Những Lễ Tết Cổ Truyền ở Việt Nam - unknown

  • hann_80

    khoảng 1 10 năm trước
  • 1. Tết Nguyên Ðán
    Một năm, người Việt có nhiều lễ, tết, riêng Tết Nguyên Ðán (đúng mồng một tháng giêng âm lịch) là ngày tết lớn nhất nên còn được gọi là tất cả. Ðây là thời điểm kết thúc mùa màng, mọi người rảnh rỗi nghỉ ngơi vui chơi, thăm viếng lẫn nhau... và cũng là lúc giao thời của đông tàn xuân tới.
    Theo phong tục cổ truyền VN, Tết Nguyên Ðán trước hết là tết của gia đình. Chiều 30 tết, nhà nhà làm lễ cúng "rước" gia tiên và gia thần, thể hiện tình cảm uống nước nhớ nguồn. Trong 3 ngày tết diễn ra 3 cuộc gặp gỡ lớn ngay tại một nhà. Thứ nhất là cuộc "gặp gỡ" của các gia thần: Tiên sư hay Nghệ sư - vị tổ đầu tiên dạy nghề gia đình mình đang làm. Thổ công - thần giữ đất nơi mình ở và Táo quân - thần coi việc nấu ăn của mọi người trong nhà.
    Thứ hai là cuộc "gặp gỡ" tổ tiên, ông bà... những người đã khuất. Nhân dân quan niệm hương hồn người đã khuất cũng về với con cháu vào dịp Tết.
    Thứ ba là cuộc gặp gỡ của những người trong nhà. Như một thói quen linh thiêng và bền vững nhất, mỗi năm tết đến, dù đang ở đâu làm gì... hầu như ai cũng mong muốn và cố gắng trở về đoàn tụ với gia đình.

    2. Tết Khai Hạ
    Theo cách tính của người xưa, ngày mùng Một tháng Giêng ứng vào gà, mùng Hai - chó, mùng Ba - lợn, mùng Bốn - dê, mùng Năm - trâu, mùng Sáu ngựa, mùng Bảy - người, mùng Tám - lúa. Trong 8 ngày đầu năm cứ ngày nào sáng sủa thì coi như giống thuộc về ngày ấy cả năm được tốt. Vì vậy, đến mùng Bảy, thấy trời tạnh ráo thì người ta tin cả năm mọi người sẽ gặp may mắn, hạnh phúc.
    Mùng Bảy kết thúc Tết Nguyên Ðán thì cũng là lúc bắt đầu Tết Khai hạ - Tết mở đầu ngày vui để chào mùa Xuân mới.

    3. Tết Thượng Nguyên
    Tết Thượng nguyên (Tết Nguyên tiêu) vào đúng rằm tháng Giêng-ngày trăng tròn đầu tiên của năm. Tết này phần lớn tổ chức tại chùa chiền vì Rằm tháng Giêng còn là ngày vía của Phật tổ. Thành ngữ: Lễ Phật quanh năm không bằng Rằm tháng Giêng" xuất phát từ đó. Sau khi đi chùa, mọi người về nhà họp mặt cúng gia tiên và ăn cỗ.

    4. Tết Hàn Thực
    "Hàn thực" nghĩa là ăn đồ nguội. Tết này, vào ngày mùng Ba tháng Ba (âm lịch).
    Thời Xuân Thu ở Trung Quốc, Công tử Trung Nhĩ (về sau là vua Tấn Văn Công) khi gặp cảnh loạn lạc, đói quá, được Giới Tử Thôi cắt thịt đùi mình nấu dâng cho ăn. Sau 19 năm phiêu bạt, Trung Nhĩ lại trở về nắm giữ vương quyền nước Tần. Vua ban thưởng cho tất cả những người đã cùng mình nếm mật nằm gai, nhưng lại quên mất Tử Thôi! Tử Thôi đưa mẹ vào sống ở núi Ðiền. Lúc vua nhớ ra, cho người tới mời mà không được. Vua sai đốt rừng để Tử Thôi phải ra. Nhưng Tử Thôi không chịu và hai mẹ con cùng chết cháy! Ðau xót, vua sai lập miếu thờ trên núi. Hôm ấy đúng ngày mùng Ba tháng Ba.
    Người đời thương Tử Thôi nên mỗi năm, đến ngày đó thì kiêng đốt lửa mà chỉ ăn đồ nguội đã nấu sẵn.
    Từ thời Lý (1010 - 1225) nhân dân ta đã tiếp nhập Tết này và thường làm bánh trôi, bánh chay để thay cho đồ nguội. Nhưng mục đích chủ yếu là để cúng gia tiên chứ ít ai rõ chuyện Giới Tử Thôi! Hiện nay, Tết này vẫn còn đậm nét ở miền Bắc, nhất là tại các vùng thuộc tỉnh Hà Tây.

