Tết Nguyên Đán Của Người Việt

  • mtrang

    khoảng 1 10 năm trước
  • Xuân là đề tài muôn thở mà chúng ta luôn tưởng nhớ tới, cùng dịp Xuân về ,chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu những tập tục và văn hoá Việt Nạm nhé . Mtrang cảm thấy lứa tuổi trẻ ở hải ngoại hầu như ít hiểu tại sao lại có TẾT ??... Tết Thì chúng ta cũng phải nói về Xuân, Xuân tha hương ,Xuân quê nhà , Xuân lịch sử . Bài Viết của André Nguyễn Xuân Thoại sẽ dẫn chúng ta về cọi nguồn hầu như đa phần bị lãng quên, và lớp trẻ ngày nay không hiểu chúng đã bắc nguồn từ đâu ??? Mtrang cũng mong rằng ai đã lãng quên hương vị mùa Xuân sẵn đây chúng ta cùng ôn lại những ký ức tuổi thơ .. những bao lì xì đỏ những tràn pháo tươi rớt tung tăng ở vĩa hè, những câu chúc tụng nhau vui vui, vẻ vẻ cùng nhau khoe áo mới nhé , những trò chơi nhân gian, những cây trái trong lễ hội , những câu đối , những hình ảnh tổ tiên , cha ông chúng ta ..v..v


    I. Dẫn Nhập



    Trong đời sống tâm linh của các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, đặc biệt là người Việt Nam chúng ta, Tết Nguyên Đán là ngày lễ thiêng liêng nhất. Tết Nguyên Đán là Tết mở đầu một năm mới, được gọi là Tết Cả, chỉ có gọi như thế mới nói hết tầm vóc và chiều sâu tâm hồn của một nếp nghĩ, nếp sống đầy truyền thống.

    Tết Nguyên Đán giải quyết những vấn đề lớn vào thời điểm trọng đại nhất, tiêu biểu nhất đối với một chu trình vận hành của vũ trụ, sự vận động của vạn vật cũng là sự vận hành của toàn xã hội, lấy đơn vị là năm - mở đầu và kết thúc năm - bằng một chu trình, một vòng quay mới của vũ trụ sau bốn mùa luân chuyển.

    Sống bằng nghề nông, người Việt cổ gắn bó với mùa màng, hòa nhập với môi trường (giữa trời với đất) thành một khối thống nhất hoà quyện nhau giữa Thiên - Địa - Nhân. Vì vậy chỉ có Tết Cả mới giải quyết được một cách toàn diện các mối quan hệ đó. “Với nông dân : mưa thuận gió hòa, với thợ : mở mang trăm nghề, với học trò : học đâu đỗ đó, với thương nhân : mua mau bán đắt… ; cũng với đà này thì , người già : bách niên giai lão, với trẻ con : mau ăn chóng lớn, với tuổi xuân : hạnh phúc lứa đôi, với vợ chồng : gia đình đầm ấm, sung túc…”[1], với tất cả mọi người lời chúc chung nhất : mạnh khỏe, thịnh vượng, bình an, may mắn, lời chúc tốt lành sẽ đến với tất cả không loại trừ một ai.

    Tết Nguyên Đán mang đến cho mọi người một sức mạnh tinh thần không có gì thay thế được. Dù thế nào chăng nữa, nếu không phải các truyền thống cổ đều được tôn vinh, được coi trọng thì trong dịp Tết này từ Bắc đến Nam, từ Tây sang Đông, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, đâu đâu cũng hớn hở đón mừng. Chẳng có bất cứ biến cố nào của thế giới bên ngoài có thể lấy đi - ở kẻ nghèo người khó, cũng như kẻ giàu có nhất- niềm vui và sự thỏa mãn được ăn Tết cách xứng đáng trước tổ tiên, trước trời đất ngay trong mỗi gia đình hoặc giữa những người cùng làng xã, cùng xứ sở. Cả đất nước như đang bị cuốn hút vào một tình cảm thiêng liêng, một sức mạnh vô hình của truyền thống văn hóa đem lại.

    Tết Nguyên Đán, cái mốc thời gian đánh dấu sự thay đổi cũ mới phải có sự biến đổi dù to hay nhỏ, dù tuần tự hay đột xuất sau một chặng đường dài đều đặn , rủi may - may rủi nối tiếp nhau vận hành, người ta có nhu cầu ngừng nghỉ dù trong chốc lát hay vài ngày để bình tâm, tự đánh giá, tự định hướng cho một chặng đường mới. Nhờ đó, đạo lý làm người cũng được bám đúc lại nơi mỗi tâm khảm như để in sâu trong mối quan hệ xã hội biểu hiện cách trọn vẹn : Con cháu đối với ông bà cha mẹ, tình thầy và trò, con bệnh và thầy thuốc, vợ chồng anh em thân quyến, đồng nghiệp bạn bè, trẻ già, thật là một lối sống tràn đầy nhân ái, tình người rộng mở rạng rỡ truyền thống nữ tính và hòa tính của người dân Việt ta.

    Những phong tục tập quán đều đặn trong những ngày Tết diễn ra trong gia đình, ngoài xã hội tạo nên nếp nhà, lệ làng, phép nước, làm nên một giá trị tinh thần của văn hóa Việt Nam. Có thể nói, mỗi phong tục, mỗi nghi lễ là một bài học giáo dục được in sâu trong tâm thức của mỗi con người, khơi dậy cái thiện, xóa bỏ đi cái ác. Tết Nguyên Đán là một phong tục truyền thống của dân tộc nằm trong tín ngưỡng dân gian, nên các nghi thức, tục lệ đều mang ý nghĩa và mang đậm sắc thái triết lý âm dương giữa người trần gian và thần linh, giữa người còn sống và người đã khuất, tình yêu thương nhân nghĩa… sống dậy trong mối giao cảm thiêng liêng với đất trời, với những người thân thuộc thông qua các tục lệ như : cúng ông Táo, lễ đón tiễn tổ tiên, lễ đón giao thừa, chúc Tết, mừng tuổi… Chính vì vậy con người dù đi đâu, ở đâu, làm gì cũng mong được trở về sum họp cùng gia đình trong ba ngày Tết, gặp lại người thân, khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, nhìn lại cả quãng đời thơ ấu nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Tết Cổ truyền thắm đượm tình người trong trời đất, sâu thẳm nơi cội nguồn bản thể, mà gia đình chính là cái nuôi dưỡng đó.

    Ngày Tết, ngày Xuân, là ngày hội tụ đoàn viên, nếu không thì cũng là ngày gởi gắm niềm thương nỗi nhớ. Tết Nguyên Đán vừa khiến cho con người khẳng định được cái giá trị sức mạnh tinh thần của gia đình, vừa làm cầu nối gắn bó trăm nhà từ nghìn xưa để lại. Với tất cả những lý do đó, mà ngày Tết vần còn tồn tại, tồn tại sinh động trong đời sống tinh thần và xã hội Việt Nam dù thời gian khắc nghiệt vẫn không ngừng ngưng nghỉ.


    II. Một Vài Nét Về Ngày Tết Nguyên Đán


    1. Tại Sao Gọi Là Tết Nguyên Đán ?

    Tết Nguyên Đán là Tết đầu tiên của năm, là cuộc lễ và sự kỷ niệm của con người với thời điểm lặp lại của chu kỳ thời tiết của cả một năm, hết một vòng bốn mùa, bắt đầu của vòng mới tức là năm mới. Nguyên : nghĩa là bắt đầu, Đán : là buổi sớm mai ; vì vậy, Nguyên Đán là ngày khởi đầu của một năm mới.

    Tết Nguyên Đán còn được gọi là Tết Ta để dễ bề phân biệt với Tết Tây (dương lịch). Thời xa xưa, năm mới của phương Nam bắt đầu từ tháng Tý, tức là tháng 11, về sau nước ta chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, mới lấy tháng Dần (tháng Giêng) làm tháng đầu năm. Tết của ta là theo Âm lịch, mặc dù hằng ngày ta vẫn dùng dương lịch. “Lịch của ta theo khoa học thiên văn như của Trung Hoa, lấy khởi điểm ở tháng Dần làm tháng Giêng là lúc sao Bắc Đẩu chỉ về phương Dần, đến tháng hai chuỗi sao Bắc Đẩu chỉ về phương Mão, cho đến tháng chạp thì đuôi sao Bắc Đẩu chỉ về phương Sửu”. Tuy chịu ảnh hưởng củaTrung Hoa trong việc xác định mốc đầu năm, nhưng Tết của ta vẫn mang trọn vẹn đặc trưng văn hóa truyền thống của người Việt.

    Năm mới đến, bao điều may mắn mới cũng đến và tất cả những gì không may mắn của năm cũ cũng sẽ qua đi theo năm cũ. Ngày Tết là thời điểm khởi đầu của một ngày, một tháng, một năm, vì thế buổi sáng ngày đầu năm là buổi sáng linh thiêng nhất.


