên ria bãi cát vàng...

    Bội Ngọc, khác với mọi người, không đi đâu hết. Nàng ra hiên Lãm Thúy, truyền thị nữ gây đỉnh trầm rồi, yên lặng, nàng ngồi tựa bao lan, thả tâm hồn theo dõi chinh phu...

    Quanh mình nàng, chim chóc vui đùa trong ánh nắng, hoa tươi trêu ghẹo gió trong cành, tất cả bài thơ ca ngợi ái tình và tuổi trẻ không khuây nổi mối sầu xa vắng, mênh mộng nó chiếm thâu hết tâm hồn thiếu nữ.

    Nàng cố nhớ lại buổi sớm hôm qua mà Phạm Tướng công cho phép nàng được giáp mặt Công Uẩn, trước khi chàng lên yên ngựa ra bãi sa trường....

    Giây phút ấy mới hồi hộp làm sao ?...

    Ngả đầu xuống lưng ghế, Bội Ngọc thử sống lại, không biết là lần thứ mấy, sự gần gũi say sưa đã mất.

    Lúc ấy, trời vừa rạng đông, sương đêm còn ướt đẫm mặt lá, Bội Ngọc đã ra chơi vườn hoa, mặc dầu đêm trước nàng đã thức gần suốt năm canh. Những đau khổ hãi hùng của mấy ngày qua đã tan đi như ác mộng. Nàng như người chết bỗng được cải tử hồi sinh.

    Mặt trời hy vọng lại mọc, chiếu sáng cuộc đời nàng đầy những mộng đẹp của tình yêu.
    Thì, ngay lúc Bội Ngọc đang mỉm cười tươi để chào đón một ngày rạng rỡ ấy, cửa vườn hoa bỗng sịch mở, nhường lối cho một võ tướng giáp vàng....

    Trời? Nàng thực tỉnh hay mơ? Có thể như vậy được chăng?.... Nàng luống cuống, sắc mặt đỏ bừng rồi, khi Công Uẩn đã rất gần, nàng cúi mặt như người quáng nắng....

    Hai người đã nói gì với nhau?.... Có lẽ không thì phải. Hay hoặc chàng đã nói mà; vì trái tim nàng đập mạnh quá nàng chẳng nghe thấy gì hết? Nàng chỉ cúi đầu, tay vân vê tà áo lụa, mặc dầu, lúc ấy, cả tâm hồn nàng muốn kêu lên những tiếng thiết tha.... Nàng không dám hé răng vì nàng tin chắc rằng câu nói đầu tiên của nàng sẽ là một tiếng thổn thức. Mãi khi Công Uẩn cúi chào nàng để lui ra, Bội Ngọc mới khẽ nói được một câu, giọng đầy nước mắt:

    - Chàng đi mau chóng mà về !...

    Thế rồi, nàng gục xuống bàn khóc nức nở. Thế rồi, nghĩ lan man đến những hiểm nghèo trên trận địa, nàng lấy làm hối hận rằng đã nói rất ít với chàng và tần ngần tiếc những phút êm đềm có lẽ chẳng bao giờ trở lại...

    Đã nhiều phen, không thể cùng ai cởi mở nỗi lòng, Bội Ngọc toan biên thơ ra ngoài cửa ải để hoạ may chàng có thấu tình nhưng sau nàng lại đành gác bút: nàng không muốn bận trí anh hùng giữa khi chàng cần phải đem hết can đảm và nghị lực ra trả nợ non sông.

    Nghĩ đến viết, Bội Ngọc bỗng thấy cảm hứng dạt dào trong tâm khảm. Nàng với tập thơ...Phải rồi, nàng sẽ viết, nàng sẽ phơi bày hết tâm sự lên mặt giấy. Nàng viết không phải để gửi cho chàng, điều ấy nàng đã nhất định, nhưng là để một kia chàng về đeo quả ấn vàng, Công Uẩn.

    Sẽ rót vơi lần lần từng chén,
    Sẽ ca dần ren rén từng câu,
    Câu vui lẫn với câu sầu,
    Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời.

    Bội Ngọc lần giở tập thơ; mắt nàng bỗng dừng lại trong một bài vịnh xuân mà nàng đã viết đầu năm ngoái, khi lòng nàng còn như một nụ hoa mới nhú chưa biết những mơn trớn của đông phong...

    Nắng ấm soi tán mộng khói sương,
    Đào phô vẻ thắm dưới xuân quang...
    Lan xông hương ngát, hồng cười nụ.
    Oanh báo tin xuân, cúc bẽ bàng!....
    Cây lộc nhởn nhơ mừng trẻ lại;
    Suối trong khúc khích giễu mơ màng.
    Bên song thiếu nữ, sầu chưa biết,
    Cười nhện đa tình khéo vấn vương.

    Hai câu sau cùng bỗng khiến Bội Ngọc thở dài, nàng nhắc bút đề:

    Năm xưa, em chửa biết sầu,
    Ngày xuân hớn hở lên lầu điểm trang,
    Bên mành, cười nhện vấn vương,
    Tiếng cười trong vắt tựa làn suối trong,
    Năm nay em đã biết sầu,
    Ngày xuân, chàng vắng, lên lầu vời trông.
    Liễu xanh tha thướt bên sông,
    Tuyệt mù nào thấy vân mòng chàng đâu?
    Dở dang tiếc khúc bạch đầu,
    Chàng ơi, tham ẩn phong hầu làm chi!...

    - Thơ hay nhưng phải cái nhu nhược!

    Bỗng nghe tiếng cha nói sau lưng, Bội Ngọc đúng phắt dậy sắc mặt như hoa đào

    - Con chớ thẹn: tình trai gái yêu nhau là một lẽ tự nhiên của trời đất. Có điều con không nên để cho sự nhu nhược xâm chiếm được cõi lòng. Người ta, trên tình trường, phải nghĩ đến non sông đất nước. Chồng con, vì việc quân vương, hăng hái ra biên thùy, con ở nhà chớ nên buồn thảm mà, trái lại còn nên tỏ ra xứng đáng với khách anh hùng mới phải, vì Lý Tướng quân chính là một bực anh hùng đệ nhất của đời nay đấy.

    Bội Ngọc cúi đầu, hối hận. Mấy nhời nghiêm huấn như ánh hào quang soi sáng cõi lòng u ám của thiếu nữ.

    - Thưa cha, con thực có lỗi đối với cha và với chồng con lắm!

