Tác Giả & Tác Phẩm

  • PITATEN

    March 1st 2006, 9:28 am
  • Nay pita mới lèm mod mới ở trong box này nên vẫn rất coàn nhìu bỡ ngỡ........nhưng vì thích đọc truyện, nên pita cũng rất mún biết thêm về các tác giả nổi tiếng trên thế giới cũng như ở vn
    Mong được mọi ngừ giới thiệu thêm coi như để mở mang thêm kiến thức về văn học cho pita và những ngừơi khác....cám ơn nhìu ... ^^


    no spam here plz!


    Index về tác giả:

    A
    Arkadi Averchenko (1881-1925) 1.site

    Đ
    Đỗ Hoàng Diệu (sinh 1976) 1. site

    E
    Ernest Miller Hemingway (1899–1961) 1.site
    Edogawa Rampo (1894-1965) 1.site

    H
    H.G. Wells (1866 - 1946)


    K
    Kim Dung

    N
    Nam Cao(1915-1951)1.site
    Nguyễn Ngọc Tư (1976 - )

    V
    Victor Hugo (26. 2. 1802– 22. 5. 1885) 1.site



    Được sửa lần cuối bởi PITATEN vào ngày April 2nd 2006, 4:38 am với 4 lần trong tổng số.
  • rabbit under the rain

    March 25th 2006, 7:18 am
  • Ernest Hemingway

    Ernest Miller Hemingway (1899–1961) là nhà văn Mỹ nổi tiếng, đoạt giải Nobel văn chương năm 1954.

    Ernest Hemingway sinh ngày 21 tháng 7 năm 1899 ở Oak Park, Illinois, Hoa Kỳ.

    Sau khi xong trung học, Hemingway làm ký giả được ít tháng, rồi xin tình nguyện làm tài xế xe cứu thương ở Ý trong Thế chiến thứ nhất 1914–1918. Sau đó, ông chuyển qua phục vụ lục quân và bị thương nặng.

    Sau chiến tranh, ông làm ký giả cho tờ báo Toronto Star, trụ sở chính ở Toronto, Canada, rồi định cư ở Paris. Sau năm 1927, Hemingway chuyển đến Key West, Florida rồi Tây Ban Nha và châu Phi. Trong thời gian Nội chiến Tây Ban Nha (1936–1939), ông trở lại đấy để làm phóng viên chiến trường. Trong Thế chiến thứ hai (1939-1945) ông lại làm phóng viên chiến trường, sau đó là phóng viên cho Quân đoàn I của Mỹ. Tuy không phải là quân nhân, ông cũng tham gia vài trận đánh. Sau chiến tranh, ông định cư ở Cuba, gần Havana, rồi năm 1958 chuyển đến Ketchum, Idaho.

    Hemingway có thú vui câu cá, săn bắn và xem đấu bò, và rút chất liệu từ những kinh nghiệm này vào tác phẩm của ông. Cuộc sống đầy phiêu lưu cũng nhiều lần đẩy ông đến gần với cái chết, kể cả một tai nạn máy bay ở châu Phi.

    Năm 1952, Hemingway cho xuất bản truyện vừa Ông già và biển cả (The Old Man and the Sea, 1952), kể về một ngư phủ già người Cuba. Tác phẩm này đoạt giải Pulitzer năm 1953.


    Năm 1954, Hemingway nhận giải Nobel về văn học.

    Ông tự tử ngày 2 tháng 7 năm 1961, thọ 61.


    Tác phẩm

    Là một trong những cây bút hàng đầu trong thời gian giữa hai cuộc đại chiến, Hemingway diễn tả cuộc sống của hai nhóm người trong các tác phẩm đầu tiên. Thứ nhất là những người trong Thế chiến thứ Nhất bị mất niềm tin vào những giá trị đạo đức mà họ hằng trông cậy, nên trong thái độ yếm thế chỉ sống theo những yêu cầu xúc cảm của riêng họ. Thứ hai là những người có tư chất giản đơn và xúc cảm hoang sơ, như những võ sĩ chuyên nghiệp và người đấu bò.

    Tiểu thuyết đầu tiên khẳng định danh tiếng của Hemingway là Mặt trời vẫn mọc (The Sun Also Rises, 1926), là câu chuyện của một nhóm người Mỹ và Anh, vô ý thức về đạo đức, sống ở Pháp và Tây Ban Nha, là những người thuộc thế hệ lạc lõng hậu Thế chiến thứ nhất. Tiểu thuyết quan trọng thứ hai, Giã từ vũ khí (A Farewell to Arms, 1929), là câu chuyện tình cảm động giữa một sĩ quan Mỹ và một cô y tá người Anh cùng phục vụ trong quân y Ý. Trong Chuông nguyện hồn ai (For Whom the Bell Tolls, 1940), với bối cảnh cuộc nội chiến của Tây Ban Nha, ông cho thấy việc mất tự do ở một nơi nào đấy trên thế giới là lời cảnh báo rằng tự do có thể bị mất ở bất kỳ nơi nào khác.
    [sửa]

    Tác phẩm đã dịch sang tiếng Việt

    Trong hơn nửa thế kỷ qua, nhiều tác phẩm của Hemingway đã được dịch ra tiếng Việt. Có thể kể:

    * Tiểu thuyết
    o Mặt trời vẫn mọc (The Sun Also Rises, 1926)
    o Giã từ vũ khí (A Farewell to Arms, 1929)
    o Chuông nguyện hồn ai (For Whom the Bell Tolls, 1940)
    o Ông già và biển cả hoặc Ngư ông và biển cả (The Old Man and the Sea, 1952)
    * Và một số truyện ngắn.



    Hemingway là nhà văn bậc thầy với văn phong cả quyết, lời thoại súc tích, và ý tình nồng hậu. Văn phong và cuộc đời của ông có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến những văn nghệ sĩ Mỹ sống cùng thời với ông. Nhiều tác phẩm của ông được xem là kinh điển, và một số được dựng thành phim. Riêng cuộc đời của ông cũng được đưa lên màn ảnh.nguồn wikipedia

  • rabbit under the rain

    March 25th 2006, 7:34 am
  • Victor Hugo

    Victor Hugo (26. 2. 1802 tại Besançon – 22. 5. 1885 tại Paris) là một nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch nổi tiếng của Pháp.

    Các tác phẩm của ông rất đa dạng như: tiểu thuyết, thơ, kịch, các bài diễn văn chính trị,... Tiêu biểu cho các tác phẩm của ông là hai tác phẩm mang đậm tính nhân bản: Những người khốn khổ (Les Misérables) và Nhà thờ Đức bà Paris (Notre-Dame de Paris).


    Victor Hugo là con út của ông Joseph Léopold Sigisbert Hugo (1773-1828) và bà Sophie Trébuchet (1772-1821). Ông sinh năm 1802 tại Besançon (thuộc vùng Franche-Comté) và ông đã sinh sống tại Pháp gần hết cuộc đời. Tuy nhiên, ông đã chọn cuộc sống tha hương dưới thời vua Napoléon III của Pháp — ông đã sống ở Bỉ (1851), ở đảo Jersey (1852-1855) và ở đảo Guernsey (1855-1870 và 1872-1873).