    5. Tết Thanh Minh
    "Thanh Minh trong tiết tháng Ba
    Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh"
    (truyện Kiều)
    "Thanh Minh" có nghĩa là trời trong sáng. Nhân có người ta đi thăm mồ mả của những người thân. Tết Thanh minh - thường vào tháng Ba âm lịch - trở thành lễ tảo mộ. Ði thăm mộ, nếu thấy cỏ rậm thì phát quang, đất khuyết lở thì đắp lại cho đầy... rồi về nhà làm cỗ cúng gia tiên.

    6. Tết Ðoan Ngọ
    Tết Ðoan ngọ (Tết Ðoan dương) vào mùng Năm tháng Năm (âm lịch).
    Khuất Nguyên - nhà thơ, một vị trung thần - do can ngăn vua Hoài Vương không được, đã uất ức gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Hôm ấy đúng là mùng Năm tháng Năm. Thương tiếc người trung nghĩa, mỗi năm cứ đến ngày đó, dân Trung Quốc xưa lại làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (ý làm cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh xuống cúng Khuất Nguyên. Ở Việt Nam, ít người biết chuyện Khuất Nguyên, mà chỉ coi mùng Năm tháng Năm là "Tết giết sâu bọ"- vì trong giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh dễ phát sinh. Vào ngày này, dân gian có nhiều tục trừ trùng phòng bệnh. Lấy lá ngải cứu (một vị thuốc Nam), năm nào thì kết hình con vật tượng trưng năm đó (năm Thân - kết con khỉ và gọi là Hầu Tử, năm Dần - kết con cọp và gọi là Ngài Hỗ...) treo lên giữa nhà để trừ tà. Về sau, khi có bệnh, lấy lá đó sắc làm thuốc. Lại có tục đi hái lá thuốc mồng năm (ích mẫu, mâm xôi, cối xay, vối) sắc uống vào giờ Ngọ, còn để dành nấu uống quanh năm.

    7. Tết Trung Nguyên
    Tết Trung nguyên vào Rằm tháng Bảy. Người xưa tin theo sách Phật, coi hôm ấy là ngày vong nhân được xá tội, ngày báo hiếu cha mẹ... nên tại các chùa thường làm chay chẩn tế và cầu kinh Vu lan. Vào ngày Rằm tháng 7 âm lịch có 2 ngày lễ cúng:
    - Lễ cúng được truyền tụng lâu đời trong dân gian: "Tháng 7, ngày rằm xá tội vong nhân" (tha tội cho tất cả người chết), nhiều người gọi là cúng cô hồn các đảng. Quan niệm dân gian cho rằng đây là lễ cúng những linh hồn vật vờ lang thang không nơi nương tựa, không còn người thân ở trần gian để thờ phụng hoặc thất lạc, hoặc vì một oan khiên nào đó...
    - Cũng ngày Rằm tháng Bảy còn có lễ Vu lan, xuất phát từ tích truyện Ðại Mục Kiều Liên. Vu lan được coi là lễ cầu siêu giải thoát cho ông bà cha mẹ bảy đời, xuất phát từ lòng báo hiếu. Trong những năm gần đây, trong lễ Vu lan còn có tục "Bông Hồng cài áo" thể hiện lòng hiếu thảo của con đối với cha mẹ.

    8. Tết Trung Thu
    Tết Trung thu vào Rằm tháng Tám. Trung thu là tết của trẻ con nhưng người lớn cũng nhân đây mà họp mặt, uống rượu, uống trà, ngắm trăng... Thường ban ngày người ta làm lễ cúng gia tiên, tối mới bày hoa quả, bánh kẹo, chè cháo để trẻ con vui chơi, phá cỗ, trông trăng, rước đèn...

    9. Tết Trùng Cửu
    Mùng Chín tháng Chín (âm lịch) là Tết Trùng cửu. Tết này bắt nguồn từ sự tích của đạo Lão. Thời Hán, có người tên gọi là Hoàn Cảnh, đi học phép tiên. Một hôm thầy bào Hoàn Cảnh khuyên mỗi người trong nhà nên may một túi lụa đựng hoa cúc, rồi lên chỗ cao mà trú ngụ. Quả nhiên, ngày Chín tháng Chín có lụt to, ngập hết làng mạc. Nhờ làm theo lời thầy, Hoàn Cảnh và gia đình thoát nạn.
    Từ xưa, nho sĩ nước ta đã theo lễ này, nhưng lại biến thành cuộc du ngoạn núi non, uống rượu cúc - gọi là thưởng Tết Trùng dương.

