Đại Việt Sử Thi - Hồ Đắc Duy

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • ĐẠI VIỆT SỬ THI
    -
    Hồ Ðắc Duy


    Quyển 1: Thời đại Hồng Bàng
    Quyển 2: Thời đại Bắc thuộc (227-540)
    Quyển 3: Ngô Quyền (938-944)
    Quyển 4: Lý Thái Tổ (1010-1028)
    Quyển 5: Lý Nhân Tông (1072-1127)
    Quyển 6: Trần Thái Tông (1226-1258)
    Quyển 7: Trần Nhân Tông (1278-1293)
    Quyển 8: Trần Anh Tông (1293-1394)
    Quyển 9: D N Lễ - Trần Thiếu Đế (1369-1400)
    Quyển 10: Hồ Quí Ly - Giản Định Đế (1400-1409)
    Quyển 11: Lê Thái Tổ (1423-1433)
    Quyển 12: Lê Thái Tông (1433-1442) - Thánh Tông (1460-1497
    Quyển 13: Lê Hiến Tông (1497)/Mạc Phúc Nguyên (1546) .
    Quyển 14: Lê Trung Tông (1548) đến Nguyễn Phúc Nguyên (1613)
    Quyển 15: Lê Thần Tông (1619-1643) đến Lê Dụ Tông (1705-1728) Quyển 16: Trịnh Cương (1709) đến Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777)
    Quyển 17: Trung Ương hoàng đế (1778 – 1793)
    Quyển 18: Quang Trung hoàng đế (1788-1792)
    Quyển 19: Cảnh Thịnh hoàng đế (1792-1802)
    Quyển 20: Gia Long hoàng đế (1802-1820)
    Quyển 21: Minh Mạng hoàng đế (1820-1841)
    Quyển 22: Thiệu Trị hoàng đế (1841-1847) đến Tự Đức (1847-1885)
    Quyển 23: Pháp chiếm Gia Định (1859) và chiếm luôn ba tỉnh miền Tây Quyển 24: Các cuộc kháng chiến của nghĩa quân miền Nam
    Quyển 25: Pháp chiếm Hà Nội (1882) đến Hòa ước Giáp Thân (1884) Quyển 26: Pháp lập Liên bang Đông dương – các phong trào bình Tây sát Tả
    Quyển 27: Đồng Khánh (1885...) – các phong trào sĩ phu yêu nước Quyển 28: Vua Thành Thái (1889-1907) và Duy Tân (1907-1916)
    Quyển 29: Trần Cao Vân (VN QPH) – các phong trào kháng chiến toàn quốc Quyển 30: Khải Định (1916-25) Bảo Đại (1925-45) – anh hùng Nguyễn Thái Học



    Mỗi một dân tộc đều có bộ môn Quốc sử riêng xây dựng trên sự kiện lịch sử cụ thể. Lòng yêu nước của người dân được gìn giữ, tô bồi nhờ vào tinh hoa của truyền thống dựng nước và giữ nước qua các sự kiện lịch sử này. Bởi vậy không có một quốc gia nào mà không quan tâm tới việc giáo dục thế hệ trẻ biết rành rõi về lịch sử của dân tộc mình. Quan tâm là một chuyện, việc hiệu quả của sự giáo dục tuỳ thuộc vào nhiều điều kiện. Dân tộc ta có ưu điểm nhờ vào truyền thống văn học thơ phú mà đem được những bài học lịch sử đi vào tâm thức của người dân.

    Bác sĩ Hồ Đắc Duy đã triển khai ưu điểm đó, đem lịch sử hơn bốn ngàn năm của dân tộc ta với Đại Việt Sử Thi bằng hình thức thơ phú. Đai Việt Sử Thi chia làm 30 quyển (mỗi quyển tập hợp một nhóm thời đại tiêu biểu), mở đầu bằng Hồng Bàng và kết thúc ở thời đại trầm kha nhất của đất nước: thời chống Pháp với anh hùng Nguyễn Thái Học.

    CHƯƠNG MỞ ĐẦU

    Dân tộc ta từ ngày dựng nước
    Giòng sử thiêng đã được viết ra
    Hằng nghìn năm trước trôi qua
    Đất đây đã có quốc gia Việt Thường


    THỜI ĐẠI HỒNG BÀNG (2879 - 257 BC)

    Vua Thần Nông vốn giòng Lạc Việt
    Cháu : Đế Minh . Nối nghiệp vua ban (2879 TCN)
    Rừng xanh, Ngũ Lĩnh chiêm quan
    Phương Nam chọn đất , cưới nàng Vụ Tiên


    KINH DƯƠNG VƯƠNG - XÍCH QUỶ

    Với mỹ nhân xe duyên kết tóc
    Sinh ra đời Lộc Tục hoàng nam
    Cắm lều, dựng trại, chiêu dân
    Đặt tên Xích Quỷ giang sơn một vùng

    Kinh Dương Vương xưng hùng một cõi
    Đất nước dài một giải mênh mông
    Kết hôn con gái Thần Long
    Sinh ra Sùng Lãm nối dòng Vương gia


    LẠC LONG QUÂN

    Lạc Long Quân có bà vợ trẻ
    Nàng Âu Cơ diễm lệ thướt tha
    Bà sinh một bọc trứng ngà
    Một trăm trứng nở thành ra trăm người

    Đi theo cha, năm mươi về tới
    Bỏ núi rừng ra mãi Biển Đông
    Mẹ cha dòng dõi : Tiên , Rồng
    Như rừng với biển khó lòng cùng nhau

    HÙNG VƯƠNG - VĂN LANG

    Mãi về sau, Long Quân chọn được
    Đất Phong Châu khí vượng kinh đô
    Văn Lang lập quốc bấy giờ
    Hùng Vương xưng đế, cõi bờ tuần tra

    Nước Văn Lang, nhìn ra Đông Hải
    Động Đình Hồ ở mãi Bắc phương
    Bờ Tây : Ba Thục chắn đường
    Phía Nam giáp nước Hồ Tôn của Chàm

    Chia đất nước ra làm mấy bộ
    Lấy Văn Lang làm chỗ trung quân
    Việt Thường, Ninh Hải, Cửu Chân
    Hoài Hoan, Giao Chỉ, Bình Văn, Dương Tuyền

    Miền Vũ Dịch, Chu Diên, Cửu Đức
    Miền Tân Hưng, Phúc Lộc, Vũ Ninh
    Ngoài xa Lục Hải mấy thành
    Bên trong Lạc Tướng vây quanh bên ngài

    Người Bách Việt chen vai sát cánh
    Sống quây quần bên nhánh sông Lô
    Đất, rừng trù phú trời cho
    Dân chuyên nông nghiệp, rành đồ gốm nung

    Nền Văn Hóa Đông Sơn rực rỡ
    Chế Trống Đồng dùng ở khắp nơi
    Khai sinh tục vẽ trên người
    Xâm mình để tránh các loài dưới sông

    Vào cuối đời Vua Hùng thứ sáu
    Phù Đổng hương có cậu con trai
    Lên ba chẳng nói chẳng cười
    Nghe tin giặc đến liền đòi sứ vô

    Tâu Hoàng Thượng : Xin cho thảo tặc
    Sẽ đánh nhừ tan tác giặc Ân
    Xin đúc ngựa sắt roi thần
    Để làm vũ khí đánh quân bạo tàn

    Rồi vươn vai, xua tan lũ giặc
    Xong quay về đến đất Sóc Sơn
    Áo nhung bỏ lại bên đường
    Dấu chân Phù Đổng Thiên Vương nay còn

    Đời Thành Vương, vua sai đem lễ (1062 TCN)
    Biếu nhà Chu : Bạch trĩ vũ mao
    Mở đầu hai nước bang giao
    Chu công đáp lại , xe trao đưa về

    Nàng Mị Nương muôn bề sắc sảo
    Trai Thục bang kỉnh báo cầu thân
    Vua Hùng hỏi ý quần thần
    Xét rằng bên Thục mười phân đáng ngờ

    Việc hôn nhân chẳng qua là tính
    Dùng mưu ngầm kiêm định Văn Lang
    Vua Hùng đã biết ý gian
    Lựa lời từ chối Thục Vương việc này

    Lại treo bảng kén tài phò mã
    Ai nhanh chân sẽ gả Mị Nương
    Sơn Tinh sớm, được hưởng hương
    Chậm chân chàng Thủy đau thương hận thầm

    Thủy Tinh thề , mổi năm làm lụt
    Ra oai thần mưa trút nước dâng
    Thục Vương xấu hổ còn hơn
    Dặn cho con cháu quyết tâm trả thù

    THỜI ĐẠI NHÀ THỤC (257 - 208 BC) - AN DƯƠNG VƯƠNG ÂU LẠC

    Năm Giáp Thìn (257TCN) bấy giờ Thục Phán
    Xâm lấn dần địa phận Văn Lang
    Tự xưng hiệu An Dương Vương
    Kinh đô đóng ở Việt Thường Phong Khê

    Bỏ quốc hiệu Văn Lang ngày trước (257TCN)
    Đổi ra thành Âu Lạc từ đây
    Tính theo năm tháng đến rày
    Hăm bảy thế kỷ , kế thay vua Hùng

    Đời cuối cùng của giòng Hồng Lạc
    Tính ra là mười tám Hùng Vương
    Trải bao điền hải tang thương
    Đến nay Thục Phán chiếm luôn riêng mình

    Chọn được chỗ lương điền đất tốt
    Vua cho người động thổ khởi công
    Cổ Loa thành gọi Tư Long
    Xoay theo xoắn ốc từ trong ra ngoài

    Thành Tư Long xây hoài chẳng được
    Thần Kim Quy bày chước trừ ma
    Dặn rằng dù có can qua
    Linh Quang, Kim Trảo, móng ta cho người

    Cổ Loa thành bời bời dũng khí
    Tường thì cao, hào rộng lại sâu
    Giang sơn Vua Thục từ sau
    Linh Giang Nam Bắc đối đầu Trung Hoa

    Tần Thủy Hoàng làm vua Trung Quốc
    Cho Nhâm Ngao đất được một miền (214TCN)
    Triệu Đà giữ trấn Long Xuyên
    Phía Nam Thiên Đức thuộc quyền Thục Vương

    Đất Nam phương lăm le muốn lấy
    Đã mấy lần thất bại mưu sâu
    Sai con Trọng Thủy sang hầu
    Làm quan Túc Vệ, bắc cầu thông gia

    Chàng Trọng Thủy nghe cha đánh cắp
    Lấy nỏ thần bẻ gập làm đôi
    Âm thầm để tạm một nơi
    Đánh lừa vua Thục và người chung quanh

    Cuộc chiến tranh về sau xảy đến
    Cứ tưởng rằng nỏ vẫn chỗ xưa
    Đến khi lâm trận nhà vua
    Mới hay kẻ cắp đã đưa đi rồi
    Giặc đuổi gấp, bén sau chân ngựa

    Tới đường cùng núi Dạ chắn ngang
    Thục Vương ngửa mặt mà than
    "Nỏ thần vô dụng, Rùa thần cứu ta"
    Rùa hiện ra, nhìn vua rối gắt :

    "Kẻ ngồi sau là giặc biết không ?"
    Mị Châu tình đã nặng lòng
    Rắc đường lông ngỗng để chồng tìm theo
    Vua quay lại, chém vèo một nhát

    Nàng đã ra cái xác không hồn
    Từ đây triều Thục mất luôn
    Năm mươi năm chẵn chỉ còn vết lông (257-208TCN)
    Đất Phiên Ngung vốn giòng Chân Định

    Vua Triệu Đà thôn tính Lĩnh Nam
    Là người quỷ quyệt, mưu thâm
    Đã từng hỏi thử : "Ta bằng Lưu Bang ?"


    http://chimviet.free.fr/11/hdduy/dvst00.htm



    Được sửa lần cuối bởi anap3 vào ngày khoảng 1 10 năm trước với 1 lần trong tổng số.
  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • THỜI ĐẠI NHÀ TRIỆU (207 - 111 BC) - ÂU LẠC TRIỆU ĐÀ ( 207 - 137 BC)

    Nam Việt Vương Triệu Đà xưng đế (207TCN)
    Năm Mậu Ngọ làm lễ lên ngôi
    Giang sơn hùng cứ một thời
    Cất quân chiếm lấy đất ngoài Trường Sa

    Đánh Ngô Nhuế chạy xa khỏi đảo
    Nơi biên thùy tiến thảo viễn chinh
    Quyền uy riêng một triều đình
    Dùng cờ Tả đạo xưng quyền đế quân

    Triệu Vũ Đế thâu dần đất nước
    Ở phía Nam tới được Việt Thường
    Bắc Phương thì đến biên cương
    Cùng người Trung Quốc vạch đường phân ranh