    2. Ý Nghĩa Của Ngày Tết

    Đối với người Việt, Tết Nguyên Đán là Tết quan trọng nhất. Điều này thể hiện ở chỗ : bất kể người giàu hay người nghèo, đều phải đón Tết sao cho thật long trọng (tất nhiên là tương ứng với hoàn cảnh của mỗi gia đình). Tết Nguyên Đán mang lại cho tất cả mọi người một sức mạnh tinh thần không có gì thay thế được : đó là sự hy vọng về một tương lai tốt đẹp ở năm mới.

    Ngày Tết là thời điểm khởi đầu của một ngày, một tháng, một năm. Vì là buổi sáng ngày đầu năm nên nó rất thiêng liêng theo tín ngưỡng của người Việt ta. “Nó như điềm báo trước tất các cả sự kiện sẽ xảy ra trong một năm: tốt có, xấu có, may mắn có, xuôi xẻo có… tất cả mọi hành động cử chỉ chúng ta làm trong những giờ phút đầu tiên này đều có hiệu lực, như một lá bùa linh nghiệm.”[4]. Do đó, ai cũng hết sức cố gắng trong việc giữ mình từ đi đứng, ăn mặc cho đến cách nói năng… bởi ai ai cũng sợ cái sự không “đầu xui đuôi lọt” vốn đã phổ biến trong cách nói, trong nếp nghĩ của người dân Việt[5].

    Tết vừa là một cuộc lễ, qua đó con người bày tỏ kính ý với thiên nhiên, vừa là sự kỷ niệm để loan báo, đánh dấu sự chuyển đoạn mang tính chu kỳ của thời tiết trong năm. Hơn thế nữa, Tết còn là dịp để con người tái xác lập mối quan hệ của mình với tổ tiên, với thần linh. Người Việt luôn tin rằng không chỉ có thế giới trần tục này, mà còn có một thế giới khác của những người đã mất, của thần linh. Vì thế họ ứng xử với tổ tiên, với thần linh bằng việc cầu xin sự phù hộ trong năm mới. Đây cũng là một nguyên tắc sống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” theo truyền thống đạo lý của người dân Việt từ ngàn xưa.

    Tết cũng là ngày hội của mọi gia đình. Cái đẹp của người Việt là dù đi đâu, ở đâu, thì đến ngày Tết mọi người đều quay trở về ngôi nhà của quê mình, nơi có bàn thờ ông bà tổ tiên, nơi có cha có me,ï có anh chị em, nơi có những kỷ niệm êm đẹp vui buồn của thuở thiếu thời và đặc biệt là nơi chôn nhau cắt rốn của mỗi người.


    3. Tết Nguyên Đán Có Từ Bao Giờ ?

    Để muốn biết ở nước ta có tục ăn Tết từ khi nào, thì chúng ta cũng khó mà nói cách chính xác.

    Theo Tự điển “Từ Hải Mục Trung ngoại lịch đại sự niên biểu” thì năm khởi đầu lịch Tàu là năm 3000 trước Tây lịch, họ Hồng Bàng nước Việt bắt đầu vào năm Nhâm Tuất, trước Tây lịch 2879 năm, tức là hơn một trăm năm sau khi có lịch Tàu, nhưng mãi đến thời nhà Hạ (2205-1818 trước Tây lịch), lịch Tàu mới lấy tháng Dần làm tháng Giêng. “Vậy nếu ta ăn Tết theo âm lịch như ngày nay thì chắc chắn không phải từ đời Hồng Bàng, và có thể phỏng đoán là khi chịu ảnh hưởng phong trào của Tàu do ông Tích Quang và Nhâm Diêu truyền sang thì là từ thế kỉ I Tây lịch trở về sau, chứ không thể sớm hơn được.”[6].

    “Theo sử Trung Quốc, Âm lịch có từ đời nhà Hạ và lấy tên 12 chi đặt cho 12 tháng. Tháng Dần là tháng Giêng được chọn làm tháng đầu năm, và người ta ăn Tết từ đầu tháng Dần. Về sau đến đời nhà Ân, có sự thay đổi lấy tháng Sửu làm tháng đầu năm, rồi đến đời nhà Chu sửa lại lấy tháng Tý. Sang đến đời nhà Tần, Tần Thủy Hoàng lại sửa nữa, lấy tháng Hợi, nhưng đến đời vua Hán Vũ Đế, đầu năm bắt đầu lại tháng Dần như đời nhà Hạ trước, và từ đó không có sự thay đổi nữa.”.

    Thực ra Tết Nguyên Đán bắt đầu vào tháng Dần là rất đúng, vì lúc đó mùa đông vừa qua, tiết lạnh cũng chấm dứt, dành cho ngày xuân là thời gian ấm áp, mầm xanh nảy lộc, muôn hoa đua nở, khiến cho mọi người như tươi trẻ lại với thiên nhiên qua một năm làm ăn vất vả. Người người háo hức đón mùa xuân mới trong không khí tưng bừng rộn rã của thiên nhiên, với tất cả một tâm hồn rộng mở, đón chờ muôn điều may mắn hy vọng mới. Ai cũng đem đến cho nhau muôn lời chúc tốt đẹp.



    Được sửa lần cuối bởi mtrang vào ngày khoảng 1 10 năm trước với 5 lần trong tổng số.
  • c0wb0y

    khoảng 1 10 năm trước
  • cám ơn mtrng nhiều 4 sharing

  • mtrang

    khoảng 1 10 năm trước
  • III. Những Ngày Trước Tết

    Tết Nguyên Đán tuy bắt đầu vào ngày mồng Một tháng Giêng, nhưng thật sự người ta đã háo hức ngày Tết ngay từ đầu tháng Chạp.


    1. Tâm Trạng


    Thật đúng, khi nói đến Tết hay nghĩ về Tết, tâm trạng mọi người, từ lớn đến bé, ai ai cũng thấy lòng nao nao xúc động. Người lớn thì lo toan tính toán, trẻ em thì nô nức chờ đợi. Ai ai cũng đợi chờ, kỳ vọng vào sự may mắn của năm mới đem đến, nên ai cũng cố gắng đón Tết làm sao thật trang trọng, lo mọi sự đầy đủ với sức lo của mỗi gia đình. Đó vừa là đạo lý, vừa là thói quen nếp sống của cả dân tộc, mà mỗi người hằng sống trong đó, thói quen đó được coi là mĩ tục. Dường như ai ai cũng nghĩ : “thiên hạ ăn Tết, đón xuân nhà mình cũng phải thế chứ ?”. Tâm trạng ai ai cũng lo hướng về ngày Tết, cho dầu cuộc sống có bấp bênh nghèo khổ, hay sung túc giàu sang. Vì vậy, người người, nơi nơi đón Tết một cách nồng nàn, trịnh trọng trong niềm hân hoan, phấn khởi.

    Có thể nói tâm trạng của mỗi người thật là bộn bề, phải đáp ứng cho đủ mọi nhu cầu tối thiểu trong sinh hoạt, nghi lễ cũng như phong tục tập quán. Con người Việt Nam chúng ta luôn luôn thể hiện tình cảm nồng nàn cụ thể, ơn nghĩa tràn đầy, không những đối với người còn sống mà cả người đã khuất, không những đối với người thân thuộc mà cả người xa lạ, nhưng đã làm ơn cho mình, thì trong dịp Tết này, tình cảm đó mới được thể hiện cách cụ thể nhất.


    2. Gửi Tết – Biếu Tết

    Đây là tục lệ mang đậm sắc thái truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của mỗi người dân Việt.

    Cứ đến ngày Tết hàng năm, nghĩ đến ông bà tổ tiên ; con cháu, ai ai cũng tỏ lòng kính hiếu, nên gởi Tết đến nhà trưởng - là người giữ giỗ Tết các bậc đã qua đời - để người trưởng cúng tế Tổ tiên trong ba ngày Tết, thường là vàng mã, giấy bạc âm phủ, bánh mứt, gạo nếp hay gà vịt. Tục này cũng nói lên tình thắt chặt mối dây liên lạc giữa những người trong gia quyến xa gần, thật là :


    “Cây có gốc mới nở nhành sinh ngọn

    Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu

    Người ta nguồn gốc từ đâu

    Có tổ tiên trước rồi sau có mình.”



    Để tỏ lòng hiều kính với những người đã khuất, người ta cũng không quên những người còn sống mà mình mang ơn : thường thì con bệnh biếu thầy thuốc vì được khỏi cơn bệnh, tuy trả tiền nhưng vẫn không quên ơn đã cứu thoát mình ; biết ơn ông bà tổ tiên ; biết ơn bạn bè chòm xóm. Việc biếu này, quà cáp thì không đáng gì, nhưng chính là ở tấm lòng. Đó là những gì ở ngoài gia đình, còn việc sửa soạn trong nhà thì sao ?


    3. Sửa Soạn Ngày Tết

    Cuối năm là cuối mùa đông, cuối mùa giá lạnh, cái cằn cỗi qua đi để nhường chỗ cho mùa xuân ấm áp, tràn trề nhựa sống xanh tươi. Một năm mới sang đem theo nhiều cái mới đến, cái mới luôn được xem là cái may mắn hơn, tốt lành hơn cái cũ của năm vừa qua.