    10. Tết Trùng Thập
    Ðây là Tết của các thầy thuốc. Theo sách Dược lễ thì đến ngày Mười tháng Mười, cây thuốc mới tụ được khí âm dương, mới kết được sắc tứ thời, trở nên tốt nhất. Ở nông thôn Việt Nam, đến ngày đó người ta thường làm bánh dày, nấu chè kho để cúng gia tiên rồi đem biếu những người thân thuộc chứ không quan tâm mấy đến chuyện cây thuốc, thầy thuốc!

    11. Tết Hạ Nguyên
    Tết Hạ nguyên (Tết Cơm mới) vào Rằm hay mùng Một tháng Mười. Ở nông thôn, Tết này được tổ chức rất lớn vì đây là dịp nấu cơm gạo mới - trước để cúng tổ tiên, sau để tự thưởng công cày cấy.

    12. Tết Táo Quân
    Tết Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp - người ta coi đây là ngày "vua bếp" lên chầu Trời để tâu lại việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua.
    Theo truyền thuyết, xưa có hai vợ chồng nghèo khổ quá, phải bỏ nhau. Sau đó, người vợ lấy được chồng giàu. Một hôm, đang đốt vàng mã ngoài sân, thấy một người vào ăn xin, nhận ra chính là chồng cũ nên người vợ động lòng, đem cơm gạo, tiền bạc ra cho. Người chồng mới biết chuyện, nghi ngờ vợ. Người vợ đâm khó xử, lao vào bếp lửa tự vẫn. Người chồng cũ nặng tình, cũng nhảy vào lửa chết theo. Người chồng mới ân hận, đâm đầu vào lửa nốt! Trời thấy ba người đều có nghĩa nên phong cho họ làm "vua bếp". Từ tích đó mới có tục thờ cúng "Táo quân" và trong dân gian có câu: "Thế gian một vợ một chồng, không như vua bếp hai ông một bà" . Ngày nay cứ đến phiên chợ 23 tháng Chạp hàng năm, mỗi gia đình thường mua hai mũ ông, một mũ bà bằng giấy và 3 con cá làm "ngựa" (cá chép hóa rồng) để Táo quân lên chầu trời. Sau khi cúng trong bếp, mũ được đốt và 3 con cá chép được mang thả ở ao, hồ, sông...