    Hán Văn Đế trị bình cường thịnh (179 TCN)
    Sai người vào Chân Định tìm ra
    Mộ phần, gia tộc Triệu Đà
    Sửa sang miếu mạo mấy tòa cung lăng

    Kể từ đó, hai phương giao hảo
    Hán và Đế xếp giáo lui binh
    Bàng dân thiên hạ yên tình
    Nước nhà thịnh trị thanh bình cả hai

    VĂN VƯƠNG (137 - 125 BC)

    Cháu là Hồ, con trai Trọng Thủy
    Nối ngôi vua, Vũ Đế trao cho
    Văn Vương học đạo Thuấn Nghiêu
    Lấy nhân lễ nghĩa làm điều trị dân

    Mân Việt Vương cho quân xâm lấn
    Nam Việt xưa thuộc Hán từ lâu
    Kiến Nguyên sai tướng vào chầu
    Giúp giùm Nam Việt, kết nhau lúc này

    Lời giao ước chung tay chống giặc
    Giữa hai miền Nam Việt - Trung Hoa
    Nếu khi gặp việc can qua
    Thì cùng hợp sức để mà cứu nhau

    Vì Văn Vương ơn sâu cầu cạnh
    Cho nên Vua bàn tính thiệt hơn
    Sai người sắm sưả đưa con
    Đem qua nhà Hán để làm con tin

    Triệu Văn Vương ngồi trên gần được
    Mười hai năm nối nghiệp Triệu Đà (137 - 125 TCN)
    Anh Tề lúc trước cho qua
    Nay quay trở lại thay cha trị vì

    MINH VƯƠNG 125 - 113 BC)

    Mới vừa về, lên ngôi Thiên tử (124 TCN)
    Triệu Minh Vương đã phụ lòng tin
    Bỏ trưởng, lập thứ lòng riêng
    Phong Cù Hoàng hậu gây thêm bất hòa

    Mất kỷ cương quốc gia phân hóa
    Phép nước suy mối họa gần bên
    Vợ thì dâm loạn chuyên quyền (112 TCN)
    Con còn bé bỏng đưa lên trị vì

    Hán Nguyên Đỉnh tính bề xâm lược
    Sai Ngụy Thần dùng chước gián ly
    Khi dụ dỗ, lúc răn đe
    Khuyên vua phiên thuộc theo về Bắc Phương

    AI VƯƠNG (113 - 112 BC)

    Triệu Ai Vương sức hèn tuổi trẻ
    Thái hậu là một kẻ trăng hoa
    Giữa triều Tể Tướng Lữ Gia
    Vì dân can gián nhưng bà chẳng nghe

    THUẬT DƯƠNG VƯƠNG (112 - 111 TCN)

    Lữ Gia vì nước nhà họ Triệu
    Vung thước gươm kết liễu Ai Vương
    Lập con trưởng của Minh Vương
    Tên là Kiến Đức, Thuật Dương Vương hầu

    Không bao lâu, biết vua bị giết
    Nguyên Đỉnh bèn thừa dịp ra tay
    Phiên Ngung sắp đặt mấy ngày
    Mùa Đông Canh Ngọ bao vây thành trì (111 TCN)

    THỜI ĐẠI BẮC THUỘC NHÀ TÂY HÁN (110 BC - 39 AD)

    Nước suy vi, dân tình ta thán
    Tổ quốc chừ quân Hán cướp đi
    Đất phân chín quận , giặc chia
    Đặt quan cai quản, sau khi giết người

    Đất Lĩnh Nam từ thời lập quốc
    Đến bây giờ lại mất vào tay
    Nước ta Bắc thuộc từ rày (110 TCN)
    Giặc gây thảm cảnh đọa đày nhân dân

    Đặt đất Nam làm đô hộ phủ
    Thạch Đái là thứ sử Giao Châu
    Tích Quang văn hóa thâm sâu
    Tiếp theo Tô Định tham giàu bạo quan (110 TCN - 39)

    Ở Giao Chỉ người dân còn nhớ
    Công của người Thái Thú Nhâm Diên
    Dạy ta cày cấy canh điền
    Tỏ lòng tưởng niệm lập đền khói nhang

    Thời Tây Hán lầm than khốn đốn
    Suốt thời gian trăm bốn chín năm (149)
    Bao nhiêu uất hận hờn căm
    Thêm tên Tô Định tham tàn hại dân

    THỜI ĐẠI TRƯNG NỮ VƯƠNG - TRƯNG VƯƠNG (40 - 43)

    Hai Bà Trưng con quan Lạc tướng
    Quê Phong Châu thuộc huyện Mê Linh
    Trưng Trắc đến tuổi trưởng thành
    Cùng chàng Thi Sách, kết tình phu thê

    Thù Tô Định lắm bề hà khắc
    Lại giết chàng Thi Sách tướng quân
    Tham tàn một lũ bất nhân
    Đọa đày thiên hạ muôn phần đớn đau

    Thù Tô Định không sao kể xiết
    Cùng với em thề quyết một lòng
    Nam nhi đánh với quần hồng
    Để coi nhi nữ vẫy vùng thử xem

    Bà Trưng Trắc cùng em Trưng Nhị
    Phất cờ đào quyết chí trừ gian
    Thù chồng không trả nào cam
    Nước còn nô lệ chẳng kham lao tù

    Vua nhà Hán, khởi từ năm Sửu (41)
    Cho Phục Ba sang cứu Phong Châu
    Lưu Long, Phù Lạc phong hầu
    Đặt làm phó tướng dẫn đầu tiến binh

    Ở Mê Linh, cùng dân cả nước
    Để sẵn sàng chặn bước xâm lăng
    Cửu Châu , Hợp Phố , Nhật Nam
    Thanh Trì , Nam Hải , Lĩnh Nam theo về

    Lệnh phát đi, đánh nhanh rút gọn
    Dụ giặc vào chia mỏng địch quân
    Kẻ thù như nước đang dâng
    Ào ào tiến đến đã gần Tây Nhai

    Trước thế giặc như loài lang sói
    Sợ quân mình khó nổi đánh nhau
    Vua bà ra lệnh lùi sâu
    Vào vùng cứ địa, đào hào cắm chông

    Trận khởi đầu giết xong Hàn Vũ
    Giết tên này ở chỗ Tây Nhai
    Trăm quân giặc chết trận này
    Khiến cho Mã Viện phải thay ý đồ

    Vượt sông Hồng thừa cơ đánh úp
    Lịnh Hai Bà : Tạm chớ giao tranh
    Bảo toàn lực lượng để dành
    Cấm Khê đợi lịnh, đánh nhanh bất kỳ

    Giặc biết ý cho đi từng đội
    Lấn chiếm dần không vội ra quân
    Binh ta đánh chậm, cầm chân
    Điều quân đại chiến ở gần Hát Giang

    Dưới lọng vàng, trên đầu voi chiến
    Bóng hai bà ẩn hiện trong sương
    Cờ đào phấp phới hiên ngang
    Quần thoa nhi nữ mỡ đường tiến quân

    Sau một trận giao tranh ác liệt
    Sa cơ đành tuẫn tiết hy sinh
    Hát Giang nước biếc gieo mình
    Ơn đền nợ nước, tình riêng với chồng

    Hai Bà Trưng một lòng với nước
    Vì cơ đồ vị quốc vong thân
    Trăm năm nước chảy đá mòn
    Vẫn còn in lại dấu chân vua Bà

    Năm Quý Mão hai bà tuẫn tiết
    Trước mười năm ở tít Trung Đông (43)
    Chiên con là chúa Hài Đồng
    Chết trên thánh giá vì lòng độ nhân

    Rút về Nam, Đô Dương vào núi
    Cố tìm đường đánh đuổi Hán quân
    Nghĩa binh Chu Bá theo chân
    Mấy năm kháng chiến yếu dần tiêu hao

    "Cột Đồng gãy thì Giao Châu diệt"
    Là lời thề tướng giặc ghi đây
    Phục Ba đúc, dựng cột này
    Cổ Lâm dấu tích đến nay khó tìm

    THỜI ĐẠI BẮC THUỘC NHÀ ĐÔNG HÁN (43 -226)

    Quân Đông Hán gọng kềm siết chặt
    Trị dân Nam mặc sức giam cầm
    Tha hồ vơ vét, tham lam
    Cướp theo của cải bạc vàng mang đi

    Những Thái Thú người Di, người Hán
    Rất nhiều tên tán tận lương tâm
    Làm quan đâu được vài năm
    Vén thu lông trĩ, kỳ nam đem về

    Năm Canh Tuất (190) Man Di Nam Chiếu
    Quy tụ người ở đạo Nhật Nam
    Cũng như dân ở Tượng Lâm
    Lập nên nước mới là Chàm hiện nay

    Nước Lâm Ấp tôn ngay thủ lĩnh
    Là Khu Liên thống lĩnh toàn dân
    Về sau đổi lại Hoàng Vương
    Đất đai khai phá mở mang xuống dần

    Hán Trung Bình vào năm Giáp Tý (184)
    Giao Lý Tiến quản lý Giao Châu
    Rồi sai Sĩ Nhiếp về sau
    Phong chức Thái Thú cầm đầu từ đây

    THỜI ĐẠI BẮC THUỘC NHÀ ĐÔNG NGÔ (226 - 280)

    Sĩ Nhiếp người Vấn Dương, nước Lỗ
    Cuối năm Dần đầu với Ngô Vương
    Tôn Quyền cho gửi thư sang
    Giữ nguyên chức tước, phong hàm Tướng Quân

    Quân xâm lược dần dần áp đặt
    Lấy luật Tàu ép bắt dân ta
    Đổi thay phong tục đã qua
    Lâu ngày đồng hóa, dần dà diệt luôn

    Năm Bính Dần nữ vương Triệu Ẩu (246)
    Dấy dân quân chiến đấu diệt Ngô
    Núi Nưa tụ nghĩa dựng cờ
    Giết viên thứ sử nhà Ngô đương thời


    THỜI ĐẠI TRIỆU THỊ TRINH (248 - 248)

    Triệu Thị Trinh là người nhan sắc
    Cùng anh là Quốc Đạt cầm quân
    Lệnh Bà sức khỏe đang xuân
    Cỡi đầu voi dữ diệt quân bạo tàn

    Trong Núi Nưa, nuôi quân dạy tướng
    Cờ mao dùng khiển tướng điều binh
    Khiến cho giặc phải rùng mình
    Tôn Quyền biệt phái sai Hành Dương sang

    Triệu Trinh nương linh hồn chiến đấu
    Trước ba quân tả hữu giáp vàng
    Dân tôn "Lệ Hải Bà Vương"
    Tên Bà nghe đến kinh hoàng giặc Ngô

    Chúa Đông Ngô mưu mô quỷ quyệt
    Nhưng lệnh bà quyết diệt ngoại bang
    Đánh cho Lục Dận kinh hoàng
    Đánh cho quân giặc hết đường rút lui

    Đất Mỹ Hóa là nơi tử chiến
    Giặc xếp hàng Phú Điếu chôn thây
    Ngô vương chiến thuật đổi ngay
    Dằng dai phản kích đêm ngày cầm chân

    Lũ Giặc Ngô lâu dần trụ vững
    Chiếm từ từ dân chúng chung quanh
    Bà Triệu rút bỏ khỏi thành
    Nghĩa quân kiệt sức nên đành bại vong (248)

    Dòng sông Lương binh không thấy bóng
    Dáng Nhụy Kiều nữ tướng năm nao
    Phất phơ một ngọn cờ đào
    Sơn hà phút chốc lọt vào ngoại bang

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quyễn II


    CHƯƠNG MỞ ĐẦU

    Đất Giao Châu tách làm hai phía (264)
    Phần phương Nam Giao Chỉ đặt tên
    Tấn - Ngô , nhị quốc tranh quyền
    Đất vùng thuộc địa rối ren tơi bời

    Lúc Đông Ngô, lúc đời nhà Tấn
    Lũ cầm quyền, tán tận lương tâm
    Dân ta đói rách lầm than
    Dưới ách nô lệ ngoại bang bấy giờ

    Ông Đào Hoàng phong cho hầu tước
    Khi Tấn triều cướp được Giao Châu (271)
    Cầm quyền cũng được khá lâu
    Bốn đời thứ sử nối nhau kế thừa

    Quân xâm lược dù Ngô hay Tấn
    Tống Lương Tề cũng vẫn ác ôn
    Ngày càng bóc lột nhiều hơn
    Thu gom của cải để làm của riêng

    Bọn quan lại tranh quyền giành chức
    Giết lẫn nhau cưỡng bức nhân dân
    Như tên Lương Thạc, Lư Tuần (322)
    Như tên Lý Tốn, Trường Nhân bấy giờ (380)

    Phạm Hồ Đạt làm vua Lâm Ấp (399)
    Cất quân vào đánh đất Nhật Nam
    Tràn qua tiến chiếm Cửu Chân
    Giao Châu thôn tính bàn hoàn Tấn Vương (413)