    Phạm Thái sư cười :

    - Con đã biết hối, thì sự nhầm lẫn của con đã có thể bỏ qua rồi. Con chỉ nên nhớ luôn rằng chí làm trai dặm nghìn da ngựa chứ phải đâu lần lữa chốn buồng the. Vừa rồi cha đã nói với con: Lý Công Uẩn là bực anh hùng cái thế thời bây giờ. Không những chỉ vậy mà thôi, chàng còn có khí tượng thiên tử nữa. Nhà Lê, hiện nay, ân đức đã tuyệt, lòng trời đã muốn chuyển vần. Cứ xem như vừa rồi, ở làng Cổ Pháp, là quê hương Lý Công Uẩn, một cây gạo, sống khống biết đã mấy trăm năm, bị sét đánh tước lần vỏ ngoài, trên thân gỗ có một bài sấm bốn câu thì rõ

    - Cha có nhớ bốn câu sấm ấy chăng?

    - Có, sấm rằng:

    “Thụ căn liễu liễu.
    Mộc biểu thanh thanh
    Hoá đao mộc lạc
    Thập bát tử thành.”

    “Miệng đọc, tay viết, cụ đã lấy mấy chữ hòa, đao, mộc chắp thành ra chữ Lê, và thập, bát, tử chắp ra chữ Lý.

    “Cứ theo điềm này, - cụ nói tiếp - thì nhà Lê sắp mất, họ Lý sắp lên làm vua. Thiên hạ, nhiều người họ Lý nhưng xem ra thì không ai bằng Công Uẩn vì không những Công Uẩn có tài quán chúng, có dạ nhân từ mà thân thế chàng từ nhỏ lại rất khác thường.

    “Ông thân sinh Công Uẩn vốn xưa rất nghèo, phải đi làm ruộng ở chùa Tiêu Sơn để mưu sống. Một sư nữ trong chùa, thấy tình cảnh bác nông phu đem lòng thương hại rồi hai người yêu nhau. Mãi sau, sự vụng trộm của hai người bị sư cụ biết.

    “Ngài nổi giận, đuổi tất cả hai người đi nơi khác. Hai vợ chồng lạy tạ sư cụ rồi bước ra. Khi qua rừng Báng, hai vợ chồng dừng chân nghỉ cho đỡ mệt. Chồng khát nước, tìm ra cái giếng gần đấy để uống nước. Vợ, ngồi chờ mãi không thấy chồng về, vội chạy ra giếng tìm thì mối đã đùn lấp thành một nấm mồ cao.

    “Chị chàng khóc thương thảm thiết đoạn vào xin ngủ nhờ trong chùa Ưng Tâm gần đấy.

    “Thì, đêm trước hôm sư nữ đến chùa Ưng Tâm, sư cụ nằm mộng thấy Long Thần bảo rằng “Ngày mai, ngươi phải dọn chùa cho sạch vì có Thiên tử giáng lâm”. Tỉnh dậy, sư cụ làm theo lời thần mộng nhưng ngồi đợi từ sớm tới chiều chỉ thấy một sư cô có mang vào xin ngủ nhờ.

    “sư cụ lấy làm lạ, hỏi thì người đàn bà kể ngay chuyện mình cho sư cụ nghe. Sư cụ ưng để chị ta trọ ở Tam quan chùa. Được vài tháng, một đêm kia, trời mưa to gió lớn, sư cụ trở dậy thì lạ quá! Hương đâu thơm ngào ngạt cả chùa. Nghĩ tình, sư cụ truyền bà hộ ra Tam quan xem. Một lát sau, bà hộ bế vào trình sư cụ một đứa con trai mới đẻ và bạch rằng sư nữ, mẹ đứa bé đã chết sau khi ở cữ. Sư cụ ngắm nghía đứa bé, thấy ở trong lòng hai bàn tay nó in rõ bốn chữ son: Sơn hà xã tắc

    “Ngài hiểu rằng lời thần mộng đã ứng rồi, bèn hết sức nuôi dạy cậu nhỏ. Tháng, năm qua đứa bé vụt đã lên sáu tuổi. Một hôm, nhà sư truyền cậu bưng oản lên chùa cúng Phật, cậu ta tinh nghịch khoét hết lòng oản ăn trước.

    “Sớm hôm sau, sư cụ gọi chú nhỏ mà mắng rằng:

    “- Mày hỗn lắm, dám ăn vụng oản cúng.

    “Chú bé mủm mỉm cười:

    “- Ai mách mà cụ rõ?

    “- Đức Long Thần đã báo mộng cho ta.

    “Chú nhỏ tức lắm, định tâm báo thù người đã phản mình. Chờ lúc sư cụ ngủ rồi, chú nhỏ lẻn lên chùa, đánh vào cổ ông Long Thần ba cẳng tay đoạn lấy bút viết lên lưng pho tượng bốn chữ: Lưu tam thiên lý. Sáng sớm, nhà sư vừa thức giấc đã vội lên chùa xem, vì Long Thần có mộng cho nhà sư biết là có Thiên tử đày mình đi xa. Quả nhiên, sư cụ thấy chữ Công Uẩn viết trên lưng pho tượng. Sợ hãi, sư cụ lấy nước để rửa nhưng rửa thế nào cũng không sạch. Gọi Công Uẩn vào trách thì chú nhỏ lấy nướt bọt lau sạch ngay.

    “Năm Công Uẩn tám, chín tuổi, sư cụ cho sang chùa Tiêu Sơn để học nhà sư Vạn Hạnh. Công Uẩn rất thông minh nhưng học rất lười. Một hôm, cu cậu không thuộc bài, sư cụ bèn trói lại bắt nằm ngủ suốt đêm ở mặt đất. Công Uẩn vẫn trơ tráo như không lại còn ngâm câu đối chơi là khác".

    Bội Ngọc nghe cha nói đến đây, vội cúi mặt để giấu một nụ cười.

    Phạm Thái sư cũng cười:

    - Anh học trò biếng nhác ấy thế mà hay chữ đáo để! Anh ta ngâm:

    “Canh khuya chẳng dám giang chân duỗi.
    “Vì ngại non sông xã tắc xiêu!...

    “Sư cụ Vạn Hạnh, đã nghe sư cụ chùa Ưng Tâm kể chuyện Lý Công Uẩn, nay lại thấy chàng ngâm câu nọ, bỗng đem lòng kính sợ, vội nhảy xuống đất, cởi trói tha cho chàng...."