    Tết và Hội Tết
    Tết về có bao lễ tiết, bao phong tục, bao điều vui, cũng có biết bao trò chơi lý thú nhằm nhắc lại lịch sử làng xóm: rèn luyện thân thể, thi thố tài năng, trí thông minh và đức tính nhẫn nại, kiên trì khắc phục khó khăn, vốn là đức tính của người Việt Nam xưa và nay.
    Bao hội thi được mở ra trong những ngày đầu, tuần đầu, tháng đầu của mùa xuân đẹp nhất trong một năm.
    Từ hội thổi cơm thi...
    Thổi cơm thi là một phong tục có từ lâu đời và khá phỗ biến ở làng quê Việt Nam trước đây.
    Vào các dịp hội xuân hàng năm, nhân dân thường tổ chức trò vui thỗi cơm thi khác nhau. Ở những làng cạnh sông nước thì thổi cơm thi trên thuyền thúng, gió thổi tứ bề ngồi bập bềnh trên nước. Có nơi vừa đi vừa thổi, hoặc vừa dỗ trẻ em đun nòm ướt, được cơm chín, dẻo ngon mới giành được giải thưởng.
    Muốn có nồi cơm sôi rồi chín, phải có chất đốt tốt cho đượm ngọn lửa. Do đó cuộc thi còn gây thêm khó khăn về chất đốt. Ở huyện Từ Liêm xã Nghĩa Ðô (xưa), bắt dùng mía tươi làm củi, người thi phải ăn mía lấy bã mà nấu cơm.
    Tại Tây Mỗ, hàng năm có thi thổi cơm theo kiểu vừa đi, vừa nấu. Bất kể nam, nữ, người dự thi có cành tre dẻo như cần câu, buộc chặt ra đằng sau lưng, vắt đầu mềm ra đằng trước để buộc quanh nồi đã có sẵn gạo, nước, người dự thi mang theo hai thanh giang hoặc nứa khô để kéo lửa và một bùi nhùi rơm nhỏ để tiếp lửa. Cả hội đứng sẵn trước vạch vôi xuất phát, trước ngực lủng lẳng quang nồi. Một hồi trống chuẩn bị. Mọi người tước mía, nhá kỹ cho khô thành củi, đợi dứt hồi trống thứ hai thì nổi lửa nấu cơm và đi tới đích, không được dừng lại. Qua mỗi bước đi, nồi gạo lại rung rinh, ngọn lửa bị gió tạt, phải khôn khéo lựa bề che đậy. Ai vừa đi vừa nấu, tới đích sớm nhất, cơm vừa chín tới ngon dẻo thì được trao giải.
    Tương truyền: Lối thổi cơm thi này nảy sinh từ thời An Dương Vương trong hoàn cảnh vừa hành quân cấp tốc, vừa phải nấu cơm ăn.
    Ở Tây Tựu có năm vừa thi thổi cơm trên thuyền vừa thi thỗi cơm trên cạn, rất sôi nổi nhộn nhịp.
    Thổi cơm thi cũng là một hình thức thể thao dân tộc, vui nhộn có ý nghĩa nhiều mặt ở các vùng quanh Thăng Long.
    ... Và Hội đâm đuống.
    Ðâm đuống được tổ chức chủ yếu vào dịp tết Nguyên Ðán.
    Ðâm đuống thực chất là hình thức giã gạo, nhưng là giã gạo trong hội lễ, có tính tổ chức và nghệ thuật.
    Ðồng bào Mường (Vĩnh Phú) giã gạo bằng cối gỗ hình chiếc thuyền, lườn dài từ hai tới ba sải tay, chiếc chày giã cũng dài như đòn gánh, giữa thân thon để vừa tay cầm. Ðâm đuống hội lễ là giã gạo chày tay vào cối đuống và chỉ do phụ nữ biểu diễn. Cả làng cùng giã, nhưng nhà nào giã ở nhà ấy.
    Mở đầu, một bà nhiều tuổi nhất trong nhà đứng đầu cối, giã ba tiếng để mở màn, thành ba tiếng "Kênh, kênh ,kinh". Nghệ thuật ở đây là làm sao giã thành ba âm thanh như trên. Chày người già khai mạc như thế gọi là "Chày cái". Sau đó đến con gái, cháu gái trong nhà giã, gọi là "chày con", "chày cháu".
    Trong nhà có bao nhiêu phụ nữ là phải chuẩn bị bấy nhiêu cái chày và đủ số cụm lúa mà vẫn giữ đúng nhịp điệu, hòa âm nhịp nhàng cùng hàng trăm chày khác. Vì âm thanh cối đuống là "kênh, kênh,kinh" nên đồng bào bảo rằng đó là cối đuống hát "vui xuân mới, vui xuân mới", hoặc "cơm cơm trắng, cơm cơm trắng".
    Theo nhịp tay đâm đuống mau hay chậm mà tiếng chày chuyển điệu sang những âm thanh khác nhau có nhịp hai xen nhịp ba, nhịp một xen nhịp ba... Khi đôi nhịp, là tất cả từng ấy chày trong thôn đều cùng đổi, chẳng hạn: "kênh, kinh, kênh kinh" hay "kênh kênh kinh, kênh kinh", "kinh kinh, kinh kinh".
    Ðâm đuống thật sự là một cuộc hòa nhạc bằng cối giã có động tác múa đơn giản. Vì ở đây động tác giã đã được nghệ thuật hóa nhằm làm đẹp, mua vui chứ không mang ý nghĩa thực dụng như giã gạo ngày thường.
    Ðồng bào còn gọi đâm đuống là "chàm đuống". Chàm là đâm từ trên xuống.
    Tết Nguyên Đán Việt nam
    Ý Nghiã và Phong Tục

    Khoảng trước năm 1930, ở ngoào Bắc, từ thành thị đến thôn quê, nhất là những vùng dân cư khá giả, cứ đến tối ba mươi Tết, trong giờ phút mọi người đang sum họp vui chơi dưới mái ấm gia đình, chờ đón giao thừa ấy, người ta lại nghe thấy vang lên từ ngoài cửa những tiếng lắc ống tre trong đựng những đồng tiền đồng, tiền kẽm… tạo nên một âm thanh rộn rã vui tai, xen lẫn với tiếng hát chúc Tết súc sắc súc sẻ của đám trẻ nghèo.