    Hai năm sau Hoàn Vương đánh tiếp (415)
    Vào Giao Châu cướp giết dã man
    Bắt theo vô số dân thường
    Đem về Phật Thệ để làm tù binh

    Chúng đốt thành phá tan nhà cửa
    Hủy kho tàng phóng lửa đốt dinh
    Cửu Chân thiên hạ rùng mình
    Dã man tàn bạo, dân lành ngả nghiêng

    Viên thứ sử đương quyền tráo trở
    Dụ Hoàng Vương vào chỗ nghi binh
    Ra tay tốc chiến thình lình
    Giết ngay Hồ Đạt đuổi binh khỏi thành

    Phạm Dương Mại nhân danh Lâm Aᰠ(432)
    Xin cai quản phần đất Giao Châu
    Tống vương xuống chiếu phê vào
    Rằng không chấp thuận yêu cầu của y

    Năm Bính Tý (436) Hòa Chi khởi đánh
    Giết Phù Long tướng lãnh Chiêm Thành
    Tấn công tiến chiếm thật nhanh
    Tiến vào Tượng Phố là kinh đô Chàm

    Ở Nhật Nam giặc không quấy rối
    Thời Hoàng Vương suy thoái dần dần
    Lâm An Nam Chiếu là dân
    Không còn đáng sợ như lần trước đây

    Bọn quan lại lũ người gian ác
    Lo làm giàu đi cướp của dân
    Như tên Lưu Bột , Trường Nhân
    Như là Lưu Khải tham quan đương quyền

    Bọn Phương Bắc triền miên cướp bóc
    Hại dân lành xúi dục man di
    Điêu tàn non nước suy vi
    Long dân mong ngóng những vì cứu tinh

    NHÀ TIỀN LÝ (541 - 547) LÝ NAM ĐẾ

    Ở Thái Bình tháng hai Tân Dậu (541)
    Có một người hiểu thấu lòng dân
    Đó là Lý Bí tướng quân
    Gióng cờ tống cổ giặc Lương bạo tàn

    Đặt quốc hiệu Vạn Xuân cho nước (544)
    Dời đô về ở trước Long Biên
    Người xưng Nam Đế nguyên niên
    Xây cung Vạn Thọ đặt nền móng cho...

    Đất Việt Thường cũng từ dạo đó
    Có vương triều (544) phủ bộ trăm quan
    Đặt ra tướng võ, tướng văn
    Định thêm luật lệ để ngăn lạm quyền

    Cho Triệu Túc được làm Thái phó
    Lấy Tinh Thiều vào chỗ tướng Văn
    Phạm Tu đã có công ngăn
    Giặc người Lâm Ấp, võ quan uy quyền

    Nhà Lương sai Bá Tiên tư mã
    Làm tiên phong đánh trả Giao Châu
    Chu Diên, vua đánh phủ đầu
    Dằng dai chống cự, năm sau vỡ thành (545)

    Trận Gia Ninh , trận sông Tô Lịch
    Cả hai bên truy kích lẫn nhau
    Địch dùng mưu kế đánh mau
    Lệnh vua cho rút ngỏ hầu dưỡng quân

    Đất Khuất Lạo, Tân Xương đóng tạm
    Quân số còn hai vạn binh nguyên
    Lại thêm ngàn lẻ ghe thuyền
    Bổ sung binh lính dành riêng dự phòng

    Hồ Điễn Triệt dàn quân phục kích
    Đánh cầm chân đợi địch hết lương
    Nhằm khi chúng sắp cùng đường
    Tốc thần vua sẽ đánh tràn một phen

    Trần Bá Tiên, tướng quân của giặc
    Khích quân mình đánh thật cho hay
    Thời cơ nay đã đến tay
    Lúc đầm ngập nước đánh ngay tức thì

    Quân ta vỡ, rút về Khuất Lạo
    Để sửa binh, gươm giáo quân lương
    Tổ chức quân ngũ đàng hoàng
    Chọn thêm tướng giỏi, bổ sung nhân tài

    Vua cho vời Triệu Quang Phục đến (546)
    Trao cho người ấn triện thay vua
    Dân quân đất nước đang chờ
    Dặn người giữ vũng cơ đồ cha ông

    Triệu Quang Phục anh hùng dũng liệt
    Điều khiển quân hiểu biết mọi đàn
    Thế vua, ông nhận ngai vàng
    Sửa sang binh mã chọn đường ra tay

    THỜI ĐẠI TRIỆU VIỆT VƯƠNG -TRIỆU QUANG PHỤC (548 - 570)

    Triệu Việt Vương lên thay Nam Đế
    Đất Vũ Ninh được kể lắm người
    Anh hùng hào kiệt khắp nơi
    Tụ về dưới trướng chen vai diệt thù

    Đầm Dạ Trạch ở Chu Diên huyện
    Chọn gò cao huấn luyện dân binh
    Bùn lầy bụi rậm vây quanh
    Um tùm cây cỏ rừng xanh bạt ngàn

    Dạ Trạch Vương đánh tan tướng giặc
    Là Dương Sàn lấy đất Giao Châu
    Năm trăm năm , lệ thuộc Tàu
    Từ đây độc lập, nêu cao ngọn cờ

    Kể từ giờ dân yên nước mạnh
    Vùng cư dân ở cạnh Long Biên
    Được mùa thóc lúa nhiều thêm
    Diệt tan xâm lược chưa yên nội tình

    Lý Thiên Bảo là anh Nam Đế
    Cùng một người họ Lý bôn ba
    Trong khi giặc mới tràn qua
    Vào đất Di Lạc xưng là Đào Lang

    Đào Lang vương sau khi tạ thế
    Lý Phật Tử kế vị chúa công
    Tử xua quân xuống miền Đông
    Giành nhau với Triệu Việt Vương đất này

    Tử là tay gian manh quỷ quyệt
    Đã năm lần chỉ biết thua đau
    Nay dùng chước quỷ mưu sâu
    Tìm ra diệu kế dắt nhau trá hàng

    Xin cho con Nhã Lang gởi rể
    Cài vào nhà để dễ đoạt ngôi
    Việt Vương vốn tính thương người
    Vô tình để hắn vào nơi thăm dò

    Triệu Quang Phục chẳng lo chú ý (570)
    Bị Phật Tử tìm kế giết đi
    Cảo Nương vì quá đam mê
    Nên cha phải chết bởi nghe lời chồng

    HẬU LÝ NAM ĐẾ (571 - 602)

    Lý Phật Tử tiếm xưng Nam Đế
    Lấy họ xưa là để lừa dân
    Ô Diên, đô đóng mấy năm
    Sau dời đô đến ở gần Phong Châu

    Năm Nhâm Tuất vua Tàu sai tướng (602)
    Là Lưu Phương Tổng Quản Quân Doanh
    Đưa quân uy hiếp kinh thành
    Phật Tử quá sợ, trói mình hàng ngay

    Tướng nhà Tùy cho người áp giải
    Đưa vua về giam tại Bắc Kinh
    Nước ta nay lại trở thành
    Là đất thuộc địa dưới quyền ngoại bang

    THỜI ĐẠI BẮC THUỘC NHÀ TÙY ĐƯỜNG (603 - 938)

    Đất Việt Thường , vào tròng lệ thuộc (603)
    Quân Tùy Đường lần lượt kéo sang
    Dưới giày xâm lược ngoại bang
    Nước non xơ xác hoang tàn thảm thương

    Bọn Bắc phương đánh hơi thấy lửa
    Nghe Lâm Aᰠvàng quả thật nhiều
    Lưu Phương được phái đem theo
    Quân hơn một vạn vượt đèo đánh sang

    Vua Phạm Chí chận đường đánh trả
    Quân nhà Tùy bèn giả chạy thua
    Đột nhiên quay lại đánh vào
    Trung quân phản kích làm vua chạy dài

    Nhà Tùy mất, Đường sai Đạo Hựu
    Sang Giao Châu phủ dụ Khâm Hòa
    Là người khét tiếng điêu ngoa
    Khâm Hòa Thái Thú xin qua chầu hầu (618)

    Y cướp bóc trân châu ngọc quý
    Khi về Tàu, làm lễ dâng lên
    Địa đồ, sổ bộ tịch điền
    Của dân Nam Việt không quên một vùng

    Đường Thái Tông đổi tên thành Phủ (622)
    Xứ Việt Thường xưa gọi Giao Châu
    Nay thì được gọi như sau
    An Nam Độ Hộ thuộc Tàu từ đây

    LÝ TỰ TIÊN (687)

    Quan cai trị mặc tay vơ vét
    Của trong dân thu hết làm riêng
    Có người tên Lý Tự Tiên
    Hưng binh khởi nghĩa đứng lên diệt thù (687)

    Vì lực ít, khó cơ chiến thắng
    Bị giặc Tàu vây hãm đó đây
    Về sau bị bắt, lưu đày
    Quân tan, binh vỡ tiếc thay anh hùng

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • ĐINH KIẾN (687)

    Tướng của người là ông Đinh Kiến (687)
    Gom tàm quân quyết chiến tới cùng
    Đánh thành vây phủ tấn công
    Giết tên Đô hộ dẹp xong lũ này

    Vua nhà Đường cử ngay Tư mã
    Tào Trực Tỉnh qua ngã Quế Châu
    Phục binh giết Kiến trả thù
    Cho tên Đô Hộ bấy giờ tham lam


    MAI HẮC ĐẾ (722)

    Mấy trăm năm , mấy đời Bắc thuộc
    Toàn dân ta trói buộc triền miên
    Bọn quan nha lại đương quyền
    Làm điều thất đức đảo điên lòng người

    Khắp mọi nơi dân tình ta thán
    Mong có người báo hận cho dân
    May thay có bậc thánh nhân
    Quê làng Mai Phụ, Thúc Loan tên ngài

    Cả toàn dân đến nơi Can Lộc (713)
    Một lòng trừ ngoại tộc Bắc Phương
    Thề nay đánh đuổi giặc Đường
    Trừ quân xâm lược nhiễu nhương giống nòi

    Năm Quý Sửu lên ngôi Cửu Ngũ (713)
    Ngài là người đất cũ Hoan Châu
    Thu về đất nước đã lâu
    Bị Tàu đô hộ cất đầu không lên

    Năm Giáp Dần (714) đuổi tên Đô Hộ
    Là Sở Khách ra khỏi Giao Châu
    Từ đây sạch bóng quân thù
    Toàn dâm mỡ hội khởi đầu kỷ nguyên

    32 châu thu liền một mối
    Một Vương quyền phục vụ cho dân
    Ngoại giao các nước ở gần
    Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân để cùng

    Lập thế chung : Tìm đường giữ nước
    Khai sinh ra chiến lược liên hoàn
    Họp cùng các nước lân bang
    Tạo thành sức mạnh sẵn sàng đấu tranh

    Bốn mươi vạn dân binh các nước
    Làm kinh hồn lũ cướp Bắc phương
    Mười năm ròng rã vua Đường
    Vạch xong kế hoạch lên đường xuất quân

    Dương Tư Húc làm quan Vệ Tướng (722)
    Tiến quân vào theo hướng Phục Ba
    Húc theo đường cũ đi qua
    Từ Khâm Châu đến chỉ vừa một đêm

    Trong thoáng chốc đã lềnh quân giặc
    Ùa vào theo lối tắt đường sông
    Quân ta bối rối vô cùng
    Những nơi xung yếu lọt vòng bao vây

    Mai Hắc Đế rời ngay khỏi phủ
    Rút vào rừng đánh trả địch quân
    Binh lương , khí giới hao dần
    Quân cùng lực cạn mười phần còn hai

    Nước độc lập đã mười năm chẵn (712 - 722)
    Ngài mất rồi nhưng vẫn còn đây.
    Tiếc thuong không nói nên lời
    Đền Mai Hắc Đế nơi người mệnh chung

    BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG (761 - 802)

    Ba quý tử con Phùng Hạp Khánh (767)
    Vị tướng tài bên cạnh Thúc Loan
    Những trang văn võ song toàn
    Phùng Hưng anh cả lại càng oai phong
    Vật ngã trâu, tay không bắt hổ
    Uy danh kia sấm nổ gần xa
    Hưng binh vì nước, vì nhà (766 - 780)
    Anh hùng hào kiệt nghe qua theo về

    Cờ khởi nghĩa lời thề vì nước
    Quyết tâm giành cho được non sông
    Giúp dân giải thoát khỏi vòng
    Đã từng nô lệ ở trong tay Tàu

    Vì nô lệ phất cờ đại nghĩa
    Đánh tan tành khiếp vía ngoại xâm
    Đánh cho tướng giặc bàng hoàng
    Đánh cho tơi tả đầu hàng mới thôi