    Phạm Thái sư lặng im một lát đoạn bảo con:

    - Thân thế và khí phách Công Uẩn như vậy nên nhiều người tin chắc chàng sẽ làm vua. Ngọa Triều Hoàng đế cũng ngờ vực Công Uẩn, nên mới sai chàng vào Nam, có ý mượn quân Chiêm Thành giết chàng. Bạo chúa lại cho rằng cha cũng đồng mưu với Công Uẩn...

    Bội Ngọc giật mình nhìn cha; sắc mặt nàng biến hẳn...

    Phạm Thái sư thở dài :

    - Bạo chúa đã ngờ thì kẻ bị ngờ phải chết. Cha con ta đã tới lúc phải lìa tan rồi đây! Nhưng, cha dù chết cũng không ân hận gì. Cha chỉ lo cho con. Hiện giờ, Công Uẩn đi xa, cha thì không biết sẽ phải hạ ngục lúc nào...

    - Cha ơi!...

    - Cha định cho con lánh trước đi. Con hãy trốn về Cổ Pháp, vào chùa Tiêu Sơn nhờ sư cụ Vạn Hạnh che chở cho. Cha đã có thư cho sư cụ rồi.

    Bội Ngọc run:

    - Thưa cha, cả hai cha con cùng trốn đi có hơn không?

    Thái sư lắc đầu:

    - Không thể được! Cha đành cam chịu chết cho trọn nghĩa với nhà Lê. Cha không muốn hậu thế ngờ cha là một kẻ bầy tôi bất trung. Còn như con, con phải tạm lánh đi để chờ ngày khác....

    - Con lòng nào bỏ cha ở lại mà đi cho đành?...

    Bội Ngọc vừa nói vừa khóc nức nở...

    - Con không nên câu nệ quá. Vả lại, chính cha đây truyền lệnh cho con phải ra đi, con không được cưỡng lời. Con ra đi và nên tỏ ra là một người con xứng đáng của cha, người vợ xứng đáng của chồng con. Con hãy chờ lúc chàng về...

    - Nhưng đã chắc đâu chàng thoát tay bạo chúa?

    - Điều ấy, con chớ ngại. Lòng Trời đã định, người ta, dù là đấng vua chúa, không thể làm khác được. Lúc này, con nên tin ở Trời.

    - Cha ơi!...

    - Con không được nói gì thêm nữa! Con phải đi ngay bây giờ. Con hãy cải trang làm một gã thư sinh. Trong khi ấy, cha bảo nó gióng ngựa và dặn dò tên lão bộc Trọng Tín để nó theo hầu con...

    O ~ O ~ O

    Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ,
    Ba thước gươm một cỗ nhung yên.
    Xông pha gió bãi trăng ngàn,
    Tên treo đầu ngựa, pháo ran mặt thành...
    o O o

    8

    Bỏ lại phía sau tất cả sự náo nhiệt của kinh thành, sự sùng bái của quần chúng, sự nhớ nhung của một tấm lòng, Công Uẩn kéo quân thẳng xuống phương Nam, qua những cánh đồng đất sỏi, cây mọc lưa thưa và cằn cỗi, những bãi dừa cao vút, gió đánh rì rào...

    Dần dần, thảo mộc biến đâu hết cả, trơ ra những cồn cát mênh mông chạy tít đến chân trời.

    Về tay trái, bể Nam hiện ra, xanh ngắt, với muôn làn sóng bạc kế tiếp nhau tung bọt lên những bờ đá lởm chởm.... Xa xa về tay phải, dãy Trường Sơn, hùng vĩ như một mảnh thành còn sót lại của một thời đại hoang đường nào, hiện sừng sững trong lớp bụi sương hồng mờ ảo...

    Hơi nóng, tự vòm mây ngùn ngụt như lửa hung, gieo xuống, nặng nề, bức bối, và gió bể, đầy những bụi vàng lấp lánh và những khí vị lạ lùng nổi thành một tiếng vù vù sâu thẳm và liên tiếp không ngừng....

    Gần xa tứ phía, chỗ nào cũng hiu quạnh chỗ nào cũng buồn tênh, một nỗi buồn thoảng nhẹ mà người ta chỉ thấy ở trên cõi đất Chiêm Thành, quê hương của ái tình của máu và của những điệu hát rã rời, não ruột...

    Mỗi khi gió tắt, bụi cát thôi bay, không khí lại trong suốt như pha lê thì trên đường chân trời, người ta lại thấy một xóm mạc nhỏ ẩn dưới bóng dừa.... Những tiếng lá rung như vò lụa, những tiếng suối chảy như reo cười vẳng lại khiến cho voi ngựa dỏng tai, phỏng mũi và người ta, dù là các chiến sĩ hung hăng, phải ước ao một vài phút nghỉ ngơi, mơ mộng.

    Nhưng Công Uẩn nhất định gấp đường, vừa để cho quân thù không kịp phòng bị vừa nóng lòng trở lại kinh thành, nơi mà bao nhiêu tai nạn đang lăm le xảy tới cho các người thân yêu của chàng, như bão táp.

    Bởi thế nên, không rẽ ngang rẽ tắt vào đâu hết, Công Uẩn truyền ba quân thẳng trước tiến lên, gặp tối thì ngủ tạm ngay bên đường, khát thì uống nước ở ngay các vũng nhỏ.

    Chẳng bao lâu, những ngọn tháp đá thứ nhất đã lù lù hiện ra, in hình gở lạ lên trời xanh trong vắt... Địa thế cũng mỗi ngày một thêm hiểm trở, những gò đá khô khan cháy nắng, những thung lũng quanh co đầy bóng tối liên tiếp nhau, nom có vẻ hoang vu đáng sợ, hình như dấu vết của một trận hỏa tai khổng lồ nào còn để lại

    Cảnh đìu hiu vắng ngắt dấu người, ấy thế mà thực ra, chính đó là sào huyệt của giặc.

    Công Uẩn cho một số lính tản ra các nơi dò thám thì đều nhận được rất nhiều vết chân của bọn Chiêm Thành cùng những vật dùng hư hỏng mà chúng đã quăng bỏ....

    Binh sĩ nước Nam cảm thấy rạo rực trong lòng: cuộc viễn chinh giờ đã tới đích; gươm đao sắp được mang ra thử. Mà, trong khoảng đất trời hiu quạnh ấy, những cuộc xung phong ghê gớm không biết chừng sẽ nổ bung ra lúc nào!...