    Mỗi khi nhận được tiền thưởng chúng lại bỏ chung vào ống rồi tiếp tục đến cửa nhà khác, vừa đi vừa lắc ống vừa hát lại những điệp khúc cũ :

    Súc sắc súc sẻ

    Nhà nào còn đèn còn lửa

    Mở cửa cho chúng anh em tôi vào

    Bước lên giường cao

    Thấy con rồng ấp

    Bước xuống giường thấp

    Thấy con rồng chầu

    Bước ra đằng sau

    Thấy nhà ngói lợp

    Voi ông còn buộc

    Ngựa ông còn nằm

    Ông sống một trăm

    Linh năm tuổi lẻ

    Vợ ông sinh đẻ

    Những con tốt lành

    Những con như tranh

    Như con như rối

    Tôi ngồi xó tối

    Tôi đối một câu :

    Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ

    Nêu cao, pháo nổ, bánh chưng xanh

    Thế rồi giây phút giao thừa đã đến, tiếng chuông chùa đổ hồi xen lẫn tiếng pháo nổ vang trời chào mừng năm mới.

    Giao thừa là giây phút giao tiếp giữa năm cũ và năm mới. Theo tín ngưỡng bình dân, mỗi năm trên Thiên đình lại cho thay đổi vị hành khiển nơi hạ giới. Sự bàn giao diễn ra giữa đêm giao thừa nên lễ này còn gọi là lễ Trừ tịch (Trừ là giao lại chức quan, tịch là ban đêm), hay lễ Tống Cựu Nghinh Tân. Để tiễn đưa quan quân nhà Trời năm cũ trở về và đón tiếp phái đoàn năm mới đến, người ta thiết lễ ở ngoài trời đủ cả xôi gà, hoa quả, bánh mứt vì sợ nhiều vị đi, về vội vã chưa kịp ăn uống.

    Nhiều nhà thì cúng lễ Hoàng Thiên và các thần linh tứ phương trong trời đất. Họ không bao giờ quên khấn nguyện các vị ban nhiều phúc lành cho gia đình họ.

    Lễ thiên, thần ngoài trời xong, người ta đốt pháo mừng năm mới, và quay vào nhà lễ Thần chủ và gia tiên. Tiếng pháo vẫn tiếp tục nổ rền khắp đây đó.

    Trên bàn thờ gia tiên đèn nến sáng trưng, trầm hương ngào ngạt. Những lễ vật như vàng mã, hoa quả, bánh chưng, kẹo mứt đã được bày sẵn từ chiều ; gia chủ chỉ còn phải thay cơi trầu mới, châm tuần rượu và tuần trà mới, đoạn thắp thêm hương và bắt đầu hành lễ. Không khí lễ gia tiên lúc này thật nghiêm trang và cảm động. Cả nhà đều hiện diện, áo ,quần chỉnh tề, người gia trưởng trịnh trọng khấn vái trước ban thờ tổ tiên và cầu xin các vị phù hộ cho đàn con cháu một năm mới được an khang, hạnh phúc.

    Con cháu tuần tự theo thứ bậc tiến lên lễ rồi quay ra chúc Tết ông bà, cha mẹ để tỏ lòng hiếu thảo và biết ơn đối với các đấng sinh thành, theo đúng tin thần đạo thờ ông bà của người Việt ta :

    Cây có gốc mới nẩy cành, xanh ngọn

    Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu

    Người ta nguồn gốc ở đâu

    Có tổ tiên trước rồi sau có mình.

    Sau đó con cháu cũng được ông bà, cha mẹ chúc lại và được tiền mừng tuổi, đựng trong những chiếc phong bao đỏ ối. Cả gia đình đều vui vẻ chuyện trò, nói cười hỉ hả ; ăn mứt uống rượu hay uống trà để mừng năm mới. Nhiều nhàcó trẻ nhỏ thì người ta tổ chức chúc Tết ông bà, cha mẹ và mừng tuổi con cháu vào sáng mồng một Tết.

    Ở thôn quê thì người ta lễ giao thừa nơi đình làng, dưới hình thức tế lễ Thành Hoàng, tức vị thần bảo hộ của dân làng, giữa tiếng chiêng, tiếng pháo nổ vang trời ; sân đình đèn đuốc sáng rực, cờ xí phất phới, nào cờ ngũ hành : xanh đỏ trắng vàng đen, nào cờ tứ linh, long ly qui phượng… đủ cả. Tục tế lễ Thành Hoàng trong ngày đầu năm để tỏ lòng tri ân và tưởng niệm tiền nhân, người có công ơn với làng xã, dân tộc. Đây là một tục lệ thuần túy Việt Nam, cũng phát xuất từ đạo thờ cúng ông bà, tổ tiên của dân ta mà ra (người Trung Hoa không hề có lệ này).

    Sau lễ Thành Hoàng ở đình, bà con đi hái lộc, và lộc thánh được đem về cắm trên bàn thờ tổ tiên để lấy phước. Cành lộc phải là cành bẻ từ loại cây sống lâu năm để mong được trường thọ.

    Sáng mồng một, gian nhà khách trông tưng bừng hẳn lên vì hoa đào, hoa mai nở rộ, toả hương thơm ngát khiến người ta có cảm tưởng chúa Xuân đang ngự trị nơi này.