    Ai ai cũng đợi chờ, cũng kỳ vọng vào cái may mắn của năm mới nên ai ai cũng nô nức sửa soạn từ vật chất cho đến tinh thần. Nhà nhà đều lo dọn dẹp nhà cửa, trang hoàng cho tươm tất, sạch sẽ. Từ trong nhà đến ngoài ngõ, chỗ nào cũng như mới thật ăn khớp với khung cảnh tưng bừng của mùa xuân. Phải làm sao cho không khí Tết sẽ là :

    “Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột

    Om xòm trên vách bức tranh gà.”

    Nào là lo việc ăn uống, may mặc, nợ nần vay trả, biếu xén… biết bao chuyện phải làm, vừa để đón Tết trước mắt, vừa để trang trải cho những chuyện còn lưu lại trong năm đã qua mà chỉ có dịp Tết mới tính đến một thể. Nhà nhà lo mua gạo nếp, đậu xanh, thịt mỡ để làm bánh chưng, bánh tét, sửa soạn cho vại dưa hành ngay từ những ngày đầu tháng Chạp, vì dưa hành cần muối sớm đến Tết là vừa ăn, để đúng với câu hát cổ :

    “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ

    Nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh.”


    Câu hát ngắn nhưng gói gém đầy đủ một hình ảnh, một khung cảnh tiêu biểu, với một chuẩn mực tối thiểu về cái Tết phải có ở làng quê xưa. Tất cả những phẩm vật ngày Tết cũng được lo đầy đủ : vàng hương, bánh mứt, hoa quả để cúng và để ăn trong ba ngày Tết. Người ta cũng không quên nhắc tới những áo quần mới cho ngày Tết, không những cho trai thanh gái lịch chưng diện mà nhất là những trẻ con, tất cả đều phải sửa soạn tươm tất cho xứng để thật là ngày Tết.

    Từ những lo toan sửa soạn cho ngày Tết như thế, khiến cho buổi chợ Tết càng thêm tấp nập đông vui, người mua kẻ bán nhộn nhịp.


    4. Chợ Tết
    Thật đúng là “đông như chợ Tết”. Tháng Chạp chẳng đâu vui bằng chợ, chẳng đâu đông như chợ, trăm ngả đường đổ về lối chợ. Người bán hàng thì lo bán hàng, người mua hàng thì lo vội vàng như chỉ sợ hết thứ ngon, thứ tốt mình cần, thứ rẻ vừa túi tiền mình có. Ở tháng cuối này, các loại hàng đều gia tăng số lượng, trình bày nhiều màu sắc thật hấp dẫn và đầy sức cuốn hút. Cái không khí Tết như bao trùm khắp chợ. Người đến chợ không chỉ là kẻ bán người mua, mà người đi chơi, đi thưởng thức chợ Tết cũng không ít.

    Chợ Tết nhộn nhịp không phân biệt già trẻ lớn bé, ai ai cũng nô nức hồ hỡi. Các cụ ông thường chững chạc trong bộ áo dài, các cụ tìm mua thêm đôi liễn mới, mua thêm chai rượu nếp cái thơm của người quen, hay gói chè ướp sen thơm mát. Lớp chủ gia đình thì lo mua sắm các thứ cần trong việc nấu nướng cúng tế. Ồn ào nhất là lũ trẻ con, đòi thứ này hay thứ kia, toàn là quà bánh, đồ chơi hay quần áo mới… Không biết bao nhiêu là hàng : nào là hàng lá dong, hàng dưa hành củ kiệu, hàng thịt mỡ, hàng đậu các loại… Hàng đồ kho cũng được bày biện rất nhiều, nhất là măng, đủ loại : măng trúc, măng mai, măng tre… nhưng ngon và cao giá nhất là măng lưỡi lợn. Hàng trái cây cũng tấp nập người chen kẻ lấn ; hàng bánh mứt, hạt dưa ôi thôi không tài nào kể xiết, người mua chen nhau, người bán hối hả vui vẻ. Song dù cho thế nào thì chợ áp Tết cũng phải kết thúc vào khoảng quá trưa hay đầu chiều (khoảng giờ Ngọ hay đầu giờ Mùi). Vì những giờ còn lại của năm cũ ngắn ngũi này mỗi nhà còn biết bao việc để làm, người ta phải đón năm mới sao cho tươm tất chu đáo chứ !

    Dù chợ Tết có đông vui hay quan trọng bao nhiêu thì cũng là để chuẩn bị cho cái Tết của từng gia đình hoàn hảo bấy nhiêu mà thôi. Cũng như hàng Tết ở chợ càng vơi đi bao nhiêu thì cái Tết của từng nhà càng sung túc đầy đủ bấy nhiêu.

    Trong sự luân chuyển của vũ trụ, không có âm thanh nào làm rạo rực lòng người cho bằng hai tiếng Xuân về (Tết đến). Mùa xuân khiến đất trời như trẻ lại trong sắc lá tơ non, trong hương hoa ngào ngạt, trong ánh sáng rỡ ràng của vầng dương chiếu rọi. Mùa xuân cũng làm cho con người dâng tràn sức sống cùng với thiên nhiên trong quan niệm Thiên-Điạ-Nhân hòa. Vì vậy mà mọi phong tục tập quán như luôn theo con người Việt Nam trong từng lễ hội. Đặc biệt là lễ Tết của đất nước, mọi phong tục tập quán như càng được nhấn mạnh hơn.



    Được sửa lần cuối bởi mtrang vào ngày khoảng 1 10 năm trước với 1 lần trong tổng số.
  • mtrang

    khoảng 1 10 năm trước
  • IV. Những Tập Tục Chuẩn Bị Đón Tết

    Từ rằm tháng Chạp, người ta đã bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, trang trí nội thất. Dân Việt ta lấy tín ngưỡng thờ ông bà Tổ Tiên làm đạo gốc, nên lễ thờ gia tiên được mọi gia đình chú ý trước tiên.


    1. Bàn Thờ Gia Tiên

    Với gia đình sung túc, bàn thờ gia tiên chia làm hai phần : phần trong và phần ngoài.

    Phần trong sát ngay tường hậu gian giữa, kê chiếc sập sơn son thếp vàng trên đôi mễ cao khoảng một mét. Sát tường là Thần chủ (hoặc Bài vị) đựng trong khám, đặt trên một bệ. Nếu không để Thần chủ thì thay bằng một cỗ ỷ (giống như ngai) tượng trưng ngôi vị tổ tiên. Trước cỗ ỷ là hai chiếc mâm có chân, hình chữ nhật, chiếc trong nhỏ, trên đặt chiếc tam sơn. Tam sơn là một bệ thờ bằng gỗ chia ba phần bằng nhau như ba bệ liền thân, bệ giữa nhô cao, hai bệ hai bên thấp ngang nhau. Tam sơn dùng để lễ vật : rượu, nước. Còn chiếc mâm thứ hai to hơn, dùng để cỗ mặn trong ngày cúng giỗ, lễ tiết. Lớp trong này ngăn cách với lớp ngoài bằng chiếc y môn (màn thờ) màu đỏ bằng the hay vải tùy ý.

    Phần ngoài bắt đầu từ y môn ra. Sát y môn là một hương án cao, sơn son thếp vàng. Chính giữa hương án là một bình hương bằng sứ để cắm hương. Sát sau bình hương là cái kỷ nhỏ trên có ba đài gỗ có nắp đặt ba chén rượu. Hai cây đèn đối xứng nhau ở hai bên bình hương. Cạnh mỗi đèn là một ống hương chân tiện, miệng hơi loe dùng để đựng hương. Ở giữa, trước bình hương là mâm bồng sơn son chân tiện để đựng ngũ quả. Hai bên bàn thờ thường là mấy đôi cột gỗ vừa là kiến trúc nhà gỗ cổ, vừa làm cho khu vực thờ thêm thiêng. Trên những cột ấy người ta treo câu đối, nội dung thường là ca ngợi chung các gia cảnh :

    “Tổ tông công đức thiên niên thịnh

    Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương.”
    Nghĩa là:

    “Công đức tổ tiên cường thịnh ngàn năm

    Con cháu hiếu thảo tốt đẹp muôn đời”


    2. Cúng Gia Tiên

    “Chiều 30 Tết mọi việc đã sửa soạn xong xuôi, sau khi đã đi viếng mộ gia tiên về người ta sửa lễ chuẩn bị cúng gia tiên. Sau đó là đèn nhang, nhất là nhang phải giữ thắp suốt mấy ngày Tết cho tới khi hóa vàng”.

    Trong mấy ngày này, trên bàn thờ luôn luôn có sự hiện diện của tổ tiên. Để giữ cho hương khỏi bị tắt, từ chiều 30 người ta thường dùng hương vòng hay hương xào. Mâm ngũ quả tươi tắn cũng được bày lên : đỏ của hồng, xanh của chuối, vàng của bưởi, vàng đậm của quýt, xanh tươi của táo… tất cả chen nhau đầy tròn trên mâm bồng trông thật đẹp mắt.