  • PITATEN

    March 26th 2006, 11:02 am
  • kakatt:
    LTS: Tuy mới xuất hiện gần đây và duy nhất trên tập san Hợp Lưu, Đỗ Hoàng Diệu (sinh 1976) sau 3 truyện ngắn Tình chuột, Những sợi tóc màu tang lễ, Cô gái điếm và 5 người đàn ông đã gây chú ý. Với Bóng đè, một truyện ngắn hoán dụ vực thẳm, Đỗ Hoàng Diệu đã bắt gặp một trạng thái truyền kiếp của dân tộc. Bóng đè biểu hiện bứt phá, sức truyền đạt của một giọng văn cùng phong cách nổi loạn tràn lấp nhục cảm ở tác giả này.
    bạn hãy vào đây để đọc truyện Bóng đè

  • PITATEN

    March 27th 2006, 6:20 am
  • sweet_but_fat:
    Arkadi Averchenko (1881-1925) là nhà văn Nga, từng chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân vào thời kỳ nội chiến sau Cách mạng tháng 10 Nga, sau di cư ra nước ngoài. Nổi tiếng về truyện trào phúng.

  • PITATEN

    April 2nd 2006, 4:33 am
  • NAM CAO

    1 trong những nhà văn Việt Nam tiêu biểu nhất thế kỷ 20. Nhiều truyện ngắn của ông được xem như là khuôn thước cho thể loại này. Đặc biệt một số nhân vật của Nam Cao trở thành những hình tượng điển hình, được sử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày.
    Tiểu sử

    Nam Cao tên thật Trần Hữu Tri , giấy khai sinh ghi ngày 29 tháng 10 năm 1917, nhưng theo người em ruột của ông là Trần Hữu Đạt thì ông sinh năm 1915. Quê tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Song, tỉnh Hà Nam - nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Ông đã ghép hai chữ của tên tổng và huyện làm bút danh: Nam Cao.

    Xuất thân từ một gia đình bậc trung công giáo, cha Nam Cao là ông Trần Hữu Huệ, thợ mộc, làm thuốc, mẹ là bà Trần Thị Minh làm vườn, làm ruộng và dệt vải. Nam Cao học sơ học ở trường làng. Đến cấp tiểu học và bậc trung học, gia đình gửi ông xuống Nam Định học ở trường Cửa Bắc rồi trường Thành Chung. Nhưng vì thể chất yếu, chưa kịp thi Thành chung ông đã phải về nhà chữa bệnh, rồi cưới vợ năm 18 tuổi.

    Nam Cao từng làm nhiều nghề, chật vật kiếm sống và đến với văn chương đầu tiên vì mục đích mưu sinh. Năm 18 thuổi vào Sài Gòn, ông nhận làm thư ký cho một hiệu may, bắt đầu viết các truyện ngắn Cảnh cuối cùng, Hai cái xác. Ông gửi in trên Tiểu thuyết thứ bảy, trên báo Ích Hữu các truyện ngắn Nghèo, Đui mù, Những cánh hoa tàn, Một bà hào hiệp với bút danh Thúy Rư. Có thể nói, các sáng tác "tìm đường" của Nam Cao thời kỳ đầu còn chịu ảnh hưởng của trào lưu văn học lãng mạn đương thời.

    Trở ra Bắc, sau khi tự học lại để thi lấy bằng Thành chung, Nam Cao dạy học ở Trường tư thục Công Thành, trên đường Thụy Khuê, Hà Nội. Ông đưa in truyện ngắn Cái chết của con Mực trên báo Hà Nội tân văn và in thơ cùng trên báo này với các bút danh Xuân Du, Nguyệt.

    Năm 1941, tập truyện đầu tay Đôi lứa xứng đôi, tên trong bản thảo là Cái lò gạch cũ, với bút danh Nam Cao do NXB Đời mới Hà Nội ấn hành được đón nhận như là một hiện tượng văn học thời đó. Sau này khi in lại, Nam Cao đã đổi tên là Chí Phèo. Phát xít Nhật vào Đông Dương, trường bị trưng dụng, Nam Cao thôi dạy học.

    Rời Hà Nội, Nam Cao về dạy học ở Trường tư thục Kỳ Giang, tỉnh Thái Bình, rồi về lại làng quê Đại Hoàng. Thời kỳ này, Nam Cao cho ra đời nhiều tác phẩm. Ông in truyện dài nhiều kỳ Truyện người hàng xóm trên Trung Bắc Chủ nhật, viết xong tiểu thuyết Chết mòn, sao đổi là Sống mòn. Tháng 4 1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc và là một trong số những thành viên đầu tiên của tổ chức này.

    Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công. Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, rồi ông được cử làm Chủ tịch xã của chính quyền mới ở địa phương. Ông cho in truyện ngắn Mò sâm banh trên tạp chí Tiên Phong.

    Năm 1946, Nam Cao ra Hà Nội hoạt động trong Hội Văn hóa Cứu quốc. Tiếp đó, ông vào miền Nam với tư cách phóng viên. Tại Nam Bộ, Nam Cao viết và gửi in truyện ngắn Nỗi truân chuyên của khách má hồng trên tạp chí Tiên Phong, in tập truyện ngắn Cười ở NXB Minh Đức, in lại tập truyện ngắn Chí Phèo. Ra Bắc, Nam Cao nhận công tác ở Ty Văn hóa Hà Nam, làm báo Giữ nước và Cờ chiến thắng của tỉnh này. Mùa thu năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc. Ông là thư ký tòa soạn báo Cứu quốc Việt Bắc, viết Nhật ký ở rừng. Tại chiến khu, năm 1948 Nam Cao gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam.

    Năm 1950 Nam Cao chuyển sang làm việc ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm việc trong toà soạn tạp chí Văn nghệ. Tháng 6, ông thuyết trình về vấn đề ruộng đất trong hội nghị học tập của văn nghệ sỹ, sau đó ông được cử làm Ủy viên tiểu ban văn nghệ của Trung ương Đảng. Trong năm đó, ông tham gia chiến dịch biên giới.

    Tháng 5 1951, Nam Cao và Nguyễn Huy Tưởng về dự Hội nghị văn nghệ Liên khu 3, sau đó hai nhà văn cùng vào công tác khu 4. Nam Cao trở ra tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp, vào vùng địch hậu khu 3. Ông có ý định kết hợp lấy thêm tài liệu cho cuốn tiểu thuyết sẽ hoàn thành.

    Năm 1951, trong chuyến công tác tại tỉnh Ninh Bình, Nam Cao bị quân Pháp phục kích bắt được và xử bắn.

    Ông có một vợ và năm người con, trong đó một người đã mất trong nạn đói năm 1945.


    Tác phẩm

    Kịch

    * Đóng góp (1951)


    Tiểu thuyết

    * Truyện người hàng xóm (1944) - Báo Trung văn Chủ nhật.
    * Sống mòn (1956), ban đầu có tên Chết mòn - Nhà xuất bản Văn Nghệ.
    * Và bốn tiểu thuyết bản thảo bị thất lạc: Cái bát, Một đời người, Cái miếu, Ngày lụt.