    Cao Chính Bình sợ oai mà chết (791)
    Giặc nhà Đường kế hết cạn lương
    Vẫn còn ngoan cố không hàng
    Về sau dùng kế Anh Hàng mới xong

    Dẹp giặc xong, làm vua trị nước
    Ở trên ngôi vừa được bảy năm (782)
    Một lòng vì nước vì dân
    Khi ngài tạ thế nhân tâm sụt sùi

    Ngài đã vì mệnh trời , quốc tổ
    Dâng tôn ngai Bố Cái Đại Vương
    Cầm quyền giữ mối kỷ cương
    Giúp dân bẻ gãy gông cùm ngoại bang

    Con Phùng An thay cha kế nghiệp
    Bị nhà Đường uy hiếp đánh tan
    Triệu Xương cai trị cử sang
    Làm quan Đô Hộ An Nam lúc này (791)

    Nửa thế kỷ từ ngày mất nước (790 - 840)
    Cứ mỗi lần, kẻ trước kẻ sau
    Sang làm Thứ Sử Giao Châu
    Tên nào cũng trở thành giàu có thêm

    Tội cho dân lên rừng xuống biển
    Mò ngọc trai, tìm kiếm ngà voi
    Cong lưng tôi mọi cho loài
    Ngoại bang xâm lược tác oai dân mình

    DƯƠNG THANH (819)

    Năm Kỷ Hợi (819) Dương Thanh thứ sử
    Người Giao Châu chiêu dụ dân quân
    Phất cờ khởi nghĩa đánh tan
    Giết Lý Tượng Cổ tham tàn hiếp dân

    Mấy năm sau Dương Thanh tử trận
    Người Nam Chiếu Hoàn Động kéo sang
    Cùng đi có cả Hoàn Vương
    Là vua Lâm ấp lên đường xâm lăng


    KHÚC THỪA DỤ (906 -907)

    Khúc Thừa Dụ vừa ngay khi ấy
    Với danh gia nổi dậy cơ đồ
    Một lòng vì nước mà lo
    Cùng dân khởi nghĩa, đắp mô chiếm thành

    Giặc giả phong "Đồng Bình Chương Sự"
    Kèm theo chức Tiết Độ Sứ quân
    Dụ người mong được lòng dân
    Dịu cơn phẫn uất của dân Việt mình (906)

    Giặc biết đâu, người anh hùng ấy
    Xoay thế cờ đoạt lấy thời cơ
    Cùng dân giữ vững cõi bờ
    Dễ dàng bẻ gãy ý đồ mưu thâm

    KHÚC HẠO (907 - 917)

    Mới ba năm mà người vội thác
    Con: Khúc Hạo gánh vác lên thay (907)
    Một trang anh kiệt nhân tài
    Lấy dân làm gốc vạch ngay tỏ tường

    Nhà cải cách kiếm đường phát triển
    Từ nghèo nàn sẽ biến ấm no
    Tổ chức quản lý phân cho
    Từng châu, từng phủ phải lo chu toàn

    Đừng đầu Tỉnh là viên Quản Giáp
    Giáp, chia thành từng xã nhỏ hơn
    Lựa người lệnh trưởng khôn ngoan
    Bình quân thế ruộng vuông tròn cho dân

    Lấy an lạc, khoan dung, giản dị
    Làm phương châm cai trị nhân dân
    Cải cách hành chính dần dần
    Quốc gia đổi mặt ngày càng thắm tươi

    Khi tạ thế chọn người kế vị
    Suốt đời vua chỉ nghĩ đến dân
    Giữ cho đất nước hùng cường
    Dân thêm giàu mạnh ngày càng mở mang

    Để giang sơn ngày càng vững chắc
    Phải đối đầu với giặc Bắc phương
    Ngoại giao khôn khéo nhún nhường,
    Sứ thần trao đổi bình thường với nhau

    Nơi địa đầu giữ yên biên giáp
    Với Chiêm Thành, Chân Lạp phương Nam
    Phân chia ranh giới rõ ràng
    Đặt quân canh giữ sẵn sàng chặn ngay

    KHÚC THỪA MỸ (917 - 923)

    Khúc Thừa Mỹ lên thay Khúc Hạo (917)
    Sai sứ thần sang báo vua Lương
    Giữ tình giao hảo bình thường
    Nhận cờ Tiết Việt tượng trưng Phiên thần (919)

    Quân Nam Hán manh tâm chiếm đoạt
    Lý Khắc Chính được cắt đem qua
    Binh hùng tướng mạnh quân xa
    Manh tâm chiếm lại nước ta bấy giờ

    Năm Canh Dần kẻ thù Nam Hán (930)
    Lấy đất đai ở quận Giao Châu
    Đại La, Hoan , Ái thu vào
    Cất quân mấy vạn đánh vào Champa

    Thứ sử mới tên là Lý Tiến
    Được điều sang trợ giúp việc quân
    Nhưng mà thế giặc đã tàn
    Đại La giữ được mấy phần chung quanh

    Ở Dương Xá vang danh Bộ Tướng
    Người họ Dương hào trưởng năm xưa
    Ba ngàn quân sẵn phòng ngừa
    Phất cờ khởi nghĩa diệt chừa ngoại xâm

    Dương Đình Nghệ phá tan bọn giặc
    Đuổi thứ sử vây bắt tàn quân
    Giết thêm Trần Bảo hung thần
    Tự xưng Tiết Độ Sứ Quân cầm quyền

    DƯƠNG ĐÌNH (Diên) NGHỆ (931 - 938)

    Dương Đình Nghệ giữ yên đất nước
    Coi binh quyền mới được bảy năm
    Thì tên Nha Tướng gian thâm
    Là Kiều Công Tiễn manh tâm hại người (937)

    Ham địa vị giết ngay chủ cũ
    Công Tiễn kia dạ thú lòng lang
    Cũng vì ham chức, làm càng
    Rước quân ngoại tộc phá tan cơ đồ

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quyễn III


    NGÔ QUYỀN (938-944)

    Tính kể từ đầu năm Mậu Tuất (938)
    Đất nước ta quả thật rối bời
    Lăm le Nam Hán bên ngoài
    Bên trong nội loạn lòng người oán than

    Đất nước chìm trong cơn nguy biến
    Vua Nam Hán muốn chiếm nước ta
    Sai con Hoằng Tháo đem qua
    Binh hùng tướng mạnh để mà xâm lăng

    Chúa Nam Hán chiếu ban mũ áo
    Cho Vạn Vương Hoằng Tháo tiên phuông
    Cử thêm binh mã lên đường
    Chiến thuyền theo hướng Bạch Đằng tiến vô

    Còn riêng y, đóng đô Bác Bạch
    Ở Hải Môn ứng trực sẵn sàng
    Nghe tin quân giặc tràn sang
    Ngô Quyền gấp rút chặn đường , đánh ngay

    Trước giết Tiễn , sau bày thế trận
    Sông Bạch Đằng dụ chúng tiến sâu
    Cọc ngầm từng khoảng cách nhau
    Đợi khi nước lớn trên bàu đổ ra

    Thuyền của ta nhấp nhô mặt sóng
    Tháo tức mình nổi trống tiến quân
    Đuổi theo sát khí đằng đằng
    Quân ta giả chạy, theo giòng nước xuôi

    Rồi đột nhiên ta quay phản kích
    Khi nước triều vừa kịp rút nhanh
    Đánh cho một trận tan tành
    Quan quân tướng giặc thất kinh rụng rời

    Thuyền của địch đâm lòi cọc sắt
    Nát lủng sườn khiến giặc thất kinh
    Nhác trông lại thấy Ngô Quyền
    Oai phong lẫm liệt trên thuyền chỉ huy

    Ta chẻ đôi, phân ly đội ngũ
    Giặc bỏ thuyền lố nhố lên bờ
    Hán quân đâu thể nào ngờ
    Lọt vòng mai phục ta chờ từ lâu

    Địch khiếp vía đâm đầu tháo chạy
    Còn quân ta thấy vậy đánh luôn
    Dồn cho chúng đến cùng đường
    Bắt ngay Hoằng Tháo, trước quân chém liền

    Chúa Nam Hán vật mình đau đớn
    Biết con đà tử trận , phanh thây
    Xác con để lại đất này
    Giận mình không đủ sức tài cứu con

    Bạch Đằng Giang, sông xưa hùng dũng
    Tiếng sóng rền còn vọng đâu đây
    Hồn thiêng chót vót chân mây
    Ngọn cờ độc lập tung bay trên thành

    Người ta bảo có vành áng sáng (898 - 944)
    Khi vua sinh tỏa rạng khắp nơi
    Khí thiêng un đúc nên người
    Tướng đi tựa hổ, nốt ruồi ngang lưng

    Có trí dũng, sức nâng được vạc
    Lúc trẻ thơ mẹ đặt Ngô Quyền
    Cùng con Dương Nghệ kết duyên
    Được phong Nha tướng cầm quyền Ái Châu

    Đất Đường Lâm ơn sâu vũ lộ
    Chọn Loa Thành làm chỗ đóng quân
    Lập Dương hoàng hậu , chiêu đàn
    Đặt ra chức tước cho hàng thân vương

    Chế nghi lễ, đai cân phẩm phục
    Thiết triều đình theo bậc đế vương
    Ngài vừa bốn bảy thì băng
    Ở ngôi cửu ngũ Việt Thường sáu năm (941)

    Một chiến thắng ngàn năm để lại
    Sông Bạch Đằng mãi mãi thiên thu
    Đường Lâm xây dựng cơ đồ
    Ngô Vương lưu dấu để cho đến giờ

    DƯƠNG BÌNH VƯƠNG (945-950)

    Ngô Xương Ngập kế thừa ngôi báu
    Có Tam Kha là cậu của mình
    Di thư Vua viết phân minh
    Giao Kha giúp rập con mình lên ngôi

    Nhưng Tam Kha nuốt lời di chúc (945)
    Tên gian thần thừa lúc ấu vương
    Mon men trở dạ bất lương
    Cướp ngôi của cháu , Bình Vương xưng càn

    Dương Tam Kha mưu gian hại cháu
    Bọn cận thần cho dẫu đa mưu
    Cũng không giấu được ý đồ
    Soán ngôi phản nghịch dở trò mị dân

    HẬU NGÔ VƯƠNG (951-965)

    Ngô xương Văn nhân danh triều cũ
    Cùng hai người họ Đỗ, họ Dương
    Dùng mưu bắt được Bình Vương
    Bảo toàn cơ nghiệp nối giòng họ Ngô

    Văn cùng anh cùng lo việc nước
    Sau Xương Ngập lấn lướt chuyên quyền
    Muốn giành tất cả làm riêng
    Gây nên chia rẽ anh em trong nhà

    LOẠN SỨ QUÂN (966)

    Loạn sứ quân tạo ra thảm cảnh (966)
    Mười hai phe tranh đánh lẫn nhau
    Sứ quân tên họ như sau :
    Lý Khuê, Bạch Hổ, Đằng Châu chiếm thành

    Đất Thái Bình Nguyễn Khoan hùng cứ
    Đỗ Cảnh Thạc, Xương Xí, Nguyễn Siêu
    Lã Đường, Kiều Thuận tiếp theo
    Rồi Ngô Nhật Khánh lại gieo kinh hoàng

    Kiều Công Hãn giành dân với Tiệp
    Loạn sứ quân chém giết lẫn nhau
    Chiến tranh mãi đến năm sau
    Cuối cùng Bộ Lĩnh tóm thâu nước nhà (968)

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • ĐINH BỘ LĨNH (968 -980)

    Đinh Bộ Lĩnh vốn là bộ tướng
    Của sứ quân Trần Lãm Minh Công
    Châu Hoan thứ sữ : cha ông
    Quê người ở đất Đại Hoàn Hoa Lư

    Mồ côi cha kể từ thuở bé
    Mẹ họ Đàm quạnh quẽ nuôi con
    Ngày thường với trẻ cùng thôn
    Tréo tay làm kiệu suy tôn mà đùa

    Cầm cờ lau, tay khua nghi trượng
    Chơi như là điều tướng, khiển binh
    Người già thấy thế làm kinh
    Trẻ này sau lớn ắc thành đế vương

    Quả nhiên sau, khương cường khôn lớn
    Đầu quân về dưới trướng Minh Công
    Cùng dân dấy nghĩa xưng hùng
    Sứ quân hàng phục cuối cùng tôn lên

    Vạn Thắng Vương thành tên người gọi
    Bởi mỗi lần trống nỗi xuất quân
    Điều binh tốc thắng như thần
    Khiến cho hùng trưởng quy hàng dưới tay

    Năm Mậu Thìn lên ngai Hoàng Đế (968)
    Dời đô về kinh ấp Hoa Lư
    Đắp thành, bảo vệ kinh đô
    Sáu quân binh mã để lo giữ gìn