    Cúng gia tiên vào chiều 30 Tết, sáng Mồng Một cũng lại cúng, và trong mấy ngày Tết cho đến khi hóa vàng. Ngày hai buổi có lễ cúng gia tiên, bởi vì người ta quan niệm vào những ngày này, tổ tiên luôn luôn có mặt trên bàn thờ cùng hiện diện vui Tết với con cháu, với gia tộc. “Vì Tết là cơ hội giao lưu giữa con cháu với tổ tiên, giữa hai thế giới thực tại và huyền ảo, nhưng thế giới huyền ảo được hiểu là rất gần gũi, có thể linh cảm được, tổ tiên đang sống lại trong tâm tưởng của con cháu”[10].


    3. Tết Ông Táo

    Không khí Tết rõ nhất là ngày 23 tháng chạp, ngày Táo quân triều thiên (ông Táo chầu trời). Nhà nhà ai cũng sửa lễ tiễn ông Táo lên trời. Có thể coi lễ cúng ông Táo là phong tục khởi đầu trong chuỗi các phong tục cổ truyền của người Việt trong những ngày kề Tết Nguyên Đán. Nhưng ông Táo là ai, và được thờ kính như thế nào?

    Truyền thuyết kể rằng : “Ngày xưa có hai vợ chồng tên là Trọng Cao và Thị Nhi, vì quá nghèo, nên phải xa nhau. Sau người vợ lấy được người chồng khác giàu có tên là Phạm Lang. Một hôm, người vợ thấy một người đàn ông đến nhà mình ăn xin, chị ta nhận ra là chồng cũ, hai người ôm nhau khóc lóc. Đúng lúc người chồng mới về, chị vợ bèn giấu chồng cũ vào đống rơm. Người chồng mới lại nướng con thú vừa săn được ở chính đống rơm ấy. Người chồng cũ vì danh dự của vợ nên chịu chết cháy. Người vợ thương quá bèn nhảy vào đống lửa chết cùng. Người chồng mới thương xót vợ, cũng nhảy vào đống lửa chết luôn. Tro tàn, ba người vẫn còn trong tư thế chụm đầu vào nhau. Xúc động trước tấm lòng cao cả của những người trung hậu, Ngọc Hoàng giao cho họ chăm sóc công việc trong mỗi gia đình, đồng thời báo cáo lại với Người. Phạm Lang làm Thổ công trông coi việc bếp núc. Thị Nhi là Thổ kỳ trông coi việc chợ búa, vườn tược. Trọng Cao làm Thổ địa trông coi việc đất cát”[11].

    Để tỏ lòng biết ơn đối với các vị thần giữ nhà này, hàng năm vào ngày 23 tháng Chạp các gia đình lại mua ba chiếc mũ (hai cho nam, một cho nữ), ba bộ quần áo (áo dài, quần cộc) cùng nhiều tiền vàng để các Ngài về Trời. Để rồi đến đêm giao thừa lại đón các vị thần mới xuống cai quản trần gian.

    “Về mặt triết lý, bộ ba thần linh hai nam một nữ trong toàn miền Nam Á này là một biểu tượng của tổ tiên, dù là tổ tiên tôtem giáo, anh hùng văn hóa, tổ tiên thực sự hay tổ tiên thần thoại theo quan hệ quyến thuộc ngày sau.”[12].

    Nói tới vua bếp, nói tới ông Táo cũng là nói về lửa. Về mặt xã hội, loài người từ khi biết dùng lửa đã chuyển mình sang một bước sinh hoạt mới, tiến bộ kỹ thuật và lối sống. Người ta quý lửa, giữ lửa và tôn lửa thành thần -Thần Lửa. Khi gia đình trở thành hạt nhân của xã hội thì bếp lửa trở thành hạt nhân của gia đình, của tổ ấm. Thần Lửa trở thành Vua bếp trong từng nhà. Cho nên vào mỗi dịp Tết người ta đều phải cúng Táo quân. Thời cổ, cũng như nước, lửa là phương tiện tẩy sạch, thanh khiết hóa. Một bà hai ông đâm đầu vào lửa là hình ảnh đầu tiên của nghi lễ thanh khiết ấy.

    Với những phong tục tín ngưỡng dân gian cổ truyền người Việt ta luôn thể hiện bằng tình cảm cụ thể, đó là một cảnh đặc sắc mang đậm ý nghĩa Tết của nông thôn Việt Nam xưa, người ta còn có tục trồng cây Nêu, để bảo vệ con người, xua đuổi ma quỷ và để đón những phúc lành.


    4. Tục Trồng Cây Nêu Ngày Tết, Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa
    Trong khoảng thời gian từ sau khi ông Táo lên chầu Trời và trước khi đón giao thừa người dân nhiều nơi, miền ngược cũng như miền xuôi, thường có tục trồng cây Nêu.

    Theo Phật thoại, Cây Nêu là dấu tích, hiện vật, bằng chứng của cuộc giành giật đất đai - đất ở, đất trồng trọt - giữa người và quỷ và người đã thắng. Để khẳng định phạm vi, ranh giới đất đai, con người treo chiếc áo cà sa lên ngọn cây theo lời Phật dạy. Bóng áo tỏa trùm tới đâu thì quỷ phải lùi tới đó. Áo cà sa treo lên, ngược gió, toả rộng trùm kín mặt đất. Quỷ phải lùi ra tận biển Đông mà ở.

    “Vẫn theo ý nghĩa đó của câu chuyện, trên ngọn cây Nêu người ta thường treo túm lá dứa, lông gà, lá thiên tuế, hoặc những chiếc bánh, con cá bằng đất nung, cùng một tán tròn bằng tre nứa dán giấy đỏ, dưới tán tròn này buộc thêm một chiếc mũ thần, những thỏi vàng giấy… có nơi thì treo những chiếc đèn lồng, đèn xếp, những chiếc chuông, chiếc khánh bằng đất nung. Đây là những vật mang ý nghĩa tượng trưng cho sự bảo vệ con người khỏi sự quấy nhiễu của quỷ.”[13].

    Cây Nêu, ngoài ý nghĩa nhắc nhở quỷ về giai thoại năm xưa, còn là cây gậy chỉ đường cho tổ tiên về ăn Tết với con cháu. Cùng với ánh sáng của đèn lồng, đèn xếp, những chiếc gai sắc của các cành lá dứa, lá thiên tuế, rồi âm thanh của những chiếc chuông, chiếc khánh phát ra lúc gió thổi, cây Nêu còn làm cho quỷ sợ hãi mà bỏ đi xa, không quậy phá nữa. Ngoài ra, khánh còn có ý nghĩa là phúc, là vui mừng để tỏ ý mong muốn phúc lộc sẽ tới với mỗi gia đình.

    Thực sự cây Nêu là biểu tượng của cây vũ trụ nối liền Trời với Đất, đem sinh lực truyền xuống cho mặt Đất. Vòng tròn đỏ là hiện thân của mặt Trời. Cuối năm, cuôùi mùa đông hanh khô, mới trồng cây Nêu là nhằm mục đích đón ánh sáng của mặt trời, đón dương khí của mùa xuân và cũng là để biểu hiện thế đối ứng áp đảo đối với quỷ - hiện thân của khí âm. Mùa xuân dương khí thịnh, mặt Trời tỏa sáng, nắng xuân ấm áp, đem lại sự sống cho muôn loài, muôn người.

    Lẽ trời đất có khởi thủy phải có tận cùng, một năm đã bắt đầu ắt hẳn phải có kết thúc, bắt đầu từ lúc giao thừa thì cũng kết thúc vào lúc giao thừa.


    5. Đón Giao Thừa

    Giao thừa là gì ? Theo Hán Việt tự điển của cụ Đào Duy Anh nghĩa là “cũ giao lại, mới tiếp lấy.”[14]

    Thật vậy giao thừa là điểm hội tụ của hai quan niệm thời gian, phút chót hết của năm cũ, phút mở đầu của năm mới. Vòng luân chuyển của thời gian theo vòng quay của 365 ngày, và vòng quay bốn mùa thời tiết trong vũ trụ: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Bốn mùa nối tiếp, khởi là Xuân, kết là Đông như một sự vận động tổng thể : thời gian, con người, vạn vật cùng vận động, cả thời tiết, khí hậu, cũng vận động đổi thay. Để đáp ứng, chào mừng đánh dấu cái thời điểm đầy xúc động thiêng liêng ấy, người ta đã cử hành hàng loạt nghi thức, cúng lễ, dâng mời trong từng nhà cũng như chốn Đình làng, Chùa, Miếu… của cả làng.


    5.1. Lễ trừ tịch

    Đây là lễ chính, không thể thiếu trong toàn bộ quá trình đón Tết của người Việt. Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ đi hết những điều xấu, cũ kỹ của năm vừa qua để đón lấy những cái mới mẻ tốt đẹp của năm mới sắp đến. Vậy cúng ai trong lễ giao thừa ?

    Trong “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính có viết : “tục ta tin rằng mỗi năm có một ông hành khiển coi sóc việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao việc cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn ông cũ và đón ông mới.”[15]. Thật là một nghi thức trọng đại : tống cựu nghinh tân.