    Trên bàn thờ gia tiên đèn nến lúc nào cũng thắp sáng, trầm hương nghi ngút. Sau khi thay trầu, rượu và nước trà mới, người gia chủ lễ gia tiên rồi cùng con cháu ra vườn thăm hoa mai để bói hên xui. Nếu không có hoa trên cây ngoài vườn thì người ta bói hoa cắm trong bình. Hoa mai đơn thường chỉ có năm cánh, nếu thấy hoa nở rộ và có nhiều bông nở đến bảy, tám cánh thì là điềm tốt, thời vận gia chủ trong năm mới sẽ lên, con cháu đi làm, đi học đều được tấn phát.

    Bói hoa, ngắm cảnh ngoài vườn rồi ông cháu, cha con theo nhau vào nhà chờ người khách đầu tiên đến xông đất.

    Và cũng vì tin dị đoan, người ta cho rằng những gì xảy ra trong mấy ngày đầu năm đều có ảnh hưởng tốt xấu cho cả năm. Bởi thế, người ta đã cẩn thận tự xông đất lấy hay mời sẵn một vị tính tình vui vẻ, mau mắn lại có chức phận trong xã hội, sáng mồng một đến xông đất cho để lấy hên, với hy vọng suốt năm mới nhà họ mọi việc đều hạnh thông, tốt đẹp. Người khách quí ấy đã được đón mừng trịnh trọng bằng một tràng pháo nổ tưng bừng.

    Khách đến xông đất ra về, gia chủ mới tính chuyện xuất hành. Có người còn đợi giờ tốt và xem đi hướng nào thì thuận lợiï mới xuất hành. Vì là năm mới, lần đầu tiên bước chân ra khỏi cửa nên người ta thường thích đi lễ chùa hay đền, miếu để cầu phước, cầu duyên và xin lộc, hoặc tự đi hái lộc lấy. Sau đó cứ theo tục lệ mà đi lễ Tết, chúc Tết và ăn Tết :

    Mồng một thì ở nhà cha

    Mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thầy.

    Ngoài ra người ta còn đi chúc Tết chỗ bạn bè thân và bà con lối xóm.

    Thế là suốt ba ngày Tết, người lớn thì ăn mặc chải chuốt, bảnh bao, trẻ em thì quần áo mới xúng xính đi theo cha mẹ. Nhà này đi chúc Tết nhà kia, tạo nên một không khí thật vui vẻ, thật nhộn nhịp. Đúng là vui như Tết !

    Con người ta mỗi năm thêm một tuổi, năm mới đến người già tăng tuổi thọ, người trẻ thêm tuổi xuân, nên ai ai cũng hoan hỉ đón nhận :

    Gặp nhau mừng tuổi cho nhau

    Mừng câu hạnh ngộ, mừng câu tính tình

    Mừng tuổi, tuổi lại thêm xinh

    Tuổi ta phú quí, tuổi mình vinh hoa

    Và để chúc Tết nhau, người ta thường sử dụng những câu lời hay ý đẹp, nhiều khi có sẵn trong kho tàng thành ngữ nước nhà. Chính vì giá trị về ý nghĩa và sự phù hợp của chúng nên dù có được lập đi lập lại nhiều lần, người chúc vẫn giữ được vẻ trang trọng, chân tình và người nhận chúc vẫn cảm thấy sung sướng, mãn ý. Như :

    Chúc các vị cao niên thì :

    - Tăng phúc, tăng thọ

    - Sống lâu trăm tuổi

    - Thân tâm thường lạc

    Chúc nhà nông thì :

    - Mùa màng thịnh vượng

    - Phong đông hoà cốc

    Chúc người công, tư chức thì :

    - Thăng quan tiến chức

    - Vinh hoa phú quí

    Chúc người buôn bán thì :

    - Buôn may bán đắt

    - Nhất bản vạn lợi

    Chúc người làm công nghệ thì :

    - Ăn nên làm ra

    - Phát tài sai lộc

    Chúc người mới đến ngụ cư thì :

    - An cư lạc nghiệp

    Chúc cô cậu thư sinh, đang sửa soạn thi cử thì :

    - Thi đâu đậu đấy

    - Công thành danh toại

    Chúc trẻ em thì :

    - Hay ăn chóng lớn

    - Thông minh học giỏi



    Những người đi chúc Tết bao giờ cũng được gia chủ mời thưởng thức đủ thứ, nào là rượu ngon trà thơm, nào hạt dưa bánh mứt, nhất là thứ bánh mứt đặc sắc do chính bà chủ nhà tự tay làm lấy. Gần đến bữa ăn thì được giữ lại xơi cỗ. Người ta ăn cỗ Tết vì tình nghĩa, lấy thơm lấy thảo, chứ ngày Tết ai mà đói bao giờ.