    Truyện ngắn

    * Ba người bạn
    * Bài học quét nhà
    * Bẩy bông lúa lép
    * Cái chết của con Mực
    * Cái mặt không chơi được
    * Chuyện buồn giữa đêm vui
    * Cười
    * Con mèo
    * Con mèo mắt ngọc
    * Chí Phèo
    * Đầu đường xó chợ
    * Điếu văn
    * Đôi mắt
    * Đôi móng giò
    * Đời thừa
    * Đòn chồng
    * Đón khách
    * Nhỏ nhen
    * Làm tổ
    * Lang Rận
    * Lão Hạc
    * Mong mưa
    * Một chuyện xu-vơ-nia
    * Một đám cưới
    * Mua danh
    * Mua nhà
    * Người thợ rèn
    * Nhìn người ta sung sướng
    * Những chuyện không muốn viết
    * Những trẻ khốn nạn
    * Nụ cười
    * Nước mắt
    * Nửa đêm
    * Phiêu lưu
    * Quái dị
    * Quên điều độ
    * Rình trộm
    * Rửa hờn
    * Sao lại thế này?
    * Thôi về đi
    * Trăng sáng
    * Trẻ con không được ăn thịt chó
    * Truyện biên giới
    * Truyện tình
    * Tư cách mõ
    * Từ ngày mẹ chết
    * Xem bói

    Ngoài ra ông còn làm thơ và biên soạn sách địa lý với Văn Tân Địa dư các nước Châu Âu (1948), Địa dư các nước châu á, châu Phi (1949), Địa dư Việt Nam (1951)

    Nguồn wikipedia

  • katkatt

    April 11th 2006, 3:29 am
  • Cái duyên điện ảnh của Kim Dung


    Người ta biết ông là nhà văn, một cây bút độc nhất vô nhị với những thiên tiểu thuyết kiếm hiệp lừng lẫy. Tuy không trực tiếp hoạt động điện ảnh truyền hình, nhưng hầu hết những tác phẩm của ông: Tiếu ngạo giang hồ, Anh hùng xạ điêu, Phi hồ ngoại truyện, Ỷ thiên đồ long ký, Đông tà Tây độc, Thiên long bát bộ, Bích huyết kiếm... đều đã được đưa lên màn bạc, thậm chí có những tác phẩm được tái sáng tạo nhiều lần. Song ít ai biết cái duyên điện ảnh hơn nửa thế kỷ nơi ông đã bắt đầu từ thời trai trẻ, thuở mới sáng nghiệp.

    Hè 1947, 23 tuổi, qua mục bạn đọc Đông Nam nhật báo ở Hàng Châu mà ông phụ trách, Kim Dung đã từng dẫn dắt một thanh niên đi vào làng nghệ thuật biểu diễn, đó là Đỗ Dã Thu - đạo diễn hạng một cấp quốc gia của điện ảnh Trung Quốc sau này. 5 năm sau, từ vị trí biên tập trang thời sự quốc tế Đại công báo ở Hồng Công, ông được điều động về biên tập Báo chiều - tờ phụ san trực thuộc tờ báo trên. Trong mục Buổi chiều trà đạo, Kim Dung bắt đầu viết rất nhiều bài phê bình điện ảnh.

    Thuở đó, Kim Dung cũng thường viết kịch bản phim cho Công ty điện ảnh Trường Thành: Giai nhân tuyệt thế (cải biên từ tác phẩm Hổ phù của nhà văn Trung Quốc Quách Mạc Nhược), Bông Hoa Lam, Nàng bồ câu do đạo diễn Lý Bình Thiên dàn dựng. Năm 1957, phim Giai nhân tuyệt thế đoạt giải phim xuất sắc nhất và biên kịch xuất sắc nhất tại đại hội điện ảnh năm 1949-1955 do Bộ Văn hóa Trung Quốc tổ chức.

    Nghề biên kịch điện ảnh của Kim Dung bắt đầu nghiệp dư bên cạnh nghề báo, đến năm 1957, ông vào hẳn Công ty điện ảnh Trường Thành, chuyên trách biên kịch điện ảnh. Nhiều kịch bản của ông ra đời từ đây: Đừng xa tôi, Tình yêu tay ba, Cô gái dậy thì, Tiếng đàn nửa đêm... Rồi ông cũng bắt đầu thử làm đạo diễn. Trước tiên hợp tác với đạo diễn Trình Bộ Cao trong Cô gái dậy thì, rồi cùng Hồ Tiểu Phong dàn dựng phim Vương Lão Hổ cướp nàng dâu.

    Song chức danh “nhà điện ảnh” của Kim Dung chỉ duy trì được hơn một năm. Ông rời Trường Thành bởi không thích ứng nổi cơ chế quản lý và vận hành của công ty điện ảnh này, nhất là không nhất trí với đồng nghiệp về tôn chỉ mục đích sáng tác nghệ thuật điện ảnh. Thuở đó, chỉ bởi muốn làm nhiều phim giải trí để nâng cao hiệu quả phòng vé mà ông bị phê bình là nặng nề tư tưởng giai cấp tư sản.

    Có được tích lũy do viết tiểu thuyết và kịch bản, Kim Dung đã cùng bạn học Thẩm Bảo Tân hợp tác sáng lập tờ Minh Báo - một tờ tạp chí đã mang lại cho ông một địa vị xã hội cao quý cũng như tài chính kếch sù sau này.

    Năm 1979, khi viếng thăm Đài Loan, một số nhà hoạt động điện ảnh Đài Loan kinh ngạc khi biết ông đã từng là người trong ngành, ông nói: “Các anh không biết, chứng tỏ tôi hoàn toàn thất bại trong sự nghiệp điện ảnh”. Năm 1981, trong không khí đổi mới mở cửa, Kim Dung rất được độc giả, khán giả lục địa Trung Quốc mến mộ; tại Thượng Hải, ông xúc động khi xem lại một bộ phim cũ của mình, khi tên biên kịch Lâm Hoan ngày xưa đã được đổi thành Tra Lương Dung (tên thật của ông).

    Hơn nửa thế kỷ có duyên cùng điện ảnh, có lần có người hỏi ông thích xem thể loại điện ảnh nào, ông cười sảng khoái: “Có lẽ vẫn là phim kiếm hiệp đánh đấm thôi!”.


    Theo Sài Gòn Giải Phóng



    NIÊN BIỂU SÁNG TÁC TIỂU THUYẾT VÕ HIỆP CỦA KIM DUNG

    Kim Dung đã từng dùng chữ đầu tiên của 14 bộ tiểu thuyết võ hiệp của mình viết thành một câu đối liên

    "Phi tuyết liên thiên xạ bạch lộc,
    Tiếu thư thần hiệp ỷ bích uyên"


    Ngoài ra còn có một tác phẩm "Việt nữ kiếm"
    Niên biểu của 15 tác phẩm như sau :

    1. "Thư kiếm ân cừu lục". 1955-1956. Tác phẩm đầu tay
    2. "Bích huyết kiếm". 1956-1957
    3. "Tuyết sơn Phi Hồ" . 1957-1958
    4. "Xạ điêu anh hùng truyện". 1958-1959. Bộ thứ nhất của "Xạ điêu tam bộ khúc"
    5. "Thần điêu hiệp lữ". 1959-1961. Bộ thứ hai của "Xạ điêu tam bộ khúc"
    6. "Phi Hồ ngoại truyện". 1959-1961. Chuyện trước "Tuyết sơn Phi Hồ"
    7. "Bạch mã khiếu tây phong". 1960
    8. "Uyên ương đao". 1961
    9. "Liên thành quyết". 1963
    10. "Ỷ thiên đồ long ký". 1961-1963. Bộ thứ ba của "Xạ điêu tam bộ khúc"
    11. "Thiên long bát bộ". 1963-1966
    12. "Hiệp khách hành". 1965
    13. "Tiếu ngạo giang hồ". 1967-1969
    14. "Việt nữ kiếm". 1968. Bộ đoản tiểu thuyết duy nhất .
    15. "Lộc đỉnh ký". 10/1969-9/1972. Tác phẩm "phong bút"

    (Theo Kim Dung cuộc đời & tác phẩm)



    Được sửa lần cuối bởi katkatt vào ngày April 11th 2006, 3:51 am với 1 lần trong tổng số.
  • katkatt

    April 11th 2006, 3:32 am
  • Tác phẩm Kim Dung dựng thành phim hấp dẫn mọi thời đại


    Thập niên 80, khi tác phẩm Anh hùng xạ điêu lần đầu tiên được TVB dựng thành phim truyền hình, đã được khán giả đón nhận nồng nhiệt, lập nên kỳ tích tỉ suất bạn xem đài thời bấy giờ, kéo theo trào lưu chuyển thể tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung. Đến thập niên 90, TVB tái dựng các Thần điêu đại hiệp, Lộc đỉnh ký… “Cơn sốt” Kim Dung lại được hâm nóng trở lại.