    Giao thừa là thời điểm thiêng liêng mà đất trời giao cảm, âm dương hoà quyện ấy đã chấm dứt sự lặng yên bất động tạm thời của vạn vật, để bùng ra một sức sống mãnh liệt, mới mẻ. Song song với sự luân chuyển của thời gian từ năm cũ sang năm mới, sự chấm dứt phải được đánh dấu bằng một tín hiệu đặc biệt, đồng loạt truyền lan nhanh chóng, mạnh mẽ, đủ sức cho một cuộc vận hành mới của muôn loài trong vũ trụ đó chính là tiếng pháo.


    5.2. Tục đốt pháo



    Cho dù ngày nay chúng ta không còn tục đốt pháo nữa, nhưng từ xa xưa pháo nổ và tục đốt pháo đã hình thành với nhiều ý nghĩa và mục đích.

    Trước hết pháo nổ làm cho con người sảng khoái, vui tai, như một lời chào mừng của con người trước thiên nhiên rằng : năm mới đã đến, sự đổi mới đầy hy vọng đã tới. Người xưa còn cho rằng : tiếng nổ âm vang, râm rang của pháo giữa trời đêm u tịch, u minh đầy bí ẩn này cũng sẽ xua đuổi những tà ma ám khí, điều rủi, điều xấu đi.

    Nhưng âm thanh đón chào xuân mới này còn mang thêm một ý nghĩa sâu sắc hơn, không kém phần thiết thực, một lễ nghi mang tính nông nghiệp. Người Việt mang đậm nét nền văn minh lúa nước từ xa xưa nên hơn ai hết càng thấy rõ mùa đông như cằn cỗi đang ngủ yên, đến mùa xuân là mùa gieo vãi cấy cày, trồng trọt, người ta đánh thức đất dậy. Vì thế, tiếng pháo cũng chính là lời mời gọi cho đất thức tỉnh báo hiệu cho một mùa mới no đầy hạnh phúc và để xua đuổi quỷ ma nữa.

    Ngày xưa chỉ đốt pháo tép, mỗi nhà chỉ có một hai bánh nhỏ theo phong tục, ít gây tai nạn. Ngày nay pháo trở nên thời thượng và là thứ chơi, thứ để người ta khoe của. Đốt pháo trở nên tùy tiện, xảy ra tai nạn quá nhiều : sinh mạng con người và hao tốn không biết bao nhiêu tài sản, nên việc cấm đốt pháo là điều rất tốt, nhưng thật ra đã là phong tục thì cứ Tết đến mỗi người dân Việt chắc chắn rằng ai ai cũng nhớ tiếng đì đùng, lách tách tiếng pháo vui tươi báo hiệu Tết đến từng nhà.

    Bắt đầu lễ giao thừa, tiếng pháo rỉ rả vang lên cả bốn gốc trời, cũng là giờ báo hiệu năm cũ đã hết và năm mới đang sang. Kể từ giờ phút này là giờ phút của Tết Nguyên Đán.



    Được sửa lần cuối bởi mtrang vào ngày khoảng 1 10 năm trước với 4 lần trong tổng số.
  • mtrang

    khoảng 1 10 năm trước
  • V. Những Tập Tục Trong Ngày Tết

    Theo người xưa, trong đêm giao thừa sau khi làm lễ giao thừa xong, dân ta có những tục lệ riêng, mà cho đến ngày nay từ thôn quê cho đến thành thị, vẫn còn nhiều người tôn trọng thực hiện.

    1. Xuất Hành – Hái Lộc

    Sau phút giao thừa, sau khi pháo nổ người ta làm cuộc “du xuân”, cầu cúng tìm may. Chọn được hướng đi - xuất hành - tốt, người ta đến đền, chùa làm lễ. Lúc trở về người ta có tục hái một cành cây mang về ngụ ý là lấy lộc của Trời, Đất, Thần, Phật ban cho. Cành lộc này mang về người ta cắm trước bàn thờ cho đến khi tàn khô.

    Với tin tưởng lộc hái trong đêm giao thừa sẽ đem lại may mắn quanh năm, xưa kia người dân Việt trong buổi xuất hành đầu tiên bao giờ cũng hái lộc. Cành lộc tượng trưng cho tốt lành may mắn. Tục hái lộc là một tục tốt đẹp. Ngày nay có nhiều người khi đi lễ trong đêm trừ tịch, vác cả dao búa đi đẵn cây trong các chùa, đền, đình, thế là người ta đã biến tục lệ tốt đẹp trên thành một tai hại cho các nơi thờ tự.

    Bắt đầu ngày mới của năm mới, không chỉ là dịp nghỉ ngơi, mà còn là dịp để con cháu biểu hiện lòng hiếu kính đối với ông bà, cha mẹ, anh chị, bạn bè, người còn sống tỏ lòng biết ơn đối với người đã khuất.


    2. Một Số Biểu Hiện Của Lòng Hiếu

    Ngày lễ Tết không chỉ là của thời gian chuyển mùa : Xuân, Hạ Thu, Đông, cũng không chỉ là mùa của muôn hoa đua nở, cũng không chỉ là mùa của lộc chồi xanh non… Mà lễ Tết còn nổi bật lên một cái gì đó thật rực rỡ huy hoàng, thanh cao và siêu thoát nơi cõi lòng con người, đó là lòng yêu kính thiêng liêng đối với tổ tiên ông bà, cha mẹ.

    Thật vậy, muà xuân không chỉ hướng nhìn và hy vọng về tương lai, nhưng còn là thời gian để hướng nhìn lại về quá khứ, thời gian của tưởng nhớ, thời gian của lòng biết ơn chân thành những bật tiền nhân :


    2.1. Tết ông bà tổ tiên [17]

    Lòng yêu kính ông bà tổ tiên dường như nằm trong dòng máu Việt. Con người có được gì mà không nhận lấy từ tổ tiên, nhờ có tổ tiên mới có ta, nên đạo hiếu luôn nhắc nhở con cháu : “Uống nước nhớ nguồn”. Đối với những đấng bậc đã khuất thì thắp nén hương tỏ lòng dâng kính, đối với những người còn sống thì con cháu mừng thọ, cầu mong ông bà sống lâu với con cháu. Thông thường, vào ngày Mồng Một Tết là mừng tuổi thọ ông bà, con cháu về tề tựu nơi ông bà đang sống. Các cháu được ông bà lì xì cầu chúc thêm tuổi, ông bà thì vui mừng nhìn thấy con cháu nên người, nên thân. Sau những lời chúc là bữa cơm gia đình thân mật, ấm cúng, vui vẻ.






    2.2. Tết cha mẹ


    Người Việt thường sánh ví công ơn cha mẹ :

    “Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”


    Cha biểu trưng cho sự mạnh mẽ, cứng rắn ; mẹ biểu trưng cho sự mềm dẻo, nhỏ nhẹ ; cha là nguyên tắc, mẹ là uyển chuyển ; nhưng cả hai hòa quyện vào nhau tạo nên những đứa con có ích cho đời, rạng rỡ cho gia phong, cho gia tộc. Công ơn nuôi nấng, chăm sóc, yêu thương của cha mẹ không ai có thể phủ nhận được. Phải chăng tình thương của cha mẹ dành cho ta là một tình thương của trời chúc phúc, thật thế thì người con có hiếu là người con mong muốn cha mẹ luôn luôn sống lâu, bình an, mạnh khỏe. Hãy nắm lấy những giây phút của năm mới, của giây phút thân thương để ngỏ lời cám ơn, cám ơn thật nhiều đấng sinh thành, để thấy được rằng : còn được gọi hai tiếng cha, mẹ là một hạnh phúc vô tận của chuỗi ngày làm con khi còn có cha có mẹ.




    2.3. Chúc tết nhau

    Ngày Tết còn là dịp bạn bè thân tình gặp nhau và thăm hỏi nhau qua bao tháng ngày mỗi người mỗi hướng tìm kế mưu sinh. Ngày xuân hình như cũng vui theo từng ly rượu của tình bạn trao chúc cho nhau, tiếng cười, tiếng nói như lấp phẳng tất cả những giận hờn, buồn chán, hiềm thù. Chỉ còn lòng người với lòng người, chỉ còn cái vui và cái tốt đẹp đang đến trong từng tâm hồn của mỗi người. Ai cũng như muốn xóa đi tất cả cái cũ để chúc những gì tốt đẹp nhất, bình an nhất cho nhau.

    Đối với người Việt chúng ta, ngày Tết là dịp nghỉ ngơi, ăn uống dưỡng sức nên trong mỗi gia đình, dù nghèo hay giàu vấn đề ăn uống cũng phải tươm tất hơn những ngày thường.



    Được sửa lần cuối bởi mtrang vào ngày khoảng 1 10 năm trước với 4 lần trong tổng số.
  • mtrang

    khoảng 1 10 năm trước
  • VI. Các Món Ăn Trong Ba Ngày Tết

    Có thể nói truyền thống của người Việt Nam, ngày Tết không có bánh chưng, bánh tét là bất thành Tết. Từ xa xưa, bánh chưng đã trở thành biểu tượng cho Tết nói riêng và văn hóa người Việt nói chung.