    Đại Cồ Việt đặt tên cho nước
    Dùng kinh tế liệu trước cho dân
    Nghiêm minh trái lệnh bất tuân
    Vạc dầu củi sắt để răn mọi người

    Vua lại sai phân chia nhiệm vụ
    Chọn nhân tài để bổ làm quan
    Biên niên, lịch sử rõ ràng
    Ghi từng sự kiện để làm tàng thơ

    Chia binh ra quân cơ mười đạo
    Cấp quân trang, mũ áo chỉnh tề
    Định phân cấp bậc uy nghi
    Đạo, Quân, Lữ, Tốt, Ngũ ghi rõ ràng

    Đinh Tiên Hoàng lập năm hoàng hậu
    Quá yêu con thơ ấu Hạng Lang
    Phong làm Thái Tử thay vương
    Buộc con Đinh Liễn phải nhường cho em

    Năm Bính Tý thương thuyền các nước (976)
    Lần đầu tiên dừng bước đất ta
    Đem dâng phẩm vật lụa, ngà
    Cống triều cốt để làm quà giao thương

    Cuộc ngoại thương đầu tiên từ đấy
    Của nước ngoài muốn cậy nhờ ta
    Bán buôn trao đổi lại qua
    Giữa dân các nước diễn ra trong vùng

    Liễn mất quyền, sinh lòng chiếm đoạt
    Giết Hạng Lang tội ác Việt Vương
    Vì ngôi làm việc bất lương
    Nhẫn tâm đến nỗi coi thường tình thâm (797)

    Việc như thế nẩy mầm bạo loạn
    Tên Đỗ Thích thí mạng nhà vua
    Khi ngài an uống say sưa
    Trong sân cung cấm bấy giờ nữa đêm

    Hắn giết thêm Việt Vương Đinh Liễn
    Rồi trèo tường lén ẩn trong cung
    Bị quan Nguyễn Bặc truy lùng
    Tìm ra hung thủ bên trong lổ vò

    Tên Đỗ Thích bấy giờ bị bắt
    Thân thể y băm nát thịt xương
    Đáng đời răn kẻ làm gương
    Âm mưu thoán đoạt ngôi vương của
    người

    Việc hại người chung quy là thế
    Chuyện quốc gia phải để vô tư
    Bỏ trưởng mà lấy con thơ
    Lập năm hoàng hậu cơ đồ e hư

    Rước linh cửu vua rồi đem táng
    Mã Yên Sơn thuộc huyện Trường Yên
    Quần thần đưa trẻ cầm quyền
    Vừa tròn sáu tuổi đã lên ngai vàng


    ĐINH PHẾ ĐẾ (979 - 980)

    Quan đại thần Lê Hoàn nhiếp chánh (980)
    Mưu thông gian với cánh họ Dương
    Vân Nga thái hậu tôn vương
    Cùng quan Cự Lạng dọn đường đoạt ngôi

    Vở hài kịch đến hồi ngoạn mục
    Trong triều đình gặp lúc lao đao
    Ngang nhiên nội phủ đi vào
    Quan quân áo trận ào ào nói năng


    ĐẠI HÀNH HOÀNG ĐẾ (980 - 1005)

    Tôn Thập Đạo nối chân Thiên Tử
    Năm Canh Thìn khai thái tân quân (980)
    Tung hô vạn tuế mấy lần
    Vân Nga thái hậu cúi dâng áo bào

    Lẽ đương nhiên nhân nào quả ấy
    Bôĩnh xưa từng lấy vợ người
    Trớ trêu cho cái sự đời
    Vợ mình kẻ khác cướp rồi biết chăng ?

    Quê Ái Châu Lê Hoàn xưng đế
    Lấy vợ vua : Dương thị phu nhân
    Lên ngôi Hoàng hậu để gần
    Mười hai trai lớn lần lần phong vương

    Năm Canh Thìn Tống vương hạ chiếu (980)
    Sai Đa Tốn mang biểu thư sang
    Vừa đe, vừa dọa, vừa nương
    Tung đòn tâm lý dọn đường xuất quân

    Tống chia quân ra làm bốn mũi
    Hướng Bạch Đằng đường thủy tiến qua
    Hội quân ở đất Đại La
    Lạng Sơn binh bộ chia ba kéo vào

    Hầu Nhân Bảo làm Giao Châu sứ (980)
    Tôn Hoàng Hưng, Khâm Tộ theo chân
    Lưu Trừng đốc thúc thủy quân
    Hơn ba vạn đứa lên đường vượt sang

    Hầu Nhân Bảo dương dương tự đắc
    Kéo quân vào đi tắt lối sông
    Vừa qua gần tới Chi Lăng
    Bị ta phục kích giết phăng ngay liền

    Giặc khiếp đảm thất điên, bát đảo (981)
    Lê Đại Hành vũ bão tiến công
    Giặc phơi thây chết đầy đồng
    Đánh tan ba vạn quét xong giặc thù

    Bắt Phụng Huân, trói gô Quân Biện
    Giải giặc Tàu về đến Hoa Lư
    Bộ binh Khâm Tộ thua to
    Tống Vương xuống chiếu truyền thu quân về

    Vua nước Tống suy đi tính lại
    Dùng chiến tranh không khỏi thương vong
    Chi bằng đưa chế sách phong
    Giử cho thông hiếu được lòng hai bên

    Lê Đại Hành nắm quyền quân lữ
    Sai Tử An mở lộ Bắc Nam (992)
    Thân hành đánh chiếm Nam Man
    Chém Bê Mi Thuế kinh hoàng dân Chiêm

    Vì trước đó người Chiêm bắt giữ
    Quan Từ Mục , Ngô Tử Canh sang
    Đưa thư hỏi tội Hoàn Vương
    Lâu nay không thấy đưa sang cống triều

    Trăm cung nữ bắt theo về nước (982)
    Lẫn bạc vàng lấy được trong cung
    Nhà sư Thiên Trúc bị cùm
    Theo quân chiến thắng đi cùng di quan

    Vua ra lệnh phá tan tông miếu
    Hủy thành trì quốc bửu thu gom
    Đánh Chiêm một trận thất hồn
    Rửa xong cái nhục dám giam sứ thần

    Đối với Tống dần dần thông hiếu
    Sai sứ thần dâng biểu Ung Hy
    Xin làm tiết trấn biên thùy (985)
    Đến năm Thuần Hóa phong vì Quận Vương (995)

    Khéo ngoại giao khi cường, khi nhược
    Lúc sứ thần Lý Giác sang thăm (987)
    Vua sai Sư Thuận giả làm
    Chèo đò đưa sứ , đối ngâm thơ rằng :

    "Bạch mao phô lục thủy
    Hồng trạo bãi thanh ba"
    Hai người ứng đối ngâm nga
    Giác càng kính phục về nhà tấu lên

    Vua cho trả bọn Quách Quân biện
    Là tù binh trong trận Chi Lăng
    Nhân khi Sứ Tống sang thăm
    Tỏ tình hòa hiếu nhún nhường của ta

    Vua cầm quyền, trông xa thấy rộng
    Là một người lương đống tài cao
    Giỏi tài nội trị ngoại giao
    Giỏi tài khai khẩn vét đào kênh mương

    Năm Quý Mão ( 1003) trên đường thị sát
    Kênh Đa Cái hết nước cạn khô
    Vua liền ra lệnh truyền cho
    Quân dân nạo vét để đưa nước vào

    Giặc Cử Long lâu lâu quấy rối
    Vua đích thân di tới Cùng Giang
    Điều quân , bày trận dọn đường
    Kêu trời ba tiếng đánh tràn , giặc tan

    Nam Bình Vương tước phong của Tống
    Vì bãi binh ở Trấn Như Hồng
    Vua Tàu cũng muốn đẹp lòng
    Nên sai sứ đến tâng công cho ngài

    Việc Ất Mùi (995) quan quân Giao Chỉ
    Trăm chiến thuyền trực chỉ Trung Hoa
    Hành quân tốc chiến từ xa
    Như Hồng thị trấn vòng qua đánh vào

    Châu Tô Mậu , Ung Châu nước Tống
    Cũng bị ta chiếm đóng mấy ngày
    Chiếm rồi cho rút ra ngay
    Để mà nhắc nhỡ cho người biết ta

    Sai quan nha đúc tiền Thiên Phúc (984)
    Xây thêm lầu Long Lộc, Trường Xuân
    Dựng nhà trên núi Đại Vân
    Điện vàng, Điện bạc sức dân đổ vào

    Đối với nước tài cao trông thấy
    Nhưng việc nhà chẳng mấy kỷ cương
    Anh em không biết nhún nhường
    Mưu giành ngôi báu tranh vương đoạt quyền


    TRUNG TÔNG HOÀNG ĐẾ (1005)

    Điện Trường Xuân vào năm Ất Tỵ
    Vua băng hà chiếu chỉ truyền ngôi
    Anh em giành giật ghế ngồi
    Cuối cùng Long Việt là người được may

    NGỌA TRIỀU HOÀNG ĐẾ (1005 -1009)

    Lê Long Đỉnh sai người hạ sát
    Giết anh mình để đoạt ngôi vua
    Sửa quan chế đổi triều vua
    Rập khuôn theo đúng kiểu như bên Tàu (1006)

    Mẹ Long Đỉnh tên Hầu Di Nữ ?
    Là một người gốc ở Champa
    Hai vua bà đã sinh ra
    Nữa mang máu Việt , nữa là Champa

    Long Đỉnh có : bốn bà hoàng hậu
    Xin Tàu cho mũ áo dát vàng (1009)
    Tống triều chấp thuận gởi sang
    Vua mang ngưu trắng đem dâng Bắc Triều (1007)

    Theo Sử ký lắm điều quái đản
    Được gán cho Long Đĩnh - Minh vương
    Một là dâm đãng bạo tàn
    Hai là ác đức coi thường mạng dân ?

    Như chuyện lấy : thằng lằn làm gỏi
    Bắt trẻ thơ ra gọi cho ăn
    Bắt người trấn nước sủi tâm
    Bắt người xẻo thịt, bắt nằm chuồng heo

    Bắt trèo cây cheo leo cao vút
    Đốn gốc để cho rớt xuống chơi
    Lấy cỏ tranh quấn vào người
    Rồi đem đốt lửa vua tôi giải sầu

    Lại róc mía trên đầu sư trọc
    Rồi giả vờ như sóc nhằm gai
    Thả tay vua để dao rơi
    Đầu sư gội máu, vua cười vỗ tay

    Vua lại sai cho người bắt rắn
    Bỏ vào quần để đặng dọa chơi
    Lão bà hoảng vía la trời
    Vỗ tay thích chí vua cười bò lăn

    Lúc thiết triều vua nằm nghiêng ngả
    Bởi vì người đã quá ham mê
    Tửu sắc, dâm dật ê chề
    Mắc thêm bệnh trĩ khó bề ngồi lâu

    Tên "Ngọa triều" bắt đầu từ đó
    Tẩm điện lâu là chỗ vua băng
    Đồng dao lên tiếng hát rằng :
    "Ngọa triều hoàng đế" là thằng quái thai

    Có một điều mà đời chẳng hiểu
    Tại sao vua dâng biểu xin kinh ? (1007)
    Đắp đường, dựng cột, đào kênh ?
    Đóng thuyền để chở bộ hành sang sông ? (1009)

    Trong bốn năm coi trông việc nước
    Đã năm lần chinh phạt phiến quân
    Nếu vua là kẽ hôn quân
    E rằng phải xét cân phân mọi bề

    Nhà Tiền Lê tuyệt dòng từ đấy
    Kỷ Dậu niên triều ấy mất ngôi (1009)
    Cầm quyền hăm chín năm trời
    Thay vua họ khác hai ngày lạ chưa ? !