    Cùng một bộ tiểu thuyết, cốt truyện có khi được chuyển thể nhiều lần, muốn tác phẩm của mình ăn khách, các nhà làm phim phải tăng cường sức hấp dẫn ở dàn diễn viên, kỹ xảo, trang phục, ngoại cảnh… Nhưng nhìn chung, phong cách làm phim chỉ biến đổi theo nguyên lý tuần hoàn: Trung thành với nguyên tác - sáng tạo, mở rộng - quay về với nguyên tác. Việc đó khẳng định một điều, giá trị của các tác phẩm Kim Dung luôn tồn tại với không gian và thời gian.

    Thập niên 80: Trung thành với nguyên tác

    Thư kiếm ân cừu lục: 60 tập. Lần đầu tiên phát sóng vào tháng 7/1979. Diễn viên Trịnh Thiếu Thu, Uông Minh Thuyên, Dư An An

    Thư kiếm ân cừu lục là bộ tiểu thuyết võ hiệp đầu tiên của Kim Dung được TVB làm phim truyền hình vào cuối những năm 70. Do thời đó kỹ thuật dựng phim còn thô sơ nên phần trang phục, đạo cụ, võ thuật… vẫn còn rất thủ công, nhưng bù lại, các nhân vật chính do các diễn viên được yêu thích lúc bấy giờ, như Uông Minh Thuyên (vai Hương Hương Công chúa), Dư An An (vai Hoắc Thanh Đồng)… đảm nhận, nên phim đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng khán giả.

    “Xạ điêu tam bộ khúc” - Anh hùng xạ điêu: 60 tập. Lần đầu tiên phát sóng vào năm 1983. Diễn viên: Ông Mỹ Linh, Huỳnh Nhật Hoa, Dương Phán Phán, Miêu Kiều Vỹ…

    So với Thư kiếm ân cừu lục thì Anh hùng xạ điêu có tiến bộ hơn về mặt dàn dựng, hơn nữa, còn “đóng đinh” vào ký ức của khán giả hình ảnh một Hoàng Dung (Ông Mỹ Linh đóng) vừa ngổ ngáo, vừa khả ái, một Quách Tĩnh (Huỳnh Nhật Hoa đóng) ngây ngô, bộc trực.

    “Xạ điêu tam bộ khúc” - Thần điêu đại hiệp: 40 tập. Lần đầu tiên phát sóng vào năm 1983. Diễn viên: Trần Ngọc Liên, Lưu Đức Hoa.
    Thần điêu đại hiệp ra đời sau hiệu ứng mạnh mẽ của Anh hùng xạ điêu. Nhân vật Dương Qua do Lưu Đức Hòa thủ diễn tuy không được đánh giá cao như vai Quách Tĩnh của Huỳnh Nhật Hoa, nhưng hình ảnh Dương Qua và Tiểu Long Nữ (Trần Ngọc Liên đóng) trong bản phim này được xem là tiểu biểu nhất trong số các bản phim Thần điêu đại hiệp.

    Lộc đỉnh ký: 40 tập. Lần đầu tiên phát sóng vào năm 1984. Diễn viên: Lương Triều Vỹ, Lưu Đức Hoa, Lưu Gia Linh

    Nhà văn Kim Dung từng phát biểu, Lộc Đỉnh Ký là tác phẩm mà ông yêu thích nhất, và Vi Tiêu Bảo là nhân vật ông tâm đắc nhất. Không phụ lòng mong mỏi của Kim Dung, Lương Triều Vỹ đã thể hiện nên một Vi Tiêu Bảo “độc nhất vô nhị”, trở thành hình ảnh kinh điển mà chưa có diễn viên nào qua mặt được.

    Ngoài các bộ phim tiêu biểu nêu trên, còn có một số tác phẩm như Ỷ thiên đồ long ký (Lương Triều Vỹ vai Trương Vô Kỵ), Tiếu ngạo giang hồ (Châu Nhuận Phát vai Lệnh Hồ Xung), Bích huyết kiếm (Huỳnh Nhật Hoa vai Viên Thừa Chí), và Thiên long bát bộ (Thanh Chấn Nghiệp vai Đoàn Dự)… cũng được VTB dàn dựng một cách công phu, gần gũi với nguyên tác.

    Thập niên 90: Sáng tạo

    Đầu thập niên 90, Trung Quốc, Hong Kong và Đài Loan hợp tác làm phim Tuyết sơn phi hổ, do Mạnh Phi đóng vai chính. Tuy nhiên, cách tạo hình của các nhân vật trong phim quá khác lạ so với nguyên tác, Mạnh Phi có chiều cao khiêm tốn, hoàn toàn không thích hợp thể hiện nhân vật Hồ Nhất Đao oai phong lẫm liệt, uy trấn giang hồ. Ngoài ra, vai Miêu Nhược Lan của Vương Lộ Dao cũng quá nũng nịu, đỏm dáng. Chỉ riêng Ngô Vũ Quyên là diễn xuất nổi bật qua vai Viên Tử Y.

    Bắt đầu từ năm 1992, trước khi bắt tay chuyển thể hàng loạt tác phẩm Kim Dung lần thứ hai, TVB đã thực hiện một số phim “thử nghiệm” như Cửu âm chân kinh (năm 1993), do Khương Đại Vệ, Lương Bội Linh đóng vai chính, kể về cuộc đời của vợ chồng Hoàng Dược Sư. Cửu âm chân kinh có nhiều cải tiến rõ rệt về mặt kỹ thuật, bối cảnh phim trường, trang phục và cách hóa trang. Cuộc “thăm dò” này thành công ngoài sức tưởng tượng, thúc đẩy TVB mạnh dạn làm lại các tác phẩm Kim Dung.

    Anh hùng xạ điêu: Lần đầu tiên phát sóng vào năm 1994, Diễn viên: Trương Chí Lâm, Chu Ân, La Gia Lương

    Gương mặt xinh xắn, thân hình nhỏ nhắn, cử chỉ lanh lợi, so với Ông Mỹ Linh, vai Hoàng Dung do Chu Ân thể hiện khá sinh động, chỉ tiếc là diễn xuất của cô chưa “lão luyện” bằng Ông Mỹ Linh. Ngược lại, vai Quách Tĩnh của Trương Trí Lâm không thuyết phục người xem cho lắm, ngoại trừ gương mặt đẹp trai.

    Thần điêu đại hiệp: 31 tập, lần đầu tiên phát sóng vào năm 1995, Diễn viên: Cổ Thiên Lạc, Lý Nhược Đồng.

    Trong số các bộ phim Kim Dung được VTB chuyển thể đợt 2, Thần điêu đại hiệp được đánh giá là tiêu biểu nhất. Bản phim này đã đưa chàng diễn viên trẻ Cổ Thiên Lạc trở thành thần tượng mới của khán giả, bên cạnh đó, Lý Nhược Đồng cũng nhờ vai Tiểu Long Nữ tỏa sáng trên màn ảnh nhỏ. Thần điêu đại hiệp được xem là bộ phim thành công lớn của TVB.

    Tiếu ngạo giang hồ: 40 tập, lần đầu tiên phát sóng vào năm 1996, Diễn viên: Lũ Tụng Hiền, Lương Bội Linh

    Trong phim Tiếu ngạo giang hồ, nhân vật Lệnh Hồ Xung do Lữ Tụng Hiền thể hiện thiếu nét hào phóng, ngạo nghễ của một đại hiệp lãng tử, mà có vẻ hơi thư sinh. Trái lại, Lương Bội Linh được báo chí dành cho nhiều lới khen ngợi, diễn xuất và tạo hình đều đạt điểm cao. Khán giả nhận xét, Lương Bội Linh là nữ diễn viên thích hợp nhất đóng vai Nhậm Doanh Doanh, mọi góc cạnh của “nữ ma đầu” Nhậm Doanh Doanh đều được Lương Bội Linh lột tả trọn vẹn và sinh động, tự nhiên.