    1. Bánh Chưng Xanh


    Bánh chưng--Bắc Bánh tét -Nam
    Theo truyền thuyết, sau khi vua Hùng Vương phá được giặc Ân, nhân quốc gia vô sự, an bình khắp cõi, Người muốn truyền ngôi cho con nên phán rằng : “Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm vừa ý ta, cuối năm nay ai dâng cao lương mỹ vị để tiến cúng Tiên vương mà được tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho”. Các công tử, công chúa đều đua nhau làm nhiều món ngon vật lạ, dưới nước trên cạn không sao kể xiết, duy chỉ có vị công tử thứ 18 tên là Lang Liêu, qua giấc mơ Lang Liêu không đi tìm món ngon vật lạ nhưng tự chế biến từ những sản vật của việc trồng trọt chăn nuôi thành thứ bánh chưng và bánh dầy để dâng vua cha.

    Thật là xúc động khi xắn miếng bánh chưng, gói đẹp, luộc rền, ăn đủ chất béo ngậy, nghĩ tới một thuở vua Hùng, lòng hiếu thảo của vị hoàng tử đã dâng vua cha sản phẩm do chính mình làm ra, tự chế biến nhân ngày đầu xuân, để rồi ngày sau trở thành món ăn truyền thống của ngày hội, tiêu biểu của cả nước, vào thời điểm tiêu biểu nhất của vòng quay thời gian - vũ trụ, của một vùng cư trú cộng đồng : Tết Nguyên Đán, Tết đầu năm. “Hình chiếc bánh lại được coi là hình mặt đất - đất vuông - một triết lý có thể nói nhập nội muộn, (Trời tròn, đất vuông : bánh dầy, bánh chưng) nhưng vẫn được thừa nhận. Mặt đất lại được quan niệm cách cụ thể : Đất mẹ sản sinh ra lúa, gạo, hành, đậu… Lúa, gạo, rau, đậu lại nuôi gia súc để lấy thịt. Chiếc bánh chưng là như thế, ấp ủ nhân bánh như đất ấp ủ mầm sống vậy” [18]. Câu chuyện cũng thiên về đạo lý, nhưng cái lõi là phản ánh nền kinh tế nông nghiệp.


    2. Hạt Dưa – Dưa Hấu – Thịt Kho Măng, Kho Trứng

    Ngũ quả
    Hạt dưa là món tí tách không thể thiếu trong những ngày Tết được. Đĩa hạt dưa nhuộm đỏ rang thơm, nổi bật nhất giữa các đĩa bánh kẹo, trông thật hấp dẫn. Món này được tất cả mọi người ưa thích, nhất là thanh niên nam nữ và trẻ con. Đây có thể nói là sản phẩm của Nam bộ, nhưng ngày nay đã là chung của cả nước. Ngày Tết đến chợ nào cũng có bán rất nhiều hạt dưa, vì ngoài bánh mứt, ngày Tết nhà nào cũng có đĩa hạt dưa như món khai vị khi tiếp khách.

    Trong dịp Tết, một trong những món ăn cổ truyền không thể không nhắc tới là món dưa hấu. Món dưa hấu cũng được nhắc lại cho con cháu muôn đời biết được nhờ lao động tự sức mình mà có được. Dưa cũng được bày bán nhiều những ngày trước Tết. Mỗi nhà thường mua dưa để đơm trên bàn thờ, hay để ăn giải khát, cũng như mời khách trong ba ngày Tết. Dưa hấu cũng được con người gán cho việc báo trước hên hay xui, vì vậy mà có tục bói dưa ngày Tết. Sáng ngày Mồng Một, quả dưa được bổ ra thấy ruột đỏ tươi là chủ nhà rất phấn khởi và tin rằng năm đó mình sẽ gặp nhiều vận đỏ, vận may.

    Nói đến các thức ăn khai vị, mát lòng con người thì phải nói đến những thức ăn làm no lòng nữa chứ. Món ăn mà hầu như gia đình nào cũng có đó là nồi thịt kho măng hay kho trứng. Làm gì thì làm, ai ai cũng lo cho gia đình có nồi thịt trong nhà, cho con cháu, hơn nữa khi có dịp khách đến dùng bữa.

    Thịt kho phải chọn chỗ nửa nạc, nửa mỡ, thái miếng to bằng nắm tay, kho hơi nhạt với muối ít đường nhiều - để dành lâu mới được - để miếng thịt chín nhừ, mỡ trong nhưng không nát, khi ăn thấy mát và cứ như nó tự tan trong miệng. Tùy theo nhà và theo sự khói khẩu mà kho với măng hay với trứng. Thịt kho ăn kèm với dưa giá hay dưa món vừa dòn vừa chua làm người ăn thêm ngon miệng mà không thấy ngán.

    Vì thế, Tết đến nhà nào cũng sắm cho được một hũ dưa món, gồm các thứ : củ kiệu, cà rốt, hành củ, đu đủ, củ cải… các thứ này được cắt từng miếng nhỏ với nhiều hình dáng khác nhau, rửa sạch đem phơi nắng cho hơi héo. Tất cả các thứ này bỏ chung với nhau vào một hũ, đổ loại nước trong đó có : đường, mắm, nước sôi để nguội, khi gần đến ngày ăn cho thêm dấm. Hũ dưa món đủ các màu : trắng, xanh, tím, vàng… trông thật đẹp mắt. Dưa món ăn với bánh chưng, thịt kho rất ngon. Trong ngày Tết không thể thiếu món này được, vì Tết mình ăn quá nhiều thịt mỡ, nên làm cho cơ thể dễ cảm thấy ngán, có dưa món ăn kèm, chúng ta sẽ thấy đậm đà và ngon miệng. Có gia đình đông con cháu, phải làm năm ba hũ mới đủ dùng trong mấy ngày Tết. Dưa món có người làm mặn, có người làm ngọt chua tùy theo sở thích và khẩu vị của từng gia đình.

    Đối với người Việt nói riêng và người Á Đông nói chung, ăn thường đi kèm với chơi, nên trong mấy ngày Tết không những ăn mà còn phải chơi, đặc biệt là các trò chơi dân gian mang nét truyền thống của dân tộc.



    Được sửa lần cuối bởi mtrang vào ngày khoảng 1 10 năm trước với 4 lần trong tổng số.
  • mtrang

    khoảng 1 10 năm trước
  • VII. Các Trò Chơi Dân Gian Vui Tết

    Xưa có lẽ chỉ có ngày tết mới đem lại cho người nông dân (quanh năm bận rộn, lam lũ) cái cảm giác xa xỉ của sự dư thừa. Thật vậy, chỉ có ngày Tết người nông dân mới thực sự no say, mới được mặc đẹp, được rảnh rỗi, được chơi nhỡi… Tuy nhiên, những điều đó chỉ thực sự thăng hoa khi con người được hoà vào tình cảm cộng đồng, ý thức tập thể về sự thiêng liêng của những ngày Tết.

    Thực vậy, những ngày Tết đã đem lại sự thăng hoa toàn diện cho con người trong toàn thể cộng đồng, và dường như chính do nhu cầu kéo dài sự thăng hoa ấy mà dân ta đã sáng tạo ra các sinh hoạt văn hóa sống động ấy.



    1. Các Trò Chơi Dân Gian

    Những ngày đầu năm, khắp thôn làng Việt Nam rộn ràng tiếng trống hội xuân thúc giục lòng người. Vào dịp này, bên cạnh hoạt động lễ nghi mang ý nghĩa tín ngưỡng còn có nhiều hội vui, diễn xướng sân khấu và các trò chơi truyền thống, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

    Qua sông Hồng, sông Đuống, ngược lên phía bắc, là đến với vùng Kinh Bắc cổ kính, quê hương của các làn điệu quan họ mượt mà. Tục chơi quan họ ở các làng quê của Bắc Ninh, Bắc Giang thường gắn với hội làng, hội chùa. Bên cạnh những canh hát trong nhà còn có các canh hát ngoài trời mà hội Lim là một thí dụ. Hội mở vào ngày 13 tháng Giêng âm lịch. Quan họ các nơi có thể đến hát tự do trên đồi Lim. Hát trên đồi và hát cả dưới thuyền. Những con thuyền thúng nhỏ mang theo các làn điệu dân ca điểm thêm cho không khí ngày xuân nét thơ mộng trữ tình.

    Múa lân có từ lâu đời và rất thịnh hành ở các tỉnh phía Nam . Múa lân diễn ra vào những ngày Tết để chúc năm mới an khang, thịnh vượng. Các đoàn lân có khi đông tới hàng trăm người, họ là thành viên của một câu lạc bộ hay một lò võ trong vùng. Lân được trang trí công phu, râu ngũ sắc, lông mày bạc, mắt lộ to, thân mình có các họa tiết đẹp. Múa lân rất sôi động với động tác khỏe khoắn, bài bản : lân chào ra mắt, lân chúc phúc, lân leo cột… Bên cạnh có ông địa chạy quanh vui nhộn.