    Lúc này, quân Nam tiến một cách dè dặt....

    Cõi đất Chiêm Thành đồi núi trùng điệp chạy tít tắp đến chân mây.... Hết thảy đều một vẻ chói lòa, man dã: ánh nắng hoa mắt; cát trắng hoa mắt xào xạc dưới chân người và chân voi ngựa; cỏ cây cháy xém dưới mặt trời:
    vòm không vẩn những mây chì cau có....

    Mấy nghìn linh hồn bị kích thích, giương mắt, giỏng tai, như một đàn dã thú rình mồi, lắng nghe những tiếng âm thầm văng vẳng....

    Đó là những tiếng động thảm thê và ai oán hình như tự lòng đất thoát lên.
    Khách lữ hành không ai là không từng đã chú ý đến sự lạ lùng đó nên thường bảo nhau rằng: sứ Chiêm Thành là cõi đất của những oan hồn....

    Rồi, một buổi kia, vừa qua một dải đồi lởm chởm, Nam quân bất thần rơi xuống đoàn binh của giặc.

    Đêm tối như mực, lại thêm gió bể gào thét liên miên khiến quân Chiêm Thành không hay không biết gì cả.

    Mặt trăng hạ tuần đã mọc nhưng vẫn ỡm ờ lẩn lút trong mây đen.

    Công Uẩn mỉm cười:

    - Thực là Trời giúp ta!

    Chàng ra lệnh cho kỵ binh và tượng binh bao vây tứ phía, không để một tên nào chạy thoát rồi thân tự dẫn bộ quân lẻn vào giữa trại giặc...

    Không ngờ sự xảy ra, lũ mọi Chiêm Thành yên chí ngủ lăn như chết. Những tên quân canh cũng thu hình trong những tấm da dê, lim dim gật gưỡng.

    Binh sĩ nước Nam, im lặng như những cái bóng, bò dần vào. Mỗi người cầm một thanh đao cực sắc hoặc cầm một cái thuốn có ngạnh như lưỡi câu dùng để giựt ra từng mảnh thịt mỗi khi đã đâm trúng bất cứ một chỗ nào trong thân thể kẻ thù. Họ nín tiếng bò trong đêm tối, chẳng khác một đàn rắn độc.

    Khi đã vào hẳn bên trong rồi, họ bất thần hò reo inh ỏi; những ánh binh khí lập lòe như muôn vàn ánh chớp cứ nhè ngực, cổ, gáy, bên địch mà cắm vào phầm phập...

    Một cảnh hỗn loạn ghê gớm diễn ra trong ánh trăng mờ...

    Những tiếng thở rít qua những tấm ngực thủng, những tiếng rên hấp hối, những tiếng gào thét dã man, những tiếng sắt va nhau, những tiếng ngựa, dê, bò rống vỡ lở, tán loạn khiến cho đêm lạnh rùng mình!... Những luồng máu nóng dội ồng ộc trên các mảnh thân tan nát xông lên một mùi gây gây, nhạt nhẽo.

    Bên trên cảnh chém giết tơi bời: gió bể vẫn kêu gào thảm thiết, hình như đó là một linh hồn đang hoảng hốt chạy về phía những cha già, vợ goá, con thơ để nhắn họ:

    “- Khóc đi! Hãy khóc đi, khóc những chinh phu, tử sĩ đang phơi thây trên mặt chiến trường!

    Hồn sĩ tử gió ù ù thổi;
    Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.
    Chinh phu, tử sĩ mấy người,
    Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn ?
    (Nguyễn Thị Điểm)

    Hai bên đánh nhau suốt sáng. Dần dần, muôn tiếng sát phạt im bẵng.... Trong khoảng mơ hồ hiu quạnh chỉ còn nghe một tiếng văng vẳng oán than...Bình minh rụt rè như kinh hãi phải trông thấy cảnh đầu rơi thịt nát. Vầng chiêu dương, bạo hơn, ngạo nghễ soi nụ cười chói lọi trong những vũng máu đào....

    Công Uẩn truyền gọi loa điểm lại sĩ tốt. Trừ vài chục tên bị thương xoàng, Nam quân không hao hụt mất người nào.

    Về bên giặc, hết thảy đều nằm ngổn ngang trên mặt đất! Tám mươi thủ cấp lặn trong cát bụi chứng tỏ sự tòan thắng của Lý Tướng quân. Chàng, áo bào nhuộm máu, đứng trước ba quân, oai dũng như một vị thần Phá Hoại.

    Công Uẩn sai thu những thủ cấp giặc bỏ vào những chiếc túi da dê đem về kinh vì đó là món đồ giải trí sở thích của vua Ngọa Triều.

    Chàng lại cho sục các hang đá xung quanh thì tóm ngay được vua Chiêm Thành cùng mấy viên quan hộ giá.

    Công Uẩn thoạt đầu toan giết tất, nhưng sau chàng nghĩ lấy uy khiếp chúng sao bằng lấy đức phục nhân tâm, bắt chước Gia Cát Lượng đời Tam Quốc thất cầm thất phóng Mạnh Hoạch, chàng gọi vua Chiêm lại gần mà bảo rằng:

    - Hỡi Man Vương! Nước Nam tuy đủ binh hùng tướng dũng mà có bao giờ gây chuyện với lân bang? Là vì đức Hoàng đế ta nghĩ rằng binh đao là phúc lớn của quần sinh nên Ngài không nỡ đất bằng gây cuộc phong ba khiến cho đống xương vô định những cao bằng đầu.

    “Thế mà nhà vua tự nhưng bỏ lễ triều cống, manh lòng phản trắc khiến cho rút lại biết mạng sĩ tốt phải tan tành trong cát bụi, như thế có phải rằng nhà vua đã cố tình phạm tội bất nhân, bất tín chăng?

    “Hôm nay, ta, vâng mệnh Thiên tử, cầm quân tinh nhuệ ra đây mới đánh một trận mà toán binh sĩ của nhà vua đã như ngói tan trúc chẻ. Không những thê thân ngàn vàng của nhà vua cũng sa vào cạm lưới nốt: cơ nghiệp bá vương từ nay chẳng qua một mớ tro tàn.

    “Nhưng, ta không nỡ để cho như thế. Người đời ai cũng có thể nhầm, miễn biết hối quá thì thôi. Ta đây không phải như Bạch Khởi, Hạng Vũ giết kẻ đã bại, đã hàng.