    Thiên long bát bộ: Lần đầu tiên phát sóng vào năm 1996, Diễn viên: Huỳnh Nhật Hoa, Lý Nhược Đồng, Trần Hạo Dân, Lưu Cẩm Linh, Lưu Ngọc Thúy, Phàn Thiếu Hoàng, Huỳnh Kỷ Doanh…

    Thiên long bát bộ là bộ phim “ăn khách” của TVB trong năm 1996. Nhân vật Vương Ngữ Yên do Lý Nhược Đồng thể hiện có vẻ đẹp thanh thoát, tao nhã chẳng thua kém Trần Ngọc Liên trước đó. Vai Đoàn Dự của Trần Hạo Dân cũng chiếm được tình cảm khán giả.

    Lộc đỉnh ký: Lần đầu tiên phát sóng vào năm 1997, Diễn viên: Trần Tiểu Xuân, Lương Tiểu Băng, Lưu Ngọc Thúy, Đàm Diệu Văn…

    Sau Anh hùng xạ điêu và Tiếu ngạo giang hồ, Lộc đỉnh ký là tác phẩm được chọn chuyển thể tiếp theo, nhưng nó lại không thành công như mong đợi. Bản phim năm 1984 được khen bao nhiêu, thì phiên bản mới do Trần Tiểu Xuân đóng bị “chê” nhiều bấy nhiêu. Mặc dù Trần Tiểu Xuân đã hết sức cố gắng “chọc cười” khán giả, nhưng anh lại không có đủ nét khôi hài duyên dáng như Lương Triều Vỹ.

    Ỷ đồ thiên long ký: Lần đầu tiên phát sóng vào năm 1999, Diễn viên: Ngô Khải Hoa, Lê Tư, Xa Thi Mạn, Tào Vĩnh Liêm, Lưu Tùng Nhân, Mễ Tuyết…

    Trong số những bản phim Ỷ thiên đồ long ký (tức Thanh kiếm đồ long), bản phim cuối thế kỷ này bị đánh giá là kém nhất, nó đã không thể xóa được ấn tượng sâu đậm của khán giả về bộ phim thực hiện hồi thập niên 80.

    Bắt đầu từ giữa những năm 90, nhà chế tác Đài Loan - Dương Bội Bội cũng bắt đầu thực hiện series phim Kim Dung: Ỷ thiên đồ long ký, Thần điêu đại hiệp và Tiếu ngạo giang hồ. Trong số đó, phim Ỷ thiên đồ long ký gặp thất bại ê chề nhất, nam diễn viên Mã Cảnh Đào đóng vai Trương Vô Kỵ đã không tạo được sự hứng thú cho khán giả.

    Thế kỷ 21: Trở lại theo nguyên tác

    Mặc dù TVB toàn chọn các gương mặt ăn khách tham gia phim võ hiệp Kim Dung, nhưng vì bị hạn chế về mặt bề thế phim trường, dàn dựng cảnh quay, ngoại cảnh… nên phim truyền hình Hong Kong không thể hiện được sự hoành tráng của phim võ hiệp. Trong khi những yếu tố mà Hong Kong bị hạn chế lại là thế mạnh của các nhà làm phim Trung Quốc.

    Tiếu ngạo giang hồ: 40 tập, lần đầu tiên phát sóng vào năm 2000. Diễn viên: Lý A Bằng, Hứa Tịnh, Miêu Ất Ất, Lý Giải, Ngụy Tử...

    Tiếu ngạo giang hồ là bộ phim võ hiệp dầu tiên được nhà chế tác phim truyền hình T.Q Trương Kỷ Trung đưa lên màn ảnh, khó tránh khỏi những thiếu sót.

    Anh hùng xạ điêu: 40 tập, lần đầu tiên phát sóng vào năm 2001. Diễn viên: Lý A Bằng, Châu Tấn, Châu Kiệt, Thủy Linh...

    Anh hùng xạ điêu là tác phẩm Kim Dung thứ hai Trương Kỷ Trung thực hiện. Cũng như các bộ phim võ hiệp Kim Dung khác, Anh hùng xạ điêu được khán giả, báo chí quan tâm theo dõi sít sao, lại còn bị đưa lên bàn cân so sánh với những bản phim trước. Dù sao đi nữa, Anh hùng xạ điêu cũng được đánh giá là thành công về tỷ suất bạn xem đài tại Trung Quốc, một bộ phim võ hiệp có đầu tư kinh phí kỷ lục (hơn 40 triệu nhân dân tệ), ngoại cảnh đẹp, khung ảnh hoành tráng, kỹ thuật quay phim hiện đại…

    Thiên long bát bộ: 40 tập, lần đầu tiên phát sóng vào năm 2004. Diễn viên: Hồ Quân, Cao Hổ, Lâm Chí Dĩnh, Lưu Diệc Phi, Lưu Đào, Trần Hảo, Tạ Vũ Hân, Thanh Trấn Tông, Chung Lệ Đề…

    Thiên long bát bộ được xem là bộ phim võ hiệp hoàn chỉnh, qui mô, hoành tráng nhất của truyền hình Trung Quốc. Bộ phim nhận được nhiều lời khen ngợi nhất, trong số 3 tác phẩm Kim Dung mà Trương Kỷ Trung đã chuyển thể từ năm 2000-2002.

    Theo Thế giới Điện Ảnh

  • katkatt

    April 11th 2006, 3:34 am
  • Kim Dung 80 tuổi: Vẫn "tái xuất giang hồ"
    GIAO HƯỞNG



    Bước sang Giáp Thân - 2004, đệ nhất danh gia tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung 80 tuổi. Mặc dù gác bút hơn 30 năm qua, song 14 bộ sách với hàng ngàn nhân vật của ông vẫn tiếp tục "tái xuất giang hồ" và Hội "Kim Dung học" vẫn hoạt động tại Hồng Kông, Đài Loan, Pháp, Mỹ, Úc. Còn tại Việt Nam?

    Theo các nhà làm sách và phát hành sách ở TP Hồ Chí Minh, dịp Tết vừa rồi số lượng sách Kim Dung bán ra đạt mức đáng kể.

    Đọc truyện vũ hiệp là một trong những phép tu dưỡng ký ức và khơi dẫn nguồn vui ẩn mật trong mình... Riêng đối với bạn thi sĩ, sách vũ hiệp có thể giúp bạn làm thơ lai láng một cách không ngờ.

    Bùi Giáng



    Điều đó khác tình cảnh của hơn 10 năm trước. Lúc ấy những nhân vật dầu chánh phái hay tà phái của Kim Dung đều vẫn còn đứng bơ vơ bên ngoài... các nhà xuất bản xứ ta.

    Trung Quốc, truyện võ hiệp Kim Dung bị cấm, bị lên án vào những năm 60 thế kỷ trước. Song, theo giáo sư Lương Duy Thứ, nguyên Trưởng khoa Ngữ văn Trung Quốc Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh, từng là sinh viên lưu học Trung Quốc thời ấy, thì giới trẻ “vẫn lén lút tìm đọc".

    Một số nhà phê bình liệt tác phẩm Kim Dung vào loại giải trí đơn thuần, họ muốn những Đoàn Dự, Tiêu Phong, Hư Trúc và vô số hào kiệt đất Trung Nguyên chỉ là những nhân vật "cận văn học". Song, không ít người sớm tìm thấy, phân tích những giá trị trong tiểu thuyết Kim Dung, và riêng ở Sài Gòn, từ hơn 30 năm trước, Đỗ Long Vân đã viết: Vô Kỵ giữa chúng ta.