    Một trò chơi truyền thống được phổ biến trong các lễ hội là kéo co, tổ chức ở sân đình hay bãi cỏ rộng giữa làng. Những người tham gia chia làm hai phe, đứng thành hàng đối nhau, cùng nắm sợi dây thừng, bên nào kéo được đối phương sang qua vạch mốc về phía mình thì đội đó thắng. Kéo co tạo không khí hào hứng, tính kỷ luật, ý thức tập thể ở mỗi người, vì vậy kéo co được mọi thanh thiếu niên ưa thích.

    Cờ người là trò chơi độc đáo của người Việt Nam mang tính trí tuệ thể hiện nét văn hóa truyền thống Á Đông. Bàn cờ là sân bãi rộng, mỗi bên có mười sáu người, mặc đồng phục đỏ hoặc xanh cầm trên tay hay đeo trước ngực biển ký hiệu quân cờ. Khi muốn đi một nước cờ, người đấu gõ một tiếng trống báo cho người chạy cờ tới nghe lệnh để quân cờ di chuyển. Trò chơi này được tổ chức trong những hội làng ngày xuân.

    Hoạt động đua thuyền thể hiện sinh hoạt văn hóa sông nước cổ truyền của người Việt trải dài từ các tỉnh phía bắc đến khu vực đồng bằng sông Cưủ Long nhằm vui chơi, giải trí, rèn sức và kỹ năng chèo thuyền, để cúng thủy thần hoặc tưởng nhớ các anh hùng giỏi thủy chiến… Tuỳ theo từng nơi, mỗi thuyền đua có khoảng chừng chục tay bơi là nam giới đại diện cho xóm, làng. Sau hiệu lệnh những con thuyền lao vun vút trong tiếng hò reo cổ vũ và chiêng, trống rộn rã đôi bờ sông.

    Lướt qua một vài hình thức chơi ngày xuân, chúng ta có thể thấy khả năng sáng tạo, tính cách và bản sắc dân tộc thể hiện thật sâu đậm và rõ nét. Chơi nhưng là một cách học, một cách rèn luyện thân thể, tinh thần thật bổ ích.

    Ngoài những trò chơi dân gian vui xuân, người Việt ta còn có thú chơi câu đối trong những ngày Tết.


    2. Thú Chơi Câu Đối



    Ông Đồ ...viết câu đố mỗi mùa Xuân về
    Thú chơi câu đối ngày nay như được phổ biến lại, ngày Tết chơi câu đối cũng là một thú vui đối với lớp người lớn tuổi. Câu đối thể hiện mọi ước vọng của gia chủ đối với xã hội, đối với cuộc sống, đối với mùa xuân, nói lên tâm tư tình cảm, vừa mang tính phương châm giáo dục, vừa thể hiện tính lạc quan yêu đời… Câu đối được viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm tùy ý thích. Câu đối được viết trên giấy hồng điều, chữ mực tàu đen nhánh hoặc chữ nhũ vàng óng ánh, cũng có khi câu đối được viết trên giấy đỏ có dát vàng lốm đốm. Có khi viết câu đối trên đôi liễn bồi có vẽ hoa hay chim phượng, chim loan…

    Chợ quê ngày Tết xưa nhiều thầy đồ già bày mực tàu, giấy đỏ ngồi bán câu đối đã viết sẳn hay viết theo khách hàng đặt trước. Ngày nay thì rất ít hoặc không có, nhưng vẫn được nhiều cụ già ưa chuộng, có điều nội dung câu đối có nhiều sự đổi thay cho phù hợp với nhu cầu thời đại.

    Thú chơi câu đối còn thể hiện rõ nét trên các báo Tết. Những năm gần đây, các trang báo Tết tràn ngập các câu đối vô cùng thâm thúy, vừa ca ngợi mùa xuân, vừa ca ngợi đất nước giàu đẹp, vừa châm biếm các thói hư tật xấu ở đời. Một vài câu đối Tết được dán nơi trụ cột trong nhà :

    Thiên tăng tuế nguyệt nhân tăng thọ

    Xuân mãn càn không phúc mãn đường


    Có nghĩa :

    Trời thêm năm tháng người thêm thọ

    Xuân khắp đất trời phúc mọi nhà.

    Hay dán nơi bàn thờ tổ tiên :

    Hiếu tử từ tôn vạn đại như kiến

    Tổ tông công đức bách tuế bách niên.


    Có nghĩa :

    Con hiếu cháu hiền muôn đời còn thấy

    Công đức tổ tiên trăm năm không đổi dời.


    Câu đối đỏ càng tăng vẻ tưng bừng và hanh thông cho ngày đầu năm. Theo tục xưa, mọi nhà đón Tết với hương hoa, bánh trái nhưng không bao giờ thiếu câu đối đỏ. Có thời gian, câu đối Tết dường như bị lãng quên, nhưng ngày nay, với phong trào về nguồn, câu đối Tết lại được trân trọng, ưa thích trong dịp đón Tết, mừng Xuân.

    Một trong những cái hầu như không thể thiếu trong ba ngày Tết của mỗi gia đình người Việt Nam chúng ta là hoa.


    3. Chơi Hoa


    Có thể nói đối với người Việt, hoa đào, hoa mai, hoa cúc, vạn thọ và quất là biểu tượng của mùa xuân, của ngày Tết Nguyên Đán. Chưng một cây hay một nhánh hoa trong nhà nhân dịp Tết, từ lâu đã trở thành một tập quán, một nét đẹp văn hóa.

    Cành đào thường được uốn trở thành tán tròn, người thưởng thức hoa phải biết chọn cành đẹp, nụ “ẩn” để hoa nở nhiều đúng vào đầu năm mới. Người thành thạo lại phải biết thúc nụ, hãm hoa cho hoa nở vào đúng lúc mong muốn, cành đào mua về thường được đốt gốc rồi mới cắm vào lọ, trang trí trong nhà.

    Quất và Cúc được trồng trong chậu, cây quất cũng được người trồng uốn thành tán tròn, hoặc được tỉa thành nhiều tầng, dưới to trên nhỏ dần, tạo thành hình tháp. Quý và hiếm hơn hết là những cây nhỏ, nhưng trái nhiều hơn lá. Quả quất tròn, chín vàng mọng ửng lúc lỉu khắp cành. Quất là cây biểu tượng “tài lộc” của người Kinh Kỳ (Huế) nên những nhà thương buôn thích mua. Tết nào mua được cây quất đẹp, quả chín vàng và sai trái là hy vọng năm đó nhiều tài, nhiều lộc. Còn Cúc là loại hoa dễ trồng nhưng lại lâu tàn. Cúc có vẻ đẹp độc đáo cả về sắc hương lẫn dáng vẻ. Cúc tượng trưng cho nếp sống khiêm tốn, giản dị kín đáo, như cuộc đời thanh bạch của người hàn sĩ, vì thế cúc được các bậc túc nho ưa thích.

    Hoa mai vàng tiêu biểu nhất trong các loại hoa ngày Tết của miền Nam, cũng như hoa đào tượng trưng cho sắc xuân miền Bắc. Hoa mai cũng có năm cánh nhưng chỉ có một lớp cánh chứ không nhiều lớp như hoa đào. Hoa được treo trong chùm thưa thớt, không dày và mọc sát cành như hoa đào. Cánh hoa vàng nuột mịn màng như lụa. Mai không chỉ đẹp ở hoa mà còn đẹp ở dáng cành. Cành mai có màu nâu sẫm, ngắm cành hoa ta thấy toát lên vẻ mảnh dẻ, mềm mại, đồng thời cũng có những nét cứng cáp, gân guốc. Chính vì dáng vẻ đó mà từ xưa đến nay, hoa mai trở thành đề tài cho nhiều danh họa, thi nhân. Mai được bán cành hay bán luôn trong chậu. Ngày Tết hoa mai rất đắt, nên đối với người nghèo khó mà có được nhành mai chưng bày trong ba ngày Tết. Bởi vậy những gia đình nghèo Tết đến thường mua hoa vạn thọ. Hoa vạn thọ cũng là loại phổ biến nhất ở phương nam, có loại to bằng cái chén ăn cơm, đặc trưng là màu vàng rực rỡ như báo hiệu một năm mới tràn đầy hân hoan hạnh phúc, có được thêm nhiều tuổi thọ. Hoa vạn thọ được chưng bày trên bàn thờ tổ tiên hay ở trước cửa nhà
    .



    Được sửa lần cuối bởi mtrang vào ngày khoảng 1 10 năm trước với 2 lần trong tổng số.
  • mtrang

    khoảng 1 10 năm trước
  • VIII. Cảm Nhận Ngày Tết

    Qua những phong tục tập quán của ngày Tết cổ truyền, càng làm cho mỗi người chúng ta - là những người dân Việt - thấy và cảm nhận được bao điều tốt đẹp của một truyền thống lâu đời của cha ông đã để lại, và cũng mang đậm nét văn hóa dân tộc, của một nền văn minh lúa nước từ ngàn xưa. Chắc chắn trong cái đẹp đó vẫn còn cái chưa được đẹp, và trong những cái vui vẫn còn cái chưa được vui trọn vẹn, nó được thể hiện cụ thể ngay trước mắt của mỗi người chúng ta.