    “Và, trước cảnh diệt vong đã sờ sờ trước mắt, nhà vua hẳn lấy làm hối hận. Ta mong sao sự hối hận ấy sẽ là bước đầu sự hòa hảo chân thành giữa hai nước từ nay về sau. Ta vui lòng tha cho nhà vua về nước. Không những thế, ta còn sẵn sàng ủng hộ cho nhà vua giữ vững ngai vàng của tổ phụ mấy đời. Nhà vua nên mau mau dâng biểu sám hối lên Thiên tử, xin lại triều cống như mọi khi, dẹp hết lòng phản bội để cho bách tính được an cư lạc nghiệp.

    “Nhược bằng nhà vua, khi được tha về, lại vẫn cậy thành cao hồ rộng, lương thực nhiều, binh lính giỏi,cứ gây cuộc binh đao thì chỉ trong sớm tối ta sẽ kéo quân tới Chà Bàn hỏi tội. Lúc ấy, ngọc đá khôn phân, nhà vua có van nài cũng không ích gì nữa !"

    Nghe Công Uẩn nói, Man Vương chỉ cúi đầu nín lặng. Hai giọt nước tự hai khóe mắt hắn từ từ lặn xuống ngực chiến bào...

    Công Uẩn vừa dứt lời, hắn vội thụp xuống đất lạy tạ:

    - Tướng quân thực là người trời! Quả nhân biết mình tội lỗi đã nhiều xin cam đoan từ nay dốc lòng cải quá, quy thuận Thiên Triều để tạ cái ân đức tái sinh của Tướng quân. Quả nhân không bao giờ để cho xảy ra việc can qua nữa. Tướng quân có thể về Kinh cho sĩ tốt nghỉ ngơi.

    - Tôi xin tin ở lời hứa của nhà vua.

    Ngập ngừng một lát, Man Vương khẽ nói:

    - Nhưng, trước khi tướng quân về, quả nhân muốn rước Tướng quân sang chơi Chà Bàn trong ít bữa để quả nhân được tỏ lòng kính mộ. Dám mong Tướng quân thể tình mà nhận cho.

    Công Uẩn không chút hoài nghi:

    - Vâng, nhà vua đã có lòng, tôi không dám trái lệnh. Xin nhà vua lên đường trước Tôi chuẩn bị tam quân thủng thẳng tiến theo sau.

    O ~ O ~ O

    Đóa lê ngon mắt Cửu Trùng,
    Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng siêu.
    Vẻ vưu vật trăm chiều chải chuốt,
    Lòng Quân Vương chỉ chút trên tay,
    Má hồng không thuốc mà say,
    Nước kia muốn đổ, thành này muốn nghiêng...
    Ôn Như Hầu
    o O o

    9

    Vua Ngọa Triều suốt ngày đêm mơ tưởng Bội Ngọc. Sự thèm thuồng của đấng vương giả, lần ấy là lần thứ nhất, không thực hiện được như lòng.

    Ngài bực tức lắm, tuy trên mặt rồng, vẻ thờ ơ vẫn y nhiên như pho tượng đá. Sự căm hờn lặng lẽ đã khiến viên Cửu Môn đề đốc phải rơi đầu vì tội đã bắt được Phạm Thái sư mà còn để Bội Ngọc trốn thoát. Ngài lại đã truyền lệnh tra tấn Phạm Thái sư bằng tất cả mọi thứ cực hình nhưng vị lão thần vẫn nhất định cắn răng.

    Trước thái độ gan góc ấy, vua Ngọa Triều cảm thấy nỗi mệt nhọc của những lớp sóng kình không lay chuyển hòn đá tảng. Đã tức giận, nhà vua càng tức giận không biết chừng nào! Ô hay, sự ham muốn của ông vua độc đoán, như mũi tên do tay thiện xạ bắn ra, lại có thể không trúng đích được sao?....

    Đó là điều mà bạo chúa không ngờ. Ngạc nhiên, vua Ngọa Triều lúc ấy cảm thấy mình cũng chỉ là một người.

    Ngài âm thầm suốt ngày trong cung cấm, không nói, không rằng, cũng không cho phép ai được tấu đối sự gì cả. Một tên cung nữ, cậy mình được vua sủng ái nhất, khẽ mon men lại gần bên Ngự tọa. Nhưng, hắn vừa mở miệng thì cả một chiếc bình sứ cổ đã vỡ toang trên đầu hắn!... Đoàn thiếu nữ túc trực hai bên tả hữu đều kinh hồn nín thở. Chúng câm như thóc, đứng rõ im, tựa hồ muốn lẫn với các bức tượng đồng...

    Rồi, đáng nhẽ cứ ngồi tốt trên ngai như vị thần thiêng muốn gì được nấy mà không phải nhọc lòng cử động, vua Ngọa Triều đứng phắt dậy, đi quanh trong phòng: Ngài nóng lòng chờ tin của bọn nội giám sai đi lùng Bội Ngọc.

    Vua qua chỗ nào, bọn thị vệ chỗ ấy lại một phen bở vía. Chúng dán mình vào vách, cố giữ mà toàn thân chúng vẫn như đám sậy gió rung....

    Giữa lúc ấy, một tên nội giám ở ngoài chạy về để báo tin rằng Bội Ngọc có lẽ không còn có ở kinh thành...

    Vua Ngọa Triều vung chiếc dùi đồng cầm trong tay; tên nội giám lăn ra chết thẳng.

    Một lát sau, một tên khác chạy về. Trông thấy xác bạn, hắn run như rẽ....

    - Bội Ngọc đâu?

    Ngã khụy xuống trước mặt vua, tên nội giám cố nói:

    - Tâu.... Bệ hạ.... thần đẳng không thấy dấu vết Phạm tiểu thư đâu cả!...

    Chiếc dùi đồng lại giáng xuống như sét đánh; tên nội giám ngã quay xuống gần bên mình bạn.

    Tên thứ ba cũng lại như hai tên kia.

    Và, sự tức giận càng như lửa cháy trong lòng, vua Ngọa Triều bước thẳng lên lầu Ngọ Môn...

    ...Mặt trời đã gần khuất sau dãy núi phương Tây màu tím thẫm; ánh nắng vàng ngùn ngụt trên các chỏm cây to và các ngọn tường rêu phủ trong khi, ở các nơi khuất bóng, sương chiều đã rãy xuống cảnh vật một lớp bụi phấn mơ hồ.