    Hầu hết những mối tình của các nhân vật chính của Kim Dung thường kết thúc trong đau thương hoặc dang dở (...). Nếu không kết thúc đau thương, đoạn trường thì đều tựu thành trong cái bất toàn của nó. Kim Dung vẫn tỏ ra trung thành với cái quy luật cực kỳ sâu sắc của phương Đông đã khám phá: Tạo hóa bất toàn.

    Huỳnh Ngọc Chiến


    Hằng ngày, trên nhiều nhật báo Sài Gòn, đều đều đăng truyện Kim Dung, dịch từ báo Hồng Kông chở máy bay sang; dịch giả: Hàn Giang Nhạn, Từ Khánh Phụng, Từ Khánh Vân, Phan Cảnh Trung... Những năm giữa thập niên 80 cách nhìn về Kim Dung ở đại lục Trung Hoa thay đổi dần, nhất là sau khi ông về thăm quê và tiếp kiến các vị lãnh đạo như Đặng Tiểu Bình, Hồ Diệu Bang, Giang Trạch Dân. Ông được trao nhiều học hàm, là tiến sĩ danh dự của Đại học Văn khoa Hồng Kông, Viện sĩ danh dự Đại học Newton ở Anh và tiến sĩ danh dự Đại học Bắc Kinh.

    Theo Trần Mặc tiên sinh, việc xuất bản toàn bộ tiểu thuyết Kim Dung ở Trung Quốc đối với nhà xuất bản Tam Liên thư điếm giữa thập niên 1990 đương nhiên cũng mang mục đích thương mại, nhưng điều khiến người ta chú tâm (đến việc ấn hành này) là ở tác dụng xã hội của nó, đã "chứng tỏ sự thừa nhận của quan điểm văn hóa chính thống và chủ lưu ở Trung Quốc đối với tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung" (Võ hiệp ngũ đại gia, Bích Hải dịch). Hơn một nửa trong số 14 bộ tiểu thuyết võ hiệp của ông dựng thành phim, một số đã và đang chiếu tại Việt Nam.

    Khoảng 6, 7 năm qua, các nhân vật lừng lẫy giang hồ của Kim Dung lần lượt được nhắc lại trên sách báo nước ta, nhiều tác giả bỏ công biên khảo, biên dịch, giới thiệu và đã xuất bản: Kim Dung - tác phẩm và dư luận, Kim Dung - cuộc đời và tác phẩm, Kim Dung giữa đời tôi, Giải mã tiểu thuyết Kim Dung, Bàn về các nhân vật trong tiểu thuyết Kim Dung, Lai rai chén rượu giang hồ (tiểu luận về Kim Dung)...

    Trong số đó, cuốn Chủ nghĩa nhân đạo trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung của Từ Thành Trí Dũng nguyên là luận văn tốt nghiệp Cử nhân ngữ văn Trung Quốc của tác giả, được bảo vệ tại Trường Khoa học xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh, đã nhận định và đánh giá tiểu thuyết Kim Dung, điểm lại những nhân vật chánh tà nhị phái, thường xuất hiện trong bối cảnh thời Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Như mối quan hệ anh em giữa Trần Gia Lạc với vua Càn Long trong Thư kiếm ân cừu lục. Hoặc có thật như vua Khang Hy, Trần Vĩnh Hoa (Tống đường chủ Thiên Địa hội). Hoặc do tưởng tượng như Vi Tiểu Bảo. Hoặc phiêu bạt như Quách Tĩnh, Dương Qua, Viên Thừa Chí. Hoặc hành sự lỗi lạc, giết người, nhưng "chưa hề giết một người có lòng tốt" như Hồng Thất Công. Hoặc thuộc hàng chân nhân như vị sáng lập phái Võ Đang là Trương Tam Phong. Hoặc với võ công đặc biệt thể hiện tư tưởng đạo Lão "vô danh chi phát" (dùng cái mộc mạc vô danh để chế ngự lòng tư dục): "Võ công Song thủ hỗ bác của Châu Bá Thông là loại võ công mà trong một lúc, hai tay có thể ra hai chiêu khác nhau, cũng như tay phải ta vẽ vòng tròn và tay trái ta vẽ hình vuông vậy.

    Kim Dung cho rằng chỉ có những người thật thà, chất phác mới luyện được võ công này. Và những người càng cơ trí, càng thông minh thì không bao giờ có thể luyện được tuyệt chiêu trên" (Tư Thành Trí Dũng). Hiện các nhân vật Kim Dung đang tiếp tục "có mặt" trong các quầy sách, nhà sách sau Tết với 7 bộ đã xuất bản, và trong năm 2004, Công ty Văn hóa Phương Nam và các nhà xuất bản sẽ liên kết in thêm 5 bộ nữa của Kim Dung: Thư kiếm ân cừu lục (đã dựng thành phim và đang chiếu trên Đài Truyền hình Long An), Bích huyết kiếm, Uyên ương đao, Tuyết Sơn Phi Hồ, Phi Hồ ngoại truyện.


    (Báo TN)

  • katkatt

    April 11th 2006, 3:35 am
  • Nhân vật nữ yêu thích nhất của Kim Dung?

    Tại buổi gặp gỡ các nhân vật nổi tiếng của Tứ Xuyên hôm qua, 22-9, nhà văn nổi tiếng Kim Dung cho biết Hoàng Dung là cô gái đẹp nhất trong số những mỹ nữ trong tiểu thuyết của ông nhưng nhân vật nữ mà ông thích nhất lại là Quách Tường - người sáng lập ra phái Nga Mi.

    Ông nói: "Tôi cảm thấy tiểu thuyết của tôi chỉ manh tính giải trí bình thường, dễ xem, thực ra không có giá trị văn học, chẳng qua mọi người thích xem truyện và ủng hộ tôi...Chủ yếu tôi muốn truyền bá những tinh hoa của dân tộc Trung Hoa, vì thế Hàn, Nhật và các nước Đông Nam Á đều bình phẩm truyện của tôi hay nhưng các nước Tây phuơng thì lại khác".

    Ông cũng cho biết văn học cổ đại ông thích nhất là Tô Đông Pha, còn hiện đại là Ba Kim.

    Mong đợi của nhà văn Kim Dung là đi đến những nơi mình đã từng hạ bút và những ngày qua, ông đã bắt đầu 10 ngày du hành của mình tại Tứ Xuyên - một trong những địa danh ông đã viết đến.

    Ở tuổi 80, "Kim đại hiệp" vẫn luôn nhận được sự tôn trọng và lòng ngưỡng mộ của mọi người. Đi đến đâu, ông cũng bị bao vây bởi những người hâm mộ và những ký giả từ khắp nơi đổ xô về.

    ( Theo Tuổi Trẻ )



    CHUYỆN TÌNH KIM DUNG


    Là một tiểu thuvết gia chuyên viết về đề tài võ hiệp, Kim Dung được ví như một kỳ tích của giới sáng tác truyện kiếm hiệp kỳ tình. Những tác phẩm của Kim Dung như: Anh hùng xạ điêu (phát sóng trên HTV7, tháng 9/2003), Tiếu ngạo giang hồ (phát sóng trên đàl truyền hình Đồng Nai, tháng 10/2003), Ỷ thiên đồ long ký, Bích huvết kiếm, Lộc đỉnh ký...Đều được các nhà làm phim đưa vào danh sách những tác phẩm đặc sắc của mọl thời đại và ngay cả người xem phim cũng rất yêu thích các bộ phim được chuyển thể từ tác phẩm của ông. Dưới ngòi bút tài hoa của Kim Dung, những mối tình trong trang sách thật nồng đượm ý tình, đẫm chất lãng mạn, đôi khi thật bi thiết, thương tâm... vậy thì cha đẻ của những tuyệt tác ấy đã có những kinh nghiệm về ái tình ra sao, để có thể viết thành những áng văn chương bất hủ đến vậy?