    Cỗ Tết nhà nào cũng thịnh soạn, ngoài những món cố hữu như bánh chưng, bánh tét, cá thịt kho, giò thủ, dưa hành, dưa kiệu, dưa món… các món khác thường mỗi ngày mỗi thay đổi. Đặc biệt ngày tiễn ông vải, các bà nội trợ miền Bắc không bao giờ quên sửa soạn món cuốn và món bún thang cổ truyền.

    Nhà giàu cỗ bàn thịnh soạn đã đành, nhà nghèo cũng cố lo mâm cỗ Tết cho được tươm tất. Giỗ cha, bát cơm quả trứng cũng xong, nhưng những ngày Tết nhất, từ người chết : tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã khuất đến người sống : vợ chồng con cháu phải được no đủ, nếu không sợ bị giông, sẽ bị đói quanh năm. Câu tục ngữ :

    Đói giỗ cha

    No ba ngày Tết

    đã diễn tả được hết cảnh ngộ và tâm lý của những người dân nghèo xứ ta trong ba ngày Tết.

    Cũng vì sợ giông, tức gặp sự không may tái diễn đi, tái diễn lại quanh năm suốt tháng nên từ phút giao thừa trở đi cho đến hết ba ngày đầu năm mới, người ta kiêng đủ thứ, nào là kiêng đổ rác (sợ thần tài ra khỏi nhà), kiêng đánh vỡ chén bát (sợ điềm gia đình ly tán), kiêng bị đòi nợ, kiêng nói tiếng xui xẻo, thô tục, kiêng gắt gỏng, giận hờn, cãi cọ, …

    Có thờ có thiêng

    Có kiêng có lành

    Các cụ ta đã chẳng dạy thế sao ?

    Và càng kiêng làm những điều xấu bao nhiêu, người ta càng cố gắng trở thành người hoàn thiện hoàn mỹ bấy nhiêu :

    - nét mặt thì lúc nào cũng tươi tỉnh, vui vẻ

    - cử chỉ thì dịu dàng, lịch sự

    - lời nói thì hoà nhã, ngọt ngào

    - tấm lòng thì cởi mở, độ lượng

    Thế nên vô tình có gặp kẻ oán thù, người ta cũng sẵn lòng hỉ xả tha thứ, đổi giận làm vui để giữ hoà khí trong ngày Tết. Thật đúng là :

    Giận đến chết ngày Tết cũng vui

    Trong mấy ngày đầu năm, ngoài việc cúng gia tiên, người ta còn có lệ chọn một ngày tốt, hợp với bổn mạng mỗi người để :

    - Người văn nhân, khách thi phú thì làm lễ khai bút, thường là sáng tác một câu đối hay một bài thơ mừng Xuân

    - Người buôn bán thì làm lễ khai trương, mở cửa hàng đầu năm

    - Người làm công nghệ, kể cả người theo nghề hát xướng thì làm lễ tổ sư, tức vị tổ trong nghề

    - Người nhà nông thì làm lễ hạ thổ…

    Người ta làm lễ cốt lấy ngày nên sau đó có thể lại tiếp tục nghỉ để vui chơi ăn Tết.

    Kể từ chiều ba mươi Tết, người ta làm lễ cung thỉnh và đón mừng tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu cho đến ngày tiễn ông bà ông vải, ở thôn quê xưa kia thường tổ chức vào ngày lễ hạ nêu, tức là ngày mùng bảy Tết ; ở thành thị, vì bận làm ăn sớm, người ta tổ chức vào ngày mùng ba mùng bốn Tết, trong suốt thời gian này, trên ban thờ gia tiên hương khói không bao giờ để tắt, và phẩm vật của các con cháu gửi lễ Tết dâng lên đầy ắp. Chẳng những thế, con cháu mỗi ngày lại mỗi dâng lên trà rượu, trầu cau, cỗ bàn mới y như các vị còn tại thế. Vì theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân ta thì vong linh tổ phụ cùng ông bà thân quyến quá cố đang hiện diện tại đó để phù hộ và chứng minh cho lòng thành kính biết ơn của con cháu.

    Trong tất cả các lễ vật cúng gia tiên ngày Tết thì bánh chưng là quan trọng nhất, đã trở thành loại bánh Tết truyền thống. Chả là theo sự tích Lang Liêu, bánh chưng (bánh dầy) bắt nguồn từ lòng hiếu thảo cũng như đạo ông bà của tổ tiên ta đã có từ rất xa xưa, thời các vua Hùng mới lập quốc.