    Đứng trơ như một tảng đá, vua Ngọa Triều nhìn cảnh tàn mà uất cho cái uy quyền không tuyệt đối của mình....

    Trong lúc ấy, muôn vàn tinh tú kế tiếp nhau hiện ra trong thẳm mù khơi.
    Những con dơi đêm bay vùn vụt quanh đầu vua như những ý nghĩ đen tối chợt hiện ra rồi tan mất....

    Vua thở dài thất vọng:

    - Cả một đất nước mở ra dưới chân ta kia gồm có bao vạn sinh linh chưa thấy bóng ta đã vội gục đầu xuống cát bụi. Mỗi một câu ta nói là một cái mệnh lệnh thiên thần đối với chúng. Ta ngự qua chỗ nào là y như một cơn dịch lệ qua chỗ nấy. Một mũi tên của ta bắn ra đủ làm rung chuyển bốn phương trời. Ấy thế mà, đến nay, sự ao ước nhất của ta không được thoả!

    Ngài nghiến răng ken két rồi truyền gọi Đinh Thọ.

    Hoảng kinh như phải ra trước mắt Tử thần, Đinh Thọ quỳ mọp xuống sân gạch, khẽ bò dần lại bên vua. Hắn ngửa mặt trông lên, khẽ cất giọng van nài tha thiết:

    - Tâu thánh thượng, Ngài sinh phúc cho hạ thần: tiểu thư Bội Ngọc, con Phạm Thái sư, mà Thánh y đã muốn thâu dụng, hạ thần dám chắc không trốn đâu thoát khỏi. Hạ thần đã dò biết rằng nàng mặc giả trai chạy sang vùng Đình Bảng xứ Kinh Bắc rồi. Thần sẽ tìm cho kỳ được tiểu thư Bội Ngọc về dâng Thánh thượng. Một khi đã vào tới Thâm cung, thấy cuộc đời vương giả cực kỳ tôn quý, nàng sẽ tự mình vui vẻ nhận vào hàng cung nữ được chầu chực mình rồng.

    - Nhà ngươi đã biết đích xác Bội Ngọc trốn vậy nhà ngươi còn đợi gì mà chưa bắt nàng về đây?

    Đinh Thọ cúi đầu, run như cầy sấy.

    Vua Ngọa Triều nghĩ thầm: Bội Ngọc phải ẩn lánh ta như vậy có lẽ nàng đã dan díu cùng ai rồi chăng?... Hẳn lại chỉ Công Uẩn!...

    Nghĩ vậy, vua Ngọa Triều bỗng nghiến hai hàm răng, sắc diện Ngài đỏ bừng như lửa, lần thứ nhất bao nhiêu máu trong mình Ngài dồn cả lên gương mặt thờ ơ... Nhưng lại xanh tái, lông mày Ngài cau lại, mắt Ngài quắc lên, dữ tợn đến nỗi Đinh Thọ ngất đi....

    Ngài đá mạnh vào người tên Thái giám:

    - Nhà ngươi mau mau đem quân Ngự lâm ra thành, tiến thẳng sang Kinh Bắc khám hết các dinh thự, các đền đài, các tư gia, cho đến lều tranh vách đất cũng không từ, đem cho được Bội Ngọc về đây, mặc dù nàng còn sống hay đã chết. Nếu không được thế, nhà ngươi sẽ phải đem thân làm mồi cho con mãnh hổ của Trẫm!...

    Đinh Thọ lạy năm lạy đoạn xuống cổng thành để thực hành đế mệnh.

    Vụt chốc toàn thành nổi lên tiếng động long trời và, nếu vòm trời không xanh thẳm, cỏ cây không im lặng, người ta có lẽ ngờ rằng nổi trận phong ba: Đó là đoàn Ngự lâm quân, ngồi trên các chiến xa lớn sơn đen rầm rộ kéo ra thành...

    O ~ O ~ O

    (Còn Tiếp)

    Nước doanh hán, việt đồng rửa sạch,
    Khúc nhạc tử, réo rắt lừng khen
    Tài so Tần, Hoắc vẹn tuyền,
    Tên ghi gác Khói, tượng truyền đài Lân.
    Nguyễn Thị Điểm
    o O o

    10

    Qua một cõi mông mênh những núi đá, những cồn cát, những tháp dị hình, những làng mạc lẻ loi ẩn dưới bóng dừa, Công Uẩn và đoàn dũng sĩ tiến thẳng tới Kinh thành Đồ Bàn, quê hương của các vũ nữ mà chàng vẫn nghe đồn như các tiên nga trong cổ tích.

    Nhô lên từ các bí mật nên thơ của vườn Ngự uyển và rực rỡ trong ánh sáng rực rỡ của mặt trời giội lênh láng xuống muôn khóm hoa tươi mơn mởn trên nền lá bóng xanh như ngọc, những cung điện bằng cẩm thạch màu vàng màu tím, theo một lối kiến trúc lạ lùng, đột hiện trước mặt Lý Công Uẩn như một cảnh rỡ ràng trong mộng ảo...

    Chàng dừng ngựa, mở to cặp mắt ngắm mê man hằng trống canh, chẳng khác nhà thi sĩ đắm say một bài thơ đẹp.

    Mãi sau, chàng mới truyền lệnh cho nhạc binh cử khúc quân thiều để báo tin vào kinh thành. Quả nhiên cổng thành mở rộng, một đám đông sặc sỡ hiện ra với muôn tiếng ồn ào của nhã nhạc, của người reo, vật rống....

    Vua Chiêm Thành ngự trên mình con voi trận thắng đủ bành khấu thêu vàng dát ngọc, tiến lên trước để mừng đón ân nhân, theo ngài là các võ tướng, giáp trụ đầy mình, cười trên lưng những con ngựa tuyệt đẹp, sau cùng là cả một bể người ồ ạt...

    Khi chỉ còn cách Lý Công Uẩn độ chừng mười thước, vua Chiêm Thành ra hiệu để quản tượng bắt voi quỳ xuống đoạn nhà vua chắp tay vái Công Uẩn mà nói rằng:

    - Hỡi người, tôi xin kính chào Người, tôi để lên miệng và lên ngực tôi vì từ nay miệng tôi sẽ chỉ nói với Người những câu thành thực, lòng tôi sẽ chỉ rung động bởi sự biết ơn.

    Dút lời, nhà vua phất tay áo ngự một cái?