    Đã mấy lần cơ đồ nguy biến
    Cảnh sơn hà lâm nạn chiến tranh
    Quốc gia chìm nỗi gập ghềnh
    Cuối cùng vẫn thắng xích xiềng ngoại bang

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quyễn IV

    LÝ THÁI TỔ (1010 - 1028)

    Lý Công Uẩn vốn dân Cổ Pháp
    Sinh ra đời đúng bậc minh vương
    Lên ngôi hoàng đế Việt Thường
    Là n gười khoan thứ tinh tường việc dân

    Cha không có, mẹ người họ Phạm
    Chùa Tiêu Sơn giao hợp thần nhân
    Sinh vua tuấn tú bội phần (974)
    Năm lên ba tuổi cho làm con nuôi

    Lý Khánh Văn nhận nuôi đứa bé
    Trẻ thông minh đủ vẻ lương tường
    Sư chùa Lục Tố rất thương
    Nói rằng : Không phải người thường thế đâu

    Mãi về sau lời sư Vạn Hạnh
    Đã trở thành định mệnh quốc gia
    Nhiều năm ròng rã trôi qua
    Tiên tri lúc trước quả là đúng ngay

    Sau hai ngày vua Lê Long Đĩnh
    Chết chưa chôn thì chuyện xãy ra
    Trong triều nỗi cuộc phong ba
    Nguyễn Đê , Cam Mộc đứng ra nói rằng :

    "… Bọn ta không nhân lúc này cùng nhau
    sách lập Thân vệ ( Lý Công Uẩn ) làm thiên tử ,
    lở bối rối có xãy ra tai biến gì ,
    liệu chúng ta có còn giữ đựơc cái đầu hay không ? "

    Cuộc chính biến tôn vương chớp nhoáng
    Kế hoặch xong chỉ đúng hai ngày
    Cho dù ai muốn trở tay
    Cũng không xoay được đổi thay cuộc cờ

    Lý Công Uẩn , cơ đồ có sẳn
    Kẻ khôn ngoan dưới trướng khá nhiều
    Thiền sư Vạn Hạnh phò theo
    Thái sư Khuôn Việt đem điều nghĩa nhân

    Gốc là dân mối giềng trị nước
    Việc khởi đầu làm trước lên ngôi
    Bỏ giềng lưới, bỏ giam người
    Đại xá thiên hạ đổi đời từ đây

    Vua xuống chiếu từ rày có việc
    Không thuận lòng giải quyết với nhau
    Được quyền diện kiến trình tâu
    Vua thân phán quyết ngỏ hầu minh oan

    Lại hạ lệnh : người đang trốn tránh
    Cho phép về lại cảnh quê hương
    Áo cơm giúp kẻ cùng đường
    Tha người Nam Chiếu cấp lương đưa về

    Vua lại phê, ba năm tha thuế
    Sửa đình chùa đổ nát hư hao
    Công, hầu, khanh tướng ban trao
    Chọn người xứng đáng để giao trọng quyền

    Viết chiếu truyền, dời đô đến chỗ (1010)
    Thành Đại La đất cổ Cao Vương
    Vùng này đất phẳng mười phương
    Long chầu, hổ phục dị thường địa linh

    Nhìn địa hình, đông, tây, nam, bắc
    Thế đất này nét sắc mà oai
    Vì dân lập kế lâu dài
    Tính theo vận nước nhân tài hội đây

    Lạ lùng thay, thuyền vua vừa đến
    Có rồng vàng xuất hiện trên sông
    Đổi tên thành gọi Thăng Long
    Mùa thu tháng bảy khởi công dựng nền (1010)

    Điện Càn Nguyên nơi coi triều chính
    Điện Tập Hiền hướng định chánh Nam
    Nằm sau là Điện Long An
    Phía đông Giảng Võ Thư Tàng kế bên

    Bốn cửa thành : Tương Phù, Quản Phúc
    Cửa phía Bắc Diệu Đức mở ra
    Đại Hùng theo hướng Tây qua
    Tường cao hào chắn phía xa ngoại thành

    Cửa Đan Phượng thông liền Uy Viễn
    Bậc thềm rồng trước Điện Cao Minh
    Thăng Long quang cảnh hữu tình
    Nghênh Xuân cung cấm, ngoại thành chùa Nghiêm

    Đổi niên hiệu Thuận thiên để tính (1010)
    Chức đặt ra phân định rõ ràng
    Sắc phong cho sáu bà hoàng
    Các con đều được tước vương , tước hầu

    Lấy kinh tế làm đầu trị quốc (1013)
    Định lệ ra luật nước rõ ràng
    Sáu tên sưu thuế đàng hoàng
    Năm lần giảm thuế nước càng phồn vinh (1017)

    Nơi Phiên trấn (1020), tình hình không ổn
    Giặc xâm lăng khốn đốn dân binh
    Cất quân chinh phạt tự mình
    Đánh cho mấy trận tan tành Cử Long

    Vua một lòng tôn sùng đạo Phật
    Xuống chiếu truyền khuyên tập chép kinh
    Để lầu bát giác tôn vinh (1021)
    Đúc chuông, xây tháp, linh đình làm chay

    Với Bắc triều vua sai thông hiếu
    Nhà Tống phong Giao Chỉ quận vương
    Năm lăm tuổi thọ hưởng dương (1028)
    Hiệu là Thái Tổ, Thọ Lăng táng ngài

    Lý Công Uẩn , nhân thời mỡ vận
    Vốn là người khí tượng đế vương
    Song ưa nghe việc dị thường
    Nên chi bị lụy đoạn trường mà thôi

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • LÝ THÁI TÔNG (1028 -1054)

    Lý Phật Mã vâng lời di chiếu
    Đến cấm thành mới hiểu ra rằng
    Ba em mai phục thân quân
    Giết mình để đoạt ngai vàng về tay

    Xác vua cha còn đây chưa liệm
    Sao ba em toan chiếm ngai vàng
    Đông Chinh, Thánh Dực, Võ Vương
    Rõ là cốt nhục tương tàn buồn thay

    Cuộc chính biến, ba tay vương tử
    Khiến triều đình phải xử cho nghiêm
    Có quan Phụng Hiểu điện tiền
    Rút gươm thẳng đến chém liền Võ Vương

    Lý Phật Mã trong cơn bối rối
    Lên ngôi vua hiệu đổi Thiên Thành
    Tôn cha, Thái Tổ thần danh
    Quốc tang bố cáo trong thành, ngoài biên

    Vua tha cho bọn em dấy loạn
    Lấy tình người đổi oán bằng ân
    Đem tiền, gạo phát cho dân
    Gọi là bố thí ngay lần lên ngôi

    Vua lại sai đặt ra thứ bậc
    Để trao quyền cho thật phân minh
    Lựa người tài giỏi nghề binh
    Phong làm Thượng Tướng giữ gìn quốc gia

    Vua lập ra bảy bà hoàng hậu
    Là một điều nhiên hậu không ai
    Sách phong thái tử truyền ngai
    Nhật Tôn hoàng tử được ngài ban cho

    Là một người nhân từ sáng suốt
    Lại hiểu thông thao lược kinh luân
    Sáu nghề lễ nhạc luật âm
    Ngự văn, thư số cũng trang anh tài

    Suốt một đời trên ngai hoàng đế
    Bước trường chinh tế thế đông, tây
    Ở ngôi hăm bảy năm đầy
    Tám lần chinh phạt dạn dày phong sương

    Đánh Trệ Nguyên chặn đường Tồn Phúc (1033)
    Phạt Chiêm Thành qui phục nhân tâm (1039)
    Dải dầu chín tháng hành quân
    Chém đầu Sạ Đẩu, giết gần vạn binh (1044)

    Vua xuống chiếu soạn thành bộ Luật
    Ghi rõ ràng cho thật phân minh
    Chia ra môn loại rành rành
    Đâu là dân luật, luật hình, luật quân

    Bộ Hình Thư được dân mong muốn (1042)
    Bởi vì là thích ứng mọi nơi
    Luật nghiêm lại hợp tình người
    Công bằng đúng lẽ thuận trời, an dân

    Tội gian dâm, tội đồ, hối lộ
    Soạn thành văn lý số rõ ràng
    Những ai làm việc lâu năm
    Mà không có lỗi được thăng chức liền

    Vua lại sai đóng thuyền cỡ lớn
    Hạ thủy đầu chiến hạm Vạn An (1034)
    Vinh Xuân, rồi chiếc Nhật Quang (1037)
    Thủy quân cũng đóng vài trăm tiểu thuyền (1043)

    Vua hạ lệnh đào kênh Đãn Nãi (1029)
    Rồi lại sai vét đãi Lẫm Kênh (1050)
    Đặt mốc, cắm biển đề tên
    Chỉ đường, hướng lối kế bên vệ đường

    Trạm Hoài Viễn để giường khách nghỉ
    Xây trên bờ bên mé Gia Lâm (1035)
    Tây Nhai mở chợ cho dân
    Trên sông Tộ Lịch bắt ngang chiếc cầu

    Lệ từ lâu, năm nào cũng thế
    Vua thân hành tế lễ Thần Nông
    Tịch điền ruộng đã cày xong
    Nêu gương thiên hạ dốc lòng làm ăn

    Vua lại dạy cung nhân dệt gấm (1040)
    Phát trống kho gấm Tống làm quà
    Từ đây sử dụng lụa nhà
    Trong dân sản xuất ; của ta, ta dùng

    Dạy Hoàn Vương chấp cung xét hỏi
    Việc kiện thưa xử tội rồi tâu
    Lại cho Thái tử coi chầu
    Để nghe chính sự ngõ hầu ngày sau (1054)

    Thuật dạy con bắt đầu như thế
    Cho muôn đời lấy để làm gương
    Tính vua đôi lúc bất thường
    Thích nghe sấm ký khoa trương việc mình

    Trong Cấm Thành buồn tình giải trí
    Lập đoàn ca nhạc kỷ trăm người
    Vào rừng Kha Lãm tìm voi
    Dựng chùa Diên Hựu, xây đài chứa Kinh (1049)

    Khắp đất nước thanh bình an lạc
    Vua là người trầm mặc tinh thông
    Tháng mười Giáp Ngọ, tiết đông (1054)
    Trường Xuân vua mất đau lòng con dân

    Là một người bội phần cơ trí
    Việc quốc gia chăm chỉ sớm hôm
    Tiếc rằng hay nói khoe khoang
    Là người khai sáng mối nguồn về sau


    LÝ THÁNH TÔNG (1054 - 1072) - ĐẠI VIỆT

    Được ngôi cao : Thái Tông Hoàng Đế
    Là Đông Cung thừa kế Nhật Tôn
    Một người tâm tính ôn tồn
    Thương dân, trọng việc lại còn lo xa

    Đổi quốc hiệu thành ra Đại Việt (1054)
    Lập lịch triều, kỷ yếu định danh
    Gọi tên : Long Thụy Thái Bình
    Sửa sang chính sự, dân tình an sinh

    Lập Văn Miếu , nặn hình Tứ Phối
    Những người hiền : Khổng Tử, Chu Công
    Bẩy hai trò giỏi thờ chung
    Là đất văn vật, tấn phong nhân tài

    Ngoài cấm thành xây đài cao nhất
    Đặt tên là Bảo tháp Báo Thiên (1054)
    Mươi hai tầng đứng dính liền
    Vươn cao chục trượng oai nghiêm vô cùng

    Gặp tiết đông lúc trời lạnh giá
    Thương người tù thiếu cả chiếu chăn
    Gian, ngay chưa biết tỏ tường
    Truyền cho ngục lại phát chăn để nằm (1055)

    Xót dân tình phải chăng không biết (1064)
    Nên nhiều khi làm việc lỡ lầm
    Xử người như với người thân
    Lấy điều khoan giảm gia ân cho người

    Dân thiếu ăn, đức trời thừa thiếu (1075)
    Tha thuế tô, một kiểu khuyến nông
    Vua, Quan, Dân, lính một lòng
    Giữ yên bờ cõi chẳng mòng riêng tây

    Năm Kỷ Hợi lựa ngày Bắc phạt (1059)
    Đánh Khâm Châu cả nước kinh hoàng
    Biểu dương lực lượng vài hôm
    Rồi cho triệt thoái truyền gom quân về

    Đánh nước Tàu thị uy cho biết
    Cũng bởi vì vua ghét Tống vương
    Phản phúc dối trá dị thường
    Nuốt lời binh viện đánh Nùng Trí Cao

    Đánh Chiêm Thành răn vua Phiên trấn
    Chúa Chămpa thất trận đầu hàng
    Thế cùng Chế Củ xin dâng
    Ba châu cắt đất xin nhường Thánh Tông

    Vua bằng lòng tha cho Chế Củ
    Cõi biên thùy uy vũ vang danh
    Thu về Địa Lý, Ma Linh (1069)
    Cùng châu Bố Chính trở thành đất ta

    Tuổi bốn mươi, sinh ra con nhỏ (1066)
    Vua rất mừng, trăm họ hân hoan
    Có người nối dõi ngai vàng
    Phong ngay thái tử , đăng quang sau này

    Lý Thánh Tông có tài văn học (1056)
    Làm minh văn cho đục trên bia
    Cung thương sáng tác nghề kia
    Phỏng theo nhạc khúc chẳng lìa âm Chiêm

    Tiếng trống Chiêm vô cùng hấp dẫn
    Điệu Pì dền khi bổng, lúc khoan
    Tám mươi điệu trống Kỳ Nằng
    Ri Nai khúc hát nhẹ nhàng vui thay

    Nhân một hôm gặp ngày xuân nhựt (1063)
    Dân hiếu kỳ nô nức tranh đua
    Nhân ngài đi vãn cảnh chùa
    Cố nhìn được mặt đức vua một lần

    Chỉ riêng một, giai nhân tuyệt sắc
    Không nhìn vua, nép mặt bên lan
    Khiến vua làm lạ vô vàn
    Vua cho võng kiệu để mang nàng về