    Kim Dung và những mối tình trong đời


    Kim Dung mỗi khi ngâm thơ, viết sách thường có câu: “Mỹ nhân như ngọc, kiến như xương” (người con gái đẹp như ngọc, trông như cành liễu). Ông trân trọng cái đẹp và thường ví mình như chàng Vô Kỵ đa tình hay đại hiệp Lệnh Hồ Xung nhiều hồng nhan tri kỷ. Cũng chính vì điều ấy mà chuyện tình duyên của ông cứ như những đoản khúc buồn tha thiết.

    Kim Dung đã ba lần kết hôn, người vợ đâu tiên tên Đỗ Trị Phần, lấy nhau được hai năm, vợ ông ngoại tình vì chê chồng mình nghèo, không sự nghiệp.

    Người vợ thứ hai tên Chu Mai, bà là người chia ngọt sẻ bùi với Kim Dung trong khoảng thời gian nghèo khó. Hai người đã có với nhau một đứa con trai. Kim Dung đặt tên cho con là Tra Truyền Hiệp, những tưởng ông và Chu Mai sẽ là đôi giai ngẫu, sống bên nhau trọng đời. Nhưng khi sự nghiệp của ông bắt đầu khởi sắc thì họ lại nói lời chia tay và Chu Mai qua đời vào năm 1998 tại Hong Kong, hưởng thọ 63 tuổi, phút cuối của bà không có người thân đưa tiễn. Kim Dung đã không đến để đưa tiễn người vợ cũ và vào thời điểm đó, bản thân ông lẫn dư luận đều ví ông tệ bạc như Dương Khang trong nhân vật của bộ “Anh Hùng Xạ Điêu’.

    Người phụ nữ cuối cùng của Kim Dung là Lâm Lạc Di cũng là người vợ hiện tại đang chung sống với ông. Kim Dung và Lâm Lạc Di quen nhau khi nàng vừa tròn 16 tuăi, kém ông 20 tuổi, hai người gặp nhau trong một quán ruợu, khi đó cô Lâm còn làm nghề bồi bàn. Sau những trận cãi vã với Chu Mai, Kim Dung đến quán để giải khuây. Với dáng dấp dễ thương cùng giọng nói ngọt ngào, Lâm Lạc Di đã làm trí tim chàng nhà văn xao động từ lúc nào chẳng biết. Ông đưa Lâm Lạc Di sang Châu Aâu du học và vì cô gái này ông đã chia tay với Chu Mai, người đã hy sinh cho ông suốt quảng đời son trẻ.

    Đây là những mối tình được Kim Dung chính thức thừa nhận, nhưng thật ra trong quãng đời tuổi trẻ của ông, người ta cũng không thể tính hết được là Kim Dung đã cótrong tay bao nhiêu mối tình và tình nào mới là tình khắc cốt ghi tâm của ông?

    Trong một lần tiếp xúc với phóng viên của đài truyền hình Hồ Nam , Kim Dung đã tâm sự: “Nhiều người cho tôi là người đa tình không chung thủy. Dư luận lắm khi gán cho tôi những biệt danh tệ hại, dù rằng ai cũng biết tình yêu là điều khó nắm bắt nhất trong đời. Trong cuộc đời tình ái của tôi, người đàn bà làm tôi đau khổ nhất là diễn viên Hạ Mông- người phụ nữ được mệnh danh là đẹp nhất trong lịch sử điện ảnh Trung Hoa ở thập niên 50. Thời ấy tôi còn là một chàng ký giả nghèo với cái tên Lâm Hoan. Nàng lúc đó là một đại mỹ nhân trên ảnh đàn. Tôi và nàng vương vấn nhau qua mối tình nghề thuật, đó là một mối tình khó nắm bắt nhưng lại khắc cốt ghi tâm. Năm 1954, Hạ Mộng lấy chồng nơi xứ lạ, sang Canada sinh sống, chấm dứt mối tình nghệ thuật với tôi. Khi nàng ra đi, tôi đã viết tặng nàng một tác phẩm có tên là “Xuân Mộng của Hạ Mộng”. Còn người đàn bà đau khổ vì tôi nhất là Chu Mai, người mà cho đến bây giờ tôi luôn có cảm giác mình là kẻ tội đồ trước mặt cô, chẳng khác gì Dương Khang trong “Anh Hùng Xạ Điêu”.


    Nỗi đau khổ lớn nhất trong đời: Cái chết của đứa con


    Đứa con trai lớn của Kim Dung- Tra Truyền Hiệp tự tử chết năm 19 tuổi. Đó là nỗi đau lớn nhất trong đời của ông. Từ nhỏ, Tra Truyền Hiệp đã có tài viết văn giống như cha. Năm 11 tuổi, cậu đã có bài luận văn nói về sự khổ ải của đời sống. Cậu cho rằng cuộc đời là sự đau khổ va vô vị, nếu như sống trên dời mà không có hỷ nộ ái ố thì đời sẽ thanh tịnh và vui vẻ hơn. Nhiều người đã khuyên Kim Dung nên ngăn chặn cách nghĩ của con trai mình vì đó là tư tưởng tiêu cực không tốt cho cuộc sống cuủ một đứa trẻ song ngược lại ông lại ủng hộ cách nghĩ của con trai mình và ông còn cho rằng đó là sự suy nghĩ đúng đắn. Nhưng chính vì tư tưởng chán sự phức tạp của đời sống đã gián tiếp đẩy Tra Truyền Hiệp đến cái chết. Cậu ra đi khi tuổi thanh xuân vừa đến, cả một tương lai xán lạn đang chờ đợi và bỏ lại sau lưng những giọt nước mắt đau đớn của cha mình. Kim Dung đã đem nỗi đau ấy viết lên câu chuyện “Cách Lâm Đồng Thọai” để tự an ủi bản thân. Sau khi con trai mất, năm 1991, Kim Dung đã bán lại tạp chí Minh Báo cho thương gia Vu Phẩm Haả và lý do để ông bán tờ báo cho vị thương gia trẻ tuổi ấy vì cậu ta có khuôn mặt giống y như đứa con trai của ông.


    Cuộc sống hiện nay


    Hiện nay, Kim Dung sống rất bình dị, thời gian của ông chủ yếu là để biên tập lại những bộ sách cũ, soạn bài để thuyết giảng tại các trường đại học, đôi khi ông được các đài truyền hình mời lên phỏng vấn và có khi hàng mấy tháng trời ông phải nói đi nói lại một chuyên mục là bình phẩm các tác phẩm của mình trên màn ảnh.


    Kim Dung và Lệnh Hồ Xung: Lệnh Hồ Xung u sầu!

    Theo như Kim Dung, Lệnh Hồ Xung là người đàn ông buồn rầu nhất trong các tiểu thuyết của ông. Lý tưởng sống của Lệnh Hồ Xung rất đơn giản. Chỉ cần có ruợu uống, được cùng tiểu sư muội Nhạc Linh San ngồi đếm sao là đã mãn nguyện. Nhưng ông lại ép Lệnh Hồ Xung bị thất tình, bị cuốn vào vòng xoáy của võ lâm và Lệnh Hồ Xung trượt dài trong u sầu, sống không mục đích. Ông đã tạo một nhân vật có tính cách anh hùng, hào hiệp nhưng chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống. Nhiều người cho rằng ông ví mình là Lệnh Hồ Xung, nhưng trong một cuộc đàm đạo gần đây trên truyền hình, Kim Dung tiết lộ: Lệnh Hồ Xung chỉ là ông trước khi biết yêu. Sau khi biết yêu, ông chính là Dương Khang (trong “Anh Hùng Xạ Điêu”). Đây là một cú sốc lớn gây ngạc nhiên cho đọc giả trung thành của Kim Dung.