    Đoàn võ tướng, từ nãy im lặng như tượng đất, vụt phóng ngựa chạy vòng quanh trước mặt Công Uẩn và hò reo ầm ĩ. Thực là một cảnh tượng phi thường, một cơn lốc ngũ sắc, trong đó, ánh gươm lấp loáng dưới nắng chiều như muôn nghìn tia chớp điện...

    Khung cảnh chung quanh tựa hồ giúp thêm vẻ tráng lệ cho cuộc biểu diễn oai hùng; mặt trời, giống hệt quả cầu bằng máu đang từ từ chìm mất, trong vùng lửa hoàng hôn. Những dải núi xa hiện trên nền da cám từng đám máu, thẫm tím vĩ đại. Một vài dải mây xám viền lửa đỏ, lơ lửng giữa vòm không trong biếc. Từng đám hơi nóng tự mặt đất bốc lên ngùn ngụt. Sương lam bắt đầu lan trên những đồng rộng mênh mông...

    Lý Công Uẩn, sau khi tấm tắc khen thầm bọn vũ tướng Chiêm Thành, cũng muốn tỏ cho họ biết tài các tướng tá của mình. Chàng vẫy tay một cái, tức thì các tướng Nam, sóng nhau từng đôi một, bắt đầu biểu diễn. Họ cắp chặt lấy yên, thúc cho ngựa phi sát đất, tay múa siêu đao loang loáng hoặc tung bổng lên không rồi lại bắt lấy một cách dễ dàng.

    Đám đông dân chúng Chiêm Thành vỗ tay khen ngợi và hoan hô như sấm.

    Nhìn theo đoàn tướng tá của mình. Công Uẩn thích chí cười khanh khách.

    Máu trong người chàng sôi lên. Hồn thượng vũ rạo rực, chàng quát một tiếng to, con ngựa bạch nhảy chồm một cái đoạn lao thẳng xuống đồi như một mũi tên bắn, Công Uẩn đứng phắt lên yên ngựa. Chiếc áo bào chàng mặc bay tung trước gió chẳng khác một lá cờ hồng....

    - U ha!.... U ha!....

    Khán giả say sưa, cùng gào lên như bão rống....

    Công Uẩn nhào đầu ra phía trước, chân quắp lấy cổ ngựa, chòm mũ chỉ cách mặt đất chừng một gang tay. Vụt cái, chàng lại ngồi thẳng trên yên, rẽ cương cho ngựa quay đầu lại rồi, như chớp loáng, chàng nhảy tới trước mặt vua Chàm. Bỗng, con ngựa chàng cưỡi choãi thẳng bốn chân, đứng sững lại rồi cả người cả ngựa im phăng phắc nom chẳng khác một pho tượng bằng đồng hun của một nhà điêu khắc đại tài .

    Cả cái bể người ầm ầm nổi sóng....

    Công Uẩn vẫn điềm nhiên, chàng thủng thỉnh cùng vua Chàm tiếng thẳng vào cổng thành....

    Trong nội điện, yến diên đã chực sẵn. Vua Chàm mời Công Uẩn ngồi vào ghế thượng tân đoạn truyền cử nhạc. Tức thì những tiếng tơ đồng, tiếng sênh phách, tiếng tiêu quyển nổi lên, nhịp theo một điệu hát lạ lùng ngây ngất !...

    Tiếng đàn tiếng hát mới buồn làm sao! Nó gợi ra trong lòng tráng sĩ tất cả nhớ nhung u ẩn, những sầu muộn mênh mông; nó đem cho cơ thể một nỗi chán chường tê tái.

    Bọn vũ nữ, quỳ hai hàng trên những nệm thêu ngũ sắc và đương mơ màng xa vắng, bắt đầu rung động, thổn thức đoạn từ từ đứng dậy....

    Một chiếc mũ đầu mâu nhọn hoắc bằng vàng đính ngọc che kín mái tóc mây, như cả một trời sao lấp lánh; những vòng vàng rung rinh trên ngực; bộ áo giáp ken bằng vẩy bạch chẽn lấy cái mình dẻo như một đoạn song non; một đôi vòng nhạc đeo quanh hai cổ chân; y phục của bọn vũ nữ một loạt như nhau cả.

    Bị ảnh hưởng của âm nhạc, họ bắt đầu uốn éo, ngả nghiêng, vặn mình như đàn rắn, quỳ xuống, đứng lên, chắp hai bàn tay về trước ngực hoặc dang thẳng ra hai bên, chờn vờn như đàn chim sắp cất cánh.... Họ theo đúng từng nhịp của đàn hát, diễn ra một cảnh tượng huyền ảo, dưới ánh ngũ sắc huyền ảo của những chiếc đèn lồng...

    Công Uẩn ngây ra nhìn; chàng bâng khuâng tưởng đâu mình lạc tới một cuộc dạ hội thần tiên. Thực chưa bao giờ những thanh sắc trên thế gian đã não nùng, xúc động lòng chàng đến thế. Bao nhiêu chí khí ngang tàng nhiệt liệt bao nhiêu năng lực phấn đấu oai hùng của chàng đều đi đâu mất. Trong giây phút ấy chàng cảm thấy tâm hồn dào dạt như muốn tan ra thành muôn vạn nỗi nhớ niềm thương....

    Chàng không phải là một chiến sĩ nữa, chàng cũng không phải là một thi nhân. Chàng đã trở nên một khách si tình, yêu vơ vẩn.

    Mà không yêu sao được!

    Quanh mình chàng, biết bao là gái đẹp lượn lờ trong một bầu ánh sáng của mộng mị, biết bao nhiêu làn sóng mắt làm đắm đuối tim chàng, biết bao nhiêu nụ cười đốt cháy da thịt chàng, biết bao nhiêu tấm thân mềm dẻo bỡn cợt chàng bằng những ước hẹn ngấm ngầm say sưa.... Say sưa hơn nữa vì hết thảy những vẻ đẹp thấp thoáng quanh mình chàng lúc ấy đều thuộc về một thế giới khác, một thế giới gần như của tưởng tượng.... Chàng thấy ở mỗi vũ nữ Chiêm Thành một bài thơ tuyệt diệu những tối nghĩa mà chàng muốn hiểu!...

    Vua Chiêm Thành cười ngất. Nâng chiếc chén ngọc. Ngài vui vẻ uống một hớp rượu thơm nồng đoạn bảo Công Uẩn:

    - Tướng quân! Một người anh hùng như Tướng quân mà không được làm vua một nước, nghĩ thực cũng uổng một đời!