    Tên Ỷ Lan cũng vì tích đó
    Là một người sắc sảo thông minh
    Thay vua việc nước điều hành
    Khi chồng sang đánh Chiêm Thành năm sau

    Lý Thánh Tông tài cao nhân hậu
    Coi việc dân , đạt thấu lẽ trời
    Cơ đồ gánh vác trên vai
    Bình Chiêm, phạt Tống trong ngoài vỗ yên

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quyễn V


    Đại Việt Sử Thi - Quyển 05




    LÝ NHÂN TÔNG HOÀNG ĐẾ (1072 - 1127)

    LÝ THẦN TÔNG (1128 - 1138)

    LÝ ANH TÔNG HOÀNG ĐẾ (1138 - 1175)

    LÝ CAO TÔNG HOÀNG ĐẾ (1176 - 1210)

    LÝ HUỆ TÔNG HOÀNG ĐẾ (1211 - 1224)

    LÝ CHIÊU HOÀNG (1224 - 1225)


    LÝ NHÂN TÔNG HOÀNG ĐẾ (1072 - 1127)

    Vua băng hà, con lên bẩy tuổi (1072)
    Húy Càn Đức, miếu hiệu Nhân Tông

    Lý Đạo Thành được sắc phong
    Thái sự phụ chính để trông triều đình
    Đổi niên hiệu Thái Ninh năm Tý (1072)
    Bà buông rèm chính sự cùng nghe

    Tranh quyền bức tử Hoàng Phi
    Là Hoàng thái hậu đương thì họ Dương
    Lý Đạo Thành lên đường biên trấn (1073)
    Cũng chỉ vì can gián Linh Nhân

    Giết người nào có ăn năn
    Một rừng, hai hổ thiệt rằng khó thay
    Việc triều chính trong tay Thái hậu (1072)
    Nhân tiết xuân xuống chiếu tuyển sinh (1075)

    Lựa người bác học minh kinh
    Tam trường lều chỏng cho lưu danh với đời
    Lê Văn Thịnh tên ngời bảng hổ
    Được vời vào dạy dỗ cho vua

    Thăng dần lên chức thái sư (1085)
    Về sau tạo phản mưu đồ thí quân (1096)
    Gia nô Thịnh là dân Đại Lý
    Có thuật riêng kỳ bí quái chiêu

    Tưởng rằng áp đảo làm liều
    Nên chi suýt chết vì theo lũ này
    Lý Nhân Tông một tay thư pháp (1118)
    Nét rồng bay chữ khắc trên bia

    Minh Văn mấy vận Đường thi
    "Lãm sơn dạ yến" vườn khuya gảy đàn (1120)
    Nước thanh bình thắt bông kết tụi
    Khắp kinh thành mở hội hoa đăng

    Đàm thi, giữa buổi xuân quang
    Trong trời trắng xóa một màn tuyết rơi (1102)
    Để có người xiển dương văn hiến
    Lựa nhân tài hội tuyển chiêu sinh (1086)

    Học theo Khổng Mạnh thánh hiền
    Chuyên văn, luyện võ rạng danh nước nhà
    Quốc tử giám mở ra luật mới
    Cho những người biết chữ vào thêm

    So tài giỏi, kém phân minh
    Môn thi : Tính toán, luật hình học riêng (1086)
    Mạc Hiễn Tích đề tên bảng yết
    Bổ làm quan học sĩ hàn lâm (1086)

    Về sau đi sứ mấy lần (1094)
    Thay vua yên vổ quan quân Chiêm Thành
    Cho lão thần được quyền ngồi tấu
    Trời vào thu, ban áo các quan

    Mùa xuân lập yến đãi đằng (1123)
    Vua quan cùng sống thân bằng với nhau
    Vua ra lệnh : giết trâu phạt trượng
    Đến mùa xuân không đốn chặt cây (1126)

    Cấm dùng gậy nhọn cầm tay
    Cùng đồ sắt thép kết bầy đánh nhau
    Để giao thông xây cầu, đắp lộ
    Sửa kinh thành những chỗ hư hao (1078)

    Đắp đê Cơ Xá thêm cao
    Để ngăn nước lụt tràn vào kinh đô
    Trong xây cất truyền cho nung ngói
    Để lợp nhà tránh khỏi thiên tai

    Hội đàm với sứ nước ngoài
    Định xong cương giới đất đai rõ ràng (1084)
    Vương An Thạch nghĩ rằng Đại Việt (1075)
    Bị Chiêm Thành đánh giết hết quân

    Bây giờ công phá một lần
    Chắc rằng chiến thắng sẽ nằm trong tay
    Vua Tống sai Lưu Di - Thẫm Khởi
    Ngầm dấy binh yễm tại Quế Châu

    Thuyền bè , quân dụng đưa vào
    Cấm dân buôn bán ra vào nước ta
    Biết ý đồ của nhà Bắc Tống
    Thường Kiệt cho làm tướng điều quân (1075)

    Tiến sang đánh trước Châu Khâm
    Châu Liêm cô thế đầu hàng quân ta
    Tướng Ung Châu tên là Tô Giám
    Cố thủ thành, không dám động quân

    Bốn mươi ngày cố cầm chân
    Cuối cùng lương cạn phải dâng nộp thành
    Ta bắt sống dân binh mười vạn
    Phá chiến hào san phẳng môn quan

    Làm cho dân Tống bàng hoàng
    Trước sức công phá dễ dàng của ta
    Vào tháng ba (1076), Tống cho Phủ Sứ
    Đến Chiêm Thành phủ dụ Nam Man

    Tống quân , Chân Lạp họp bàn
    Bao vây Đại Việt dọn đường tiến quân
    Chúng liên minh tạo xong thế trận (1076)
    Hai gọng kìm , dưới tấn đánh ngang

    Quách Quỳ Chiêu Thảo sứ quân
    Đem theo chín tướng , vài trăm chiến thuyền
    Lại cho thêm viên quan Triệu Tiết
    Làm Phó Tướng dồn hết quân sang

    Khí tài, lương thực sẵn sàng
    Lựa ngày xuất phát lên đường tấn công
    Lý Thường Kiệt chận sông Như Nguyệt (1076)
    Rải phục binh thề quyết tới cùng

    Đánh tan lũ giặc tàn hung
    Tả tơi vó ngựa, cong lưng chạy dài
    Tương truyền rằng lúc xây rào chắn
    Dọc theo sông để chống đại binh

    Thì nghe có tiếng trong đền
    Thần nhân Khiếu - Hát lời truyền như sau :
    "Nam quốc sơn hà Nam đế cư
    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"
    Quả nhiên ứng nhiệm thiên cơ
    Dân ta đã đuổi kẻ thù bắc phương

    Lý Thường Kiệt giám quan trong Nội
    Lại là người danh nổi ngoài biên (1076)
    Nức tài người phá Tống bình Chiêm
    Chính người viết bản văn tuyên để đời

    Năm Giáp Thân ở nơi biên trấn (1104)
    Quân Chiêm Thành xâm lấn nước ta
    Vua Chiêm là Chế Ma Na
    Đem quân đòi lại đất nhà trước đây

    Vua vội sai tướng quân Thường Kiệt
    Trổ oai thần đuổi hết giặc Man
    Thu hồi toàn vẹn giang sơn
    Bắt Chiêm phải cống mấy năm một lần

    Lý Nhân Tông không con nối nghiệp
    Nuôi Dương Hoán để thế ngôi mình (1117)
    Hoán người đĩnh ngộ thông minh
    Phong làm thái tử thay mình mai sau

    Trong tiết thu vào năm Đinh Dậu (1117)
    Ngày qua đời Thái hậu Ỷ Lan
    Tổ chức hỏa táng quốc tang
    Chôn theo hầu gái, hỏa đàn thiêu thân

    Nghe biên giới phỉ quân quấy nhiễu
    Vua vội vàng xuống chiếu viễn chinh
    Rợp trời cờ xí tinh binh
    Thảo ra kế hoạch tự mình điều quân

    Bến Thiên Thu lừng vang tiếng trống
    Đoàn chiến thuyền rẽ sóng vạch sương
    Đánh tan, bắt sống Ngụy Bàng
    Dẹp yên các động dọc đường quan sơn

    Cho tịch thu bạc vàng, tơ lụa
    Cùng trâu dê, thóc lúa, bò heo
    Tù binh bắt được đem theo
    Vua tha không giết làm điều hiếu sinh

    Ngày cuối cùng biết mình sắp chết (1127)
    Vua nói rằng : "Bỏ việc xây lăng
    Lễ tang giản dị khiêm cần
    Giảm phần nghi lễ cho dân khỏi phiền

    Ta : nhiều năm đã lên nối nghiệp
    Nhiệm vụ thì chưa kịp làm xong
    Nay thời đến phút lâm chung
    Ta lo Thái Tử chưa thông việc triều

    Nhờ Thái úy phải theo phò tá
    Coi Ấu Vương , Trẫm đã giao cho
    Vì dân giữ vững cơ đồ
    Còn ta, lăng mộ đơn sơ nhẹ nhàn"

    Ngày vua băng sao sa sấm hiện
    Năm Đinh Mùi ở điện Vĩnh Quang (1127)
    Thái tử thọ lễ đăng quang
    Quỳ bên linh cữu đang quàng nơi đây

    Bỏ cõi đời nghìn thu vĩnh việt
    Gió lạnh lùng khi tiết đông sang
    Ngậm ngùi đi, ở lẽ thường
    Sáu ba năm ấy đoạn trường một phen (thọ 63 tuổi)


    LÝ THẦN TÔNG (1128 - 1138)

    Lý Thần Tông nguyên niên Thiên Thuận (1128)
    Thái úy Lê giúp rập lên ngôi
    Làm vua vào tuổi mười hai
    Hưởng dương quá mỏng, đức tài cũng không

    Việc triều chính do công Thái Úy
    Đám bề tôi thì chỉ nịnh vua
    Đem vàng bạch với hưu, rùa (1129)
    Dâng lên Hoàng Thượng để mua vui lòng (1137)

    Từ hoạn quan, Vương Công, Tể Tướng
    Toàn một bầy nghễn ngãn tham lam
    Vua thì mê tín dị đoan
    Vừa mới mười bảy tuổi có con để bồng

    Vua xuống chiếu : Lấy chồng phải đợi (1130)
    Đẹp xinh thì tuyển tới cung đình
    Những cô xấu xí ngoại hình
    Thì vua không tuyển mặc tình tự do

    Lý Thần Tông vô lọ kém cỏi (1134)
    Lại dâm bôn để dưới lộng quyền
    Lân bang Chân Lạp vạ Chiêm (1137)
    Thường hay quấy nhiễu ven biên nước mình

    Trong kinh thành vua ra chiếu chỉ
    Mỗi ba nhà quản lý lấy nhau
    Nếu không kiễm soát trước sau
    Thì cùng liên đới cũng như tội hình

    Lịnh ban ra rùng mình sởn óc (1137)
    Tạo nghi ngờ tang tóc trong dân
    Suy đồi hỗn loạn nhân tâm
    Gây thêm chia rẽ quân dân bấy giờ

    Biết thời cơ nước đang hỗn loạn
    Quân Chiêm Thành tiến đánh nước ta
    Chúng vào đánh cướp Đổ Gia (1128)
    Bảy trăm thuyền chiến tiến qua vùng này

    Lý Công Bình có tài trấn áp (1137)
    Chận Chiêm Thành, Chân Lạp mấy phen
    Dụng binh quân pháp rất nghiêm
    Nhờ ông đất nước giữ nguyên cõi bờ

    Ở kinh thành cũng như biên trấn
    Nhiều năm liền hạn hán triền miên (1138)
    Vua thì đau ốm liên miên
    Bao nhiêu quyết định dưới quyền thái sư

    Thuở bấy giờ Thần Tông tại thế
    Vua ra nhiều chiếu chỉ oái ăm (1128)
    Dựa vào tiền của đem dâng
    Mà ban chức tước quan hàm đất đai

    Năm Bính Thìn (1136) khi khai đất ở
    Hương Lãnh kinh tìm thấy chuông xưa
    Đó là di chỉ đồng sơ
    Của nền văn hóa có từ ngàn năm

    Phá Tô Lăng , tướng người Chân Lạp
    Đem quân vào trấn áp Nghệ An (1137)
    Làm dân khiếp đảm kinh hoàng
    May mà cứu viện dẹp tan tức thì

    Lý Thần Tông ham mê tiền bạc
    Việc triều đình để mặc các quan
    Biên thùy giăc cướp dọc ngang
    Quốc gia bất ổn lại càng khổ thêm

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • LÝ ANH TÔNG HOÀNG ĐẾ (1138 - 1175)

    Tân Hoàng đế húy tên Thiên Tộ
    Lên làm vua tuổi độ lên ba (1138)
    Mẫu thân : Cảm Thánh lệnh bà
    Được phong thái hậu cũng là người gian