    (ĐATP)



    Được sửa lần cuối bởi katkatt vào ngày April 11th 2006, 3:47 am với 1 lần trong tổng số.
  • katkatt

    April 11th 2006, 3:40 am
  • Nhà văn Kim Dung từ chức Viện trưởng



    Những ngày qua, dư luận Trung Quốc xôn xao với việc tiểu thuyết gia Kim Dung đột ngột tuyên bố từ bỏ ghế Viện trưởng Nhân văn Đại học Triết Giang. Có ý kiến cho rằng, Kim Dung đã ngồi nhầm ghế và việc ông ra đi là đúng và tốt cho nhiều phía



    Trước đó một tháng, ông cũng từng gây bất ngờ khi tuyên bố: "Tôi có nhận mấy nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Viện Nhân văn nhưng họ kém quá, tôi không muốn kèm họ nữa, tôi cũng sẽ từ chức Viện trưởng". Ngay sau khi ông tuyên bố từ chức giảng viên, cô Chu Hiểu Chinh, một trong ba nghiên cứu sinh ở Viện Nhân văn, là học trò của ông, phát biểu: "Việc Tra tiên sinh xin từ chức giáo viên có liên quan đến việc tôi phản đối phương thức giáo dục của ông ấy. Tôi muốn hòa giải với ông".

    Xung quanh sự kiện Kim Dung từ chức có nhiều dư luận khác nhau, nhưng phần đông đều cho rằng, cái gì đến đã đến, Kim Dung đã ngồi nhầm ghế và việc ông ra đi là đúng và tốt cho nhiều phía. Giáo sư Đồng Kiện, Viện trưởng Văn học ĐH Nam Kinh, nói: "Một vụ ngồi nhầm ghế đã kết thúc. Tôi rất thích đọc tiểu thuyết của Kim Dung, nhưng ông chỉ là một người viết truyện chưởng, ngay hồi đó tôi đã cho rằng vị trí Viện trưởng Nhân văn rất không thích hợp với ông". Việc Kim Dung nhận xét các học trò của mình kém cỏi rồi bỏ đi đã gây phẫn nộ cho các nghiên cứu sinh. Một người nói: "Học trò đều do thày tự chọn, nếu họ kém thì ông ấy có thể phê bình, thậm chí không thông qua luận văn, chứ không thể phủi tay bỏ đi như thế".

    Ông Phó Quốc Dũng, tác giả cuốn Kim Dung truyện, nói: "Vấn đề của Kim Dung là ông quá hy vọng được mọi người biết tới mình với cương vị một học giả lịch sử. Trong khi thực ra với 14 bộ tiểu thuyết, ông đã là một tên tuổi lừng lẫy rồi, hà tất phải chạy khắp nơi để tìm kiếm thanh danh. Nếu ông bớt tham gia những sự vụ không cần thiết, cứ ngồi nhà nghỉ ngơi thì chắc chắn sự sùng kính và tình cảm tốt đẹp của mọi người dành cho ông còn hơn hiện nay rất nhiều".


    Theo Tiền Phong


    Kim Dung từ chức không phải vì vấn đề học vấn

    Ngày 10/1, nhà văn viết truyện kiếm hiệp lừng danh được mời đến triển lãm "Long tuyền bảo kiếm" do Đại học Triết Giang tổ chức. Tại đây, các phóng viên có cuộc phỏng vấn về vấn đề ông xin từ chức, đang gây nhiều tranh cãi hiện nay



    Kim Dung thừa nhận việc ông viết thư xin từ chức Viện trưởng Nhân văn Đại học Triết Giang nhưng ông kiên quyết phủ nhận nguồn tin cho rằng việc ông nhận chức Viện trưởng là "ngồi nhầm chỗ". Ông cho biết, ngoài kiến thức khoa xã hội học ông không hiểu biết nhiều, còn 6 khoa khác của Viện là tân văn, trung văn, nghệ thuật, lịch sử, văn hoá quốc tế, triết học ông đều "đã nghiên cứu". Ông muốn rời Viện Nhân văn vì ba lý do chính. Một là tuổi đã cao, muốn người trẻ tuổi có thể đảm nhận chức vị này, hai là không thích công việc hành chính và ba là so với việc dạy người khác, ông thích học người khác hơn.

    Ông Trương Tuấn Sinh, cựu bí thư Đảng uỷ ĐH Triết Giang, cho biết: "Trong 6 năm qua, Kim Dung đóng góp rất lớn cho Triết Giang. Người giữ chức Viện trưởng cần đạt được ba yêu cầu là có thể dẫn đầu việc nghiên cứu khoa học, tổ chức hội nghị học thuật trong và ngoài nước và hướng dẫn nghiên cứu sinh. Những điều này Kim Dung đều làm rất tốt". Ông Trương cũng tiết lộ, việc Kim Dung từ chức có liên quan đến ông vì khi nhậm chức, Kim Dung đã nói với ông rằng: "Tôi với ông cùng tiến cùng lui". Bây giờ ông Trương đã về hưu.

    Tuy Kim Dung đã xin từ chức, nhưng phía trường vẫn muốn giữ ông. Có khả năng ông sẽ tiếp tục giữ chức Viện trưởng trong hai năm nữa, nhưng công việc có thể giảm bớt.

    Tuy nhiên bất luận kết quả cuối cùng thế nào, Kim Dung nói, ông vẫn tiếp tục hướng dẫn nghiên cứu sinh cho đến khi tốt nghiệp và khẳng định các "đệ tử" này sẽ thành danh. Câu nói này của ông nhằm phủ nhận một số báo chí đã tung tin rằng ông chê học trò của mình. Từng có báo dẫn lời của ông cho biết mấy nghiên cứu sinh tiến sĩ ông đang hướng dẫn quá kém và không muốn hướng dẫn họ nữa. Từ năm 2000, ông đã được giao hướng dẫn nghiên cứu sinh nhưng đến năm 2001 mới bắt đầu. Trong hai năm liền ông không "chiêu sinh" được mà đến tận mùa thu năm 2003, ông mới nhận 3 học trò. Ông cho biết: "Hai năm đầu không chiêu sinh được là do "tố chất học trò không đủ tốt". "Ba học trò hiện nay của tôi đều rất tốt, không có chuyện tôi chê họ như bên ngoài đang đồn đại", ông khẳng định.


    Theo Netnam



    Nhà văn Kim Dung dùi mài kinh sử



    Sau khi nhận được bằng thạc sĩ danh dự của Đại học Cambridge (Anh) hôm 22/6, tác giả của những bộ truyện kiếm hiệp lừng danh tuyên bố sẽ theo học 4 năm tại ngôi trường này để lấy bằng thạc sĩ và tiến sĩ.



    Khi được hỏi tại sao lại chọn Cambridge để tiếp tục học tập, Kim Dung nói: "Tôi đi học vì kiến thức chứ không vì bằng cấp. Khi còn là Viện trưởng Nhân văn Đại học Triết Giang, nhiều người cho rằng tôi không xứng đáng vì không có học vị. Tôi thật chẳng biết phải nói gì về những lời như thế. Điều duy nhất tôi có thể làm là nâng cao kiến thức của mình".

    Kim Dung khẳng định, ông theo học tại