    1. Đất Nước Vui Xuân

    Niềm vui lễ Tết Nguyên Đán không của riêng ai, nhưng là niềm vui của cả dân tộc, của cả đất nước. Vì vậy việc háo hức tưng bừng chờ đón trào dâng khắp cả mọi miền từ bắc chí nam, không chỉ trong tâm hồn của mỗi người, trong tinh thần của đất nước, nhưng được biểu hiện ra nơi vật chất một cách cụ thể. Những công trình xây dựng đồ sộ mang tính quốc gia cũng phấn đấu hoàn thành trong dịp mừng xuân mới, với nhiều hứa hẹn phát triển và đi lên của đất nước, của bao con người cùng chung tay góp sức đổi mới từng ngày. Trong niềm vui đó vẫn còn len lỏi những nỗi buồn chung cho xã hội, đó là những con người sâu dân mọt nước, nạn tham nhũng vẫn còn lộng hành trong từng ngành, từng cấp, thậm chí có kẻ sẵn sàng ra tay phá hoại những công trình to lớn của đất nước, chỉ vì cái lợi cho chính bản thân.

    Một điều càng làm cho mỗi người chúng ta đau nhói trong dịp Tết : là người giàu thì quá dư thừa, còn người nghèo thì lại thiếu trước hụt sau. Đây cũng là cái để mỗi người chúng ta suy ngẫm và phản tỉnh lại những câu nói của người xưa nào là : “lá lành đùm lá rách”, “chia cơm sẻ áo”, “tương thân tương trợ”.


    2. Người Nghèo Ăn Tết

    Ngày Tết là ngày hội của mọi người, mọi nhà, nên dù nghèo đến đâu, người nghèo cũng phải lo cho gia đình có được nồi thịt, cái bánh, cho con trẻ bộ đồ mới để vui Tết cùng bạn bè trang lứa. Để có được những thứ đó, thật sự đối với họ là cả một vấn đề không đơn giản chút nào. Trong sự lo toan đó, nỗi đau vì mặc cảm là điều dễ có trong tâm trạng của mỗi bà mẹ nghèo. Ý nghĩ của người nghèo trước hết thường là những ý nghĩ xót xa :


    Ai sinh cái Tết làm chi

    Để cho kẻ khó vậy thì khổ thêm!

    Đúng là người khổ càng thêm khổ, vì nghèo, họ phải chật vật trong miếng ăn, trong cái mặc. Vì vậy có thể nói, Tết đến đối với những gia đình nghèo quả là một cực hình. Bình thường họ đã thiếu trước hụt sau, huống hồ là đến ngày Tết. Nói đến người nghèo ăn Tết, thì không thể kể xiết những cảnh túng thiếu gian nan mà họ phải gánh chịu. Nhưng dù sao ngày Tết, ngày xuân cũng đem lại cho họ những khoảnh khắc thư giản, nghỉ ngơi của tâm hồn, để đón chờ, mong đợi một sự may mắn của năm mới đang hứa hẹn cùng họ.

    3. Tha Phương Cầu Thực

    Đó là tâm trạng của những con người xa quê vì kế sinh nhai, vì miếng cơm manh áo mà họ phải xa quê, xa nhà, đây cũng là một tâm trạng khó giải bày.

    Hễ cứ Tết đến, trên mọi nẻo đường về làng, người ta có thể trông thấy từng tốp người tay xách, vai mang, nào túi, nào bị, nào va li đủ thứ, có khi cả gia đình vợ chồng con cái lếch thếch kéo về quê ăn Tết. Không kể mệt mỏi hay tốn kém, họ cũng về cho bằng được tới làng mình, quê mình để ôn lại tất cả những kỷ niệm xưa mà bấy lâu nay không được tự tay chăm sóc, không được tận mắt nhìn : đó là từng cây cau, bụi chuối, giếng nước, con đê làng đặc biệt là ngôi nhà và những khuôn mặt, tiếng nói, tiếng cười của biết bao người thân, máu mủ ruột rà, ôi thật cảm động và hạnh phúc biết chừng nào. Cả năm trời, kẻ ở người đi luôn trông ngóng tin nhau. Lại còn ra viếng mộ, thắp nén hương cho người đã khuất, thắp nén hương trên bàn thờ ông bà tổ tiên, để có ít phút lắng đọng nhớ về tổ tiên xưa, những người đã để lại cho con cháu mảnh đất, mái nhà (nơi họ được sinh ra và lớn lên trong suốt cả thời thơ ấu) như hôm nay. Rồi thăm hỏi làng xóm, biết bao chuyện cũ thắm đậm ân tình đều được hồi tưởng, hâm nóng lại để trao cho nhau sự thân thương tình làng nghĩa xóm càng thắm thiết gần gũi nhau hơn.

    Về quê ăn Tết, tức là tìm về cội nguồn, về niềm hy vọng bất diệt của họ hàng, dòng giống mình, để đem đến sự chan hòa, niềm vui, tình thương yêu được nhắc nhở và ca ngợi những kỷ niệm êm đẹp về đời sống của những ngày xa xưa để cùng nhau xây dựng hạnh phúc của hiện tại này.

  • mtrang

    khoảng 1 10 năm trước
  • IX. Kết Luận

    Với người Việt lấy đơn vị gốc của tổ chức xã hội là gia đình nhỏ, thì mối quan hệ đầu tiên được nhắc tới là gia đình. Phổ biến có ba thế hệ : ông bà, cha mẹ, con cái. Cho nên Tết là dịp đoàn tụ gia đình, nuôi dưỡng vun xới tình thương yêu máu mủ ruột rà. Đoàn tụ để bày tỏ và gìn giữ mối giao cảm hai chiều : ông bà, con cháu và ngược lại con cháu với ông bà, cũng là mối giao cảm hai chiều giữa tổ tiên đã khuất với con cháu hiện diện hôm nay. Bàn thờ trong dịp Tết khói hương nghi ngút, biểu trưng sự hiện diện của tổ tiên và ngược lại con cháu, cả người đi xa về hướng lên bàn thờ chính là hướng đến sức mạnh truyền thống của gia đình.

    Tết là dịp cầu mong tổng thể vươn tới sự hưng thịnh toàn diện cho con người, xã hội, cá nhân cũng như toàn cộng đồng. Từ đó Tết đề cao lối sống truyền thống, đạo đức ứng xử, đạo đức lao động, một lối sống mang giá trị nhân văn và thẩm mĩ cao có nguồn gốc sâu xa từ tín ngưỡng thờ tổ, lễ nghi nông nghiệp… Cách ứng xử, mối quan hệ nhiều điều phức tạp ấy chính là nếp sống văn hóa của người Việt cổ, cũng chính là một phần tài sản văn hóa - tinh thần truyền thống của dân tộc ta mà ngày nay mỗi người chúng ta đang thừa hưởng.

    Do đó, Tết Nguyên Đán đã tạo nên sức mạnh cấu kết cộng đồng, vốn là một đặc điểm cơ bản trong văn hóa truyền thống Việt Nam.

    Đối với chúng ta là những người Kitô hữu - đặc biệt là người tu sĩ - tuy gốc Á Đông nhưng phần nào đã ảnh hưởng - thậm chí ăn sâu - vào nền văn hóa Tây phương, nên mỗi người chúng ta cần nhìn lại những phong tục, tập quán, tín ngưỡng dân gian từ bao đời của cha ông để lại. Chúng ta cần : “giấy rách phải giữ lấy lề”, đừng xem thường những gì là xưa là cổ vì nó sẽ bồi đắp cho tinh thần chúng ta ngày càng trở nên những con người biết gắn chặt với nguồn cội, với quê hương. Chúng ta cần phải sống và bồi đắp cho những cái xưa của tổ tiên ngày càng sâu sắc hơn, vững vàng hơn, cần hấp thu, trở về lại nguồn cội của một nền văn hóa đậm nét đạo hiếu truyền thống mang tính triết lý nhất nguyên này. Truyền thống này có bị mai một hay được giữ vững cho ngàn đời sau hay không, tôi thiết nghĩ đời sống người tu sĩ cũng phần nào ảnh hưởng rất nhiều.


    ANDRÉ NGUYỄN XUÂN THOẠI

  • mtrang

    khoảng 1 10 năm trước
  • cowboy91 wrote:cám ơn mtrng nhiều 4 sharing


    Cung chúc tân xuân :)

  • apokalypse

    khoảng 1 10 năm trước
  • cai nay hay lam do..good reading buddy

  • bayhoaingannam

    khoảng 1 10 năm trước
  • cám ơn mtrang đã cho những tài liệu này. Quả là nhờ nó mình có thể giải thích cho những người bạn ở đây rõ hơn về tết Nguyên Đán

  • allbeyondintell

    khoảng 1 10 năm trước
  • tết ở mỷ ko thấy nhộn nhịp như vn


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group