    Mấy năm sau bốn phương loạn lạc
    Triệu Trí Chi khoát lác xưng vương (1140)
    Sau Đàm Hữu Lượng làm càn (1144)
    Sách dân, quấy nhiễu biên cương một thời

    Lý Anh Tông tuổi đời non nớt
    Bao nhiêu điều việc nước việc dân
    Đều do Thái Úy Đại Thần
    Một tay quyết định lấn dần quyền vua

    Đỗ Anh Vũ thế thừa làm ẩu (1150)
    Lại tư thông Thái Hậu họ Lê
    Gian dâm trong chốn phòng the
    Giữa triều khoác lác chẳng hề nể nang

    Sai quan thường hất hàm ra hiệu
    Vung tay lên như kiểu côn đồ
    Nội cung tự tiện ra vô
    Quần thần hãi sợ, giả đò làm ngơ

    Điện Tiên Đô chỉ huy : Vũ Đái
    Cùng đại thần khẳng khái bắt giam
    Lũ quan hối lộ, tham lam
    Thông dâm thái hậu lại làm ô danh

    Tội rành rành phải đem xử trảm
    Quan Nguyễn Dương tấu bẩm xử liền
    Nhưng vì Vũ Đái tham tiền
    Chỉ phạt Thái Úy làm điền nhi thôi

    Thái hậu đòi Phục quyền Anh Vũ
    Cho y làm chức cũ như xưa (1150)
    Y bèn núp bóng sau vua
    Bức người đến chết, trả thù tới nơi

    Y hạ lịnh cho người khủng bố
    Làm kinh thành ngạt thở khắp nơi
    Cấm không tụ họp ba người (1150)
    Cấm không đi lại chê bai triều đình

    Lịnh khủng bố kéo dài liên tục
    Cho đến khi Anh Vũ lìa đời (1164)
    Bàn dân thiên hạ khắp nơi
    Thở phào nhẹ nhõm khỏi loài sói lang

    Tô Hiến Thành được làm đại tướng (1161)
    Bên cạnh vua chỉnh đốn việc triều
    Được vua rất mực kính yêu
    Ngoại giao ( 1163) nội trị nhiều điều sửa sang

    Vua nước Tống vào năm Bảo Ứng (1164)
    Sai sứ sang đem tặng Anh Tông
    An Nam chiếu chỉ sắc phong
    Đổi tên Giao Chỉ để hòng dụ ta

    Nền ngoại giao giửa ta và Tống
    Suốt nhiều năm chẳn động can qua
    Giử tình lân quốc hiếu hòa
    Bán buôn hai nước vào ra dể dàng

    Với các quan : Đặt khoa khảo thí (1162)
    Cứ chín năm thanh lý một lần
    Thăng quan tiến chức lên dần
    Giúp người trung chính lập thân dễ dàng

    Vua đi tuần những nơi hiểm yếu
    Bởi vì người muốn hiểu ý dân (1171)
    Hình sông, thế núi xa gần
    Bảng đồ ghi chú, phiên thần lân bang (1172)

    Vua học bắn xạ trường dựng bảng (1170)
    Khuyên các quan võ tướng hằng ngày
    Chuyên lo huấn luyện cho hay
    Phép công phá trận lại bày ra ôn

    Nơi đảo xa Vân Đồn lập trại
    Cho thuyền buồm đi lại giao thương
    Xiêm La, Lộ Lạc cũng thường
    Trảo Oa cũng đến bán hàng cho ta (1149)

    Vua quyết định không tha Thái Tử (1174)
    Long Xưởng người cư xử vô luân
    Làm điều trái đạo bất nhân
    Thông dâm cùng với phi tần của cha

    Lệnh ban ra phong cho Long Trát
    Nối nghiệp nhà ký thác truyền ngôi
    Đông Cung Thái Tử lập rồi
    Quyền nhiếp chính sự , triệu vời Tô Quân

    Tô Hiến Thành được vua phó chúc (1175)
    Giao con mình cho bậc đại thần
    Dốc lòng phò tá Ấu Quân
    Một người trung nghĩa cầm cân giữa triều

    Vua băng hà, vâng theo di chiếu
    Tô Hiến Thành rước kiệu tân quân
    Lên ngôi hoàng đế chăn dân
    Chăm lo chính sự, sửa sang mọi đàng



    LÝ CAO TÔNG HOÀNG ĐẾ (1176 - 1210)

    Hiệu Trinh Phù vua ban cho nước
    Việc triều đình các cấp cân phân
    Tháng giêng năm đó Bính Thân (1176)
    Đại xá thiên hạ bàn dân làm đầu

    Nơi biên trấn diệt đồ giặc cướp
    Việc triều đình từng bước sửa sang
    Vua, quan nhiệm vụ rõ ràng
    Chia làm ba bậc quan trường biểu nghi

    Mời giáo thụ dạy vì Ấu Chúa
    Cáo trong dân để lựa nhân tài
    Sửa sang luật pháp cho ngay
    Lập trường dạy học giúp người mở mang

    Tô Hiến Thành bỗng mang bạo bệnh
    Thương cho ông mới đến giữa đường
    Bao nhiêu kế hoạch dở dang
    Không ai nối tiếp theo gương của người

    Khi lâm chung có người đến hỏi
    Ai là người thay chổ của ông ?
    Lựa người lương đống tôi trung
    Vì nước tiến cử không hàm ơn riêng

    Đỗ An Di nắm quyền Phụ Chính (1179)
    Cũng ra tay bình định biên cương
    Chọn người tài giỏi, hiền lương
    Giúp lo việc nước tìm đường cứu dân

    Giặc nhiễu nhương muôn phần khốn đốn
    Thêm thiên tai bất ổn triền miên (1181)
    Đói to, người chết liền liền
    Chết luôn một nửa, khi nguyên cả làng (1208)

    Thóc chẩn cấp vua ban cứu đói
    E sợ rằng cướp lại nổi ra
    Gieo xong vụ lúa tháng ba
    Dần dần ổn định vượt qua hiểm nghèo

    Năm Ất Tỵ vua treo yết bảng (1185)
    Chiêu hiền tài hương đảng thôn lân
    Nghe đồn, sĩ tử xa gần
    Mang lều, vác chỏng dự phần ghi danh

    Bùi Quốc Khái đã giành đầu bảng (1185)
    Đỗ khoa này vào khoảng ba mươi
    Văn hay, võ giỏi chọn người
    Vào hầu vua học ngay nơi điện rồng

    Đàm Sĩ Mông được phong thái phó (1190)
    Đất nước này từ đó điêu linh
    Trùng tu lại Điện Vĩnh Ninh
    Đào sông Tô Lịch ngoại thành Thăng Long(1192)

    Đàm Sĩ Mông vốn không kiến thức
    Lại là người nhu nhược trí ngu
    Để cho triều chính rối mù
    Quốc gia phân hóa cơ đồ tan hoang

    Vua càng lớn lại càng biếng nhác
    Mãi rong chơi , quên nước quên nhà
    Ham tiền , trở thói trăng hoa
    Lún sâu chìm đắm khó đà thoát ra

    Năm Mậu Thìn tháng ba đói lớn (1208)
    Xác của người từng đống gối nhau
    Trong triều yến tiệc ra vào
    Ngoài kia dân chết vua nào biết chi

    Lấy thú vui cầm kỳ, thi tửu
    Rủ trướng đào khúc múa Chiêm nương
    Tối ngày nhã蠮hạc xên xang
    Chế ra khúc nhạc muôn vàn thương tâm

    Điệu Chiêm thành tiếng ngâm ai oán
    Đàn Kha Nhi nghe thảm, nghe thương
    Mủi lòng sầu rúc giây buông
    Hồn đau tiếc nuối ngậm buồn nghìn năm

    Đàn như tiếng thì thầm vạn kiếp
    Khèn như lời nuối tiếc thương hờ
    Khúc Chiêm xé ruột thẫn thờ
    Cao Tông lại chế tiếng hồ, tiếng thanh

    Trong cấm thành tàn canh chưa đã
    Ở ngoài biên giặc giã nổi lên
    Vua quan một lũ tham tiền
    Lâu đài cung điện xây riêng cho mình (1203)

    Nước tan tành, dân tình ly tán
    Rất nhiều nơi ta thán vua quan
    Lại nghe sàm tấu bắt giam
    Giết người vô tội, dân càng oán thêm

    Bọn Quách Bốc giận đem quân đến (1209)
    Xông vào thành quyết chém hôn quân
    Cao Tông hoảng vía bạc hồn
    Cùng con tháo chạy tới Đông Bộ Đầu

    Bốc vào thành cùng nhau phế lập
    Đưa Hoàng tử tên Sám lên ngôi
    Sĩ Mông, Chính Lại được ngồi
    Vào cương vị cũ như thời Cao Tông

    Phế Vương chạy ra sông Quy Hóa
    Thái tử thì phải quá Lưu Gia (1209)
    Được nhà Trần Lý đón qua
    Giúp vua dựng lại sơn hà từ đây

    Nhưng vua vốn là tay kinh suất
    Việc triều đình phó mặc các quan
    Lại tham lắm của, nhiều vàng
    Gây thù kết oán với hàng vương thân

    Ngày vua băng vào năm Canh Ngọ (1210)
    Thái tử Sám nhân đó lên ngai
    Kiến Gia niên hiệu mới thay
    Sai thuyền đi đón vợ này ở xa

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • LÝ HUỆ TÔNG HOÀNG ĐẾ (1211 - 1224)

    Cho thuyền rồng đi nhanh để đón
    Trần Thị Dung về chốn kinh sư (1211)
    Cùng đi còn có Trung Từ
    Nguyên Phi ban chức chiếu thư sẵn sàng

    Cho anh vợ đảm đang việc nước
    Trần Tự Khánh phong tước Thành hầu
    Rồi phong Thái úy năm sau (1216)
    Sửa sang việc nước từ lâu rối mù

    Còn Trần Thừa phong làm Phán Thủ (1216)
    Ở trong cung phục vụ hoàng gia
    Mon men đến việc nước nhà
    Lên chức Phụ Chính đứng ra điều hành

    Giặc Đoàn Thượng tung hoành ngang dọc (1212)
    Dựa thời cơ cướp bóc lương dân
    Quân Chiêm đánh phá Nghệ An (1216
    Lại thêm Nguyễn Nộn tiếm phần, xưng vương (1220)

    Nước thì loạn trăm đường khốn đốn
    Kho quân lương hao tổn quá nhiều
    Vua thì mắc bệnh hiểm nghèo
    Tâm thần phân liệt đủ điều bi ai (1217)


    LÝ CHIÊU HOÀNG (1224 - 1225)

    Vua không có con trai nối dỏi
    Bèn truyền cho hoàng nữ lên ngôi (1224)

    Tháng mười , Chiêu Thánh thay người
    Vua bèn xuống tóc , bỏ đời đi tu
    Vua xuất gia ở chùa Chân giáo
    Bỏ Vương Y, mặc áo nâu sồng

    An vui tự tại trong lòng
    May ra căn bệnh tâm thần được yên
    Lý Chiêu Hoàng vừa lên bảy tuổi
    Được Điện tiền Thủ Độ trông coi (1224)

    Đem người hậu hạ bên ngài
    Ông cho Trần Cảnh trong vai người hầu
    Bọn trẻ con rất mau kết bạn
    Thường bày trò chạy trước, cản sau

    Nhưng nào chúng có ngờ đâu
    Mưu cơ , Thủ Độ trong đầu nghĩ ngay
    Phải nhanh tay chiếm liền ngôi báu
    Bằng mọi đường cho dẫu gian manh

    Viết tờ chiếu chỉ nhân danh
    Chiêu Hoàng, Trần Cảnh trở thành uyên ương
    Lễ nhường ngôi Chiêu Hoàng cho Cảnh (1225)
    Được tiến hành trong điện Thiên An

    Vua ban chiếu chỉ rõ ràng
    Nhường cho Trần Cảnh , ngai vàng từ đây
    Đổi niên hiệu chọn ngày mười một
    Xuống chiếu rằng đại xá toàn dân

    Phong cho Thủ Độ đại thần
    Là Quốc Trượng Phụ đỡ đần bên vua
    Triều nhà Lý, chín vua tất cả
    Trải hai trăm mười sáu năm già

    Kể từ Công Uẩn tính qua
    Đến đời Chiêu Thánh cũng là khá lâu (1010 - 1225)
    Hai trăm năm xôn xao một vẽ
    Sân cung đình bóng quế trần gian

    Cột chùa một nét bút son
    Cũng là định mệnh vô thường đó chăng ?
    Nhất bát công đức thủy
    Tùy duyên hóa thế gian

    Quang quang trùng chiếu chúc
    Một ảnh nhật đăng san
    Cơ đồ nữa mãnh trăng tan
    Tử sinh rồi cũng qua đường trầm luân


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group