    Ngày tiễn ông vải còn gọi là ngày hoá vàng, vì hôm đó bao nhiêu vàng mã bầy cúng trên ban thờ trong suốt mấy ngày Tết đều được đưa xuống đốt, người ta tin rằng như thế tổ tiên sẽ thụ hưởng được và đem theo về miền âm cảnh. Sau ngày hoá vàng, ngày Tết trong gia đình mới thực sự chấm dứt. Mọi người lại trở về với đời sống thường nhật.

    Tết đến Xuân về, ngoài những tục lệ cúng lễ tại tư gia và tế lễ rước sách để thờ thần nơi làng xã, dân tộc ta còn có tục mở hội Xuân khắp nơi với các trò chơi, gọi chung là bách hí cho dân chúng vui chơi :

    Thái bình mở hội Xuân

    Nô nức quyết xa gần

    Nhạc dâng ca trong điện

    Trò thưởng vật ngoài sân.

    Người người hăm hở phấn khởi dự hội. Người thì đánh xóc đĩa hay tổ tôm điếm, người thì đánh cờ người, chọi gà, đấu vật, thổi cơm, người thì đánh đu hay kéo co, đua thuyền, hát bài chòi, hát quan họ, hát trống quân… đủ cả. Đúng là :

    Tháng giêng là tháng ăn chơi

    Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè

    (Thật ra thì hội hè nhiều nơi đã mở ra từ đầu tháng giêng rồi !)

    Người nào không chơi, không dự thi thì cũng nô nức đi xem hội, tạo nên một hoạt cảnh náo nhiệt, tưng bừng :

    Năm cũ thì đã qua rồi

    Bước qua năm mới muôn người chơi Xuân.

    Một năm chơi có một lần

    Trai tài, gái sắc chơi Xuân dập dìu.

    Đã có biết bao nam thanh nữ tú nhờ dịp hội Xuân này mà quen biết nhau, yêu nhau để rồi nên duyên giai ngẫu.

    Tóm lại, qua cung cách sửa soạn đón Tết, qua những lễ nghi, phong tục ngày Tết và qua thái độ thưởng Xuân ăn Tết của người Việt như vừa được trình bày ở trên đã chứng tỏ Tết Nguyên Đán đối với dân tộc ta quả là một Lễ hội lớn nhất, mang nhiều ý nghĩa thâm thúy và thiêng liêng.

    Nhưng nổi bật hơn hết vẫn là đạo thờ cúng tổ tiên ông bà của dân ta. Lòng hiếu thảo, sự biết ơn cộng với niềm tin tưởng có sự xum họp, cảm thông và gắn bó giữa tiền nhân, các đấng sinh thành quá cố với con cháu tại thế đã trở nên một tín ngưỡng. Tín ngưỡng đó đã thực sự hiện hữu và chi phối mọi sinh hoạt của con người trong những ngày Tết Nguyên Đán.

    Đồng thời, vượt lên trên tất cả là sự thể hiện một quan niệm nhân sinh lạc quan, đặc thù của người Việt. Trong những ngày Tết, người ta không chỉ ước vọng, cầu chúc hay khấn nguyện các ơn trên phù hộ, ban cho hạnh phúc, mà người ta còn tin tưởng ở sự đổi mới, gạt bỏ mọi buồn phiền, thất bại của năm cũ mà đón chào năm mới (tống cựu nghinh tân) với niềm hy vọng mới, sẽ đạt được thành công trong tương lai. Hơn thế nữa, người ta còn cố gắng tự cải thiện để tạo dựng hạnh phúc cho bản thân mình và những người xung quanh, ngay trong hiện tại : ăn ngon, mặc đẹp, ngắm nhìn cảnh trí rực rỡ, nên thơ của thiên nhiên và do chính mình sáng tạo, dặt bày. Trong gia đình thì được sống trong yêu thương, đoàn tụ ; đoàn tụ không chỉ với người sống mà cả những người thân đã qua đời. Ngoài xã hội thì được sống trong không khí hoà ái, thân thiện và độ lượng.

    Theo thiển ý, đây chính là những nét đặc sắc nhất trong đời sống văn minh và văn hoá dân tộc Việt Nam chúng ta vậy.

  • allbeyondintell

    khoảng 1 10 năm trước
  • tết lúc trước chắc vui lắm vì nó cổ

  • dumb82

    khoảng 1 10 năm trước
  • truóc giờ mình chỉ biết Tết Nguyên Đán với tết Trung thu , Lễ Vu lang, con mấy cái còn lại thì không biết.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group