    Công Uẩn giật mình ngồi thẳng dậy. Chàng vừa ở cung trăng rơi xuống cõi hồng trần. Bao nhiêu nghĩa vụ đối với nước nhà, bao nhiêu trách nhiệm của một viên chủ tướng cầm sinh mệnh toàn thể sĩ tốt trong tay vụt lại trở về với trí nhớ của chàng. Hình ảnh vua Ngọa Triều độc dữ, hình ảnh Phạm Thái sư già nua, hình ảnh Bội Ngọc buồn rầu kế tiếp nhau hiện ra trước chàng loang loáng....

    Chàng vụt nhớ tới những nỗi lo sợ khi cầm quân ra đi, những tai vạ tầy đình treo lơ lửng trên đầu những người mà chàng yêu dấu. Tấm lòng chàng đương ngây ngất, vụt trở nên hăng hái lạ thường. Chàng phải lo đương đầu với May, Rủi. Ngoảnh trông về tổ quốc xa xa. Công Uẩn bồn chồn; tim gan như lửa đốt. Chàng giận không có đôi cánh bay về cho nhanh.

    Giũ áo đứng lên, Công Uẩn từ tạ:

    - Nhà vua có lòng hậu đãi, bổn soái thực thâm cảm thịnh tình. Chỉ tiếc cuộc vui ngắn ngủi, đêm đã hồ tàn, vậy xin bái từ.

    - Vâng, Tướng quân đã muốn nghỉ ngơi, Trẫm cũng không dám nài ép. Nhưng, trước khi Tướng quân lui về hổ trướng, Trẫm xin Tướng quân hãy tin ở sự thành thực của Trẫm. Trẫm xin thề trước Đức Thích Già Mầu Ni Phật rằng nếu Trẫm có lòng nào phản bạn xin đức Phật ngài tuyệt diệt Trẫm, và cả hoàng tộc Chiêm Thành.

    O ~ O ~ O
    (Còn Tiếp)

    11

    Vẫn chưa có tin gì về Bội Ngọc!... Trong cung cấm, vẫn một bầu không khí nặng nề những khủng và bực dọc.... Vua Ngọa Triều vẫn ngồi không yên ổn đứng không vững vàng...

    Bạo chúa là một vị quân chủ độc dữ ngang với Hoàng đế Néron nước La Mã hoặc Trụ Vương đời nhà Ân bên Trung Hoa. Tính nóng như lửa mỗi cơn lôi đình của nhà vua là cả một phong ba. Và lại, chữ nghĩa ít, kiến thức nông nổi tuy tính rất kiêu ngạo. Nhà vua, bởi thế, thường tỏ ra là một người mê tín như đàn bà. Sự mê tín ngu dốt ấy càng khiến bạo chúa lắm khi coi rất rẻ mạng người, cái mạng của bất cứ kẻ nào mà bạo chúa ngờ có thể hại cho Ngài, hoặc chỉ vô ích cho Ngài.

    Một nhân cách như thế thường biểu lộ ra trên nét mặt đầy sát khí; bạo chúa mang trong lòng biết bao nhiêu tội ác nó hiện rõ trong cặp mắt vô cùng nham hiểm. Ngài thực là hiện thân của thần Tam Bành.

    Tuy vậy, vua Ngọa Triều cũng run sợ cho tính mệnh của mình lắm.

    Trong những phút hiếm hoi mà cái oai quyền tuyệt đối của nhà vua bị lung lay, trong những phút mà những cơn say máu người đã nhạt, bạo chúa cũng ngầm hiểu rằng quanh mình Ngài, sự oán hờn như nước thủy triều càng ngày càng lên mạnh và có thể ngập lỉm Ngài đi lúc nào không biết. Chính những lúc ấy bạo chúa tỏ ra mê tín nhất, hay cầu đảo thần minh, hay hỏi dò bói toán nhất, lại hay thi những hình phạt thảm thê nhất mục đích như đem máu người để làm ngạt những âm mưu tưởng tưọng do trí Ngài sảng sốt bày đặt ra.

    Bầy tôi của Ngài, bị đè nén, đều cúi rạp mình dưới sự đe doa. của mã tấu.

    Cái cực hình, mà hai tên cung nữ sủng ái vừa phải chịu khiến cho những kẻ tự đắc nhất cũng phải tiêu hồn. Hai kẻ khốn nạn ấy, bị tình nghi là đã dùng lời bât kính để nguyền rủa quân vương. Bạo chúa nổi trận lôi đình, truyền gọi hai phạm nhân đến trước Ngự tọa rồi chính Ngài thân tự cầm bảo kiếm xả chúng ra làm muôn mảnh.

    Ngài muốn rằng sự trừng phạt ấy sẽ làm cho kẻ khác muốn theo gương hai đứa bầy tôi bất trung kia phải khiếp vía. Cái ý định ấy quả nhiên hiệu quả: những ai oán thù vua nhất cũng chỉ đành cắn răng chờ đợi cái phút mà phàm người ta ai cũng đều phải qua...

    Sống giữa sự khủng khiếp và sự thâm thù. Nhà vua tuy vậy vẫn đường hoàng hưởng những khoái lạc dâm cuồng do ba nghìn mỹ nữ cung tần hiến hàng ngày.

    Một người như thế, ai tưởng còn có thể yêu được nữa! ấy thế mà vua Ngọa Triều đã yêu say đắm, yêu như một cậu thư sinh mười chín tuổi.

    Mối tình đột ngột và thiết tha nung nấu ấy khiến vua Ngọa Triều đã chán chường nhục dục, bỗng như một cây cằn cỗi gặp trận mưa xuân.

    Thực thế, nhà vua, từ lúc thoáng nom thiếu nữ trên sông, thấy mình như đổi mới, hơn nữa, thấy mình trở nên một người khác hẳn, nhà vua cũng bắt đầu hy vọng điên rồ, cũng nhớ nhung vơ vẩn, cũng ghen tuông một cách vô nghĩa lý như một anh chàng si chửa biết đời.

    Mối tình khẩn thiết ấy, thêm có một oai quyền nhất thống, một tâm tính hiếu sát, càng trở nên mạnh mẽ và ghê biết chừng nào!

    Nó là cả một lớp sóng ngất trời bị cái thái độ kiêu hãnh, của Phạm Thái sư và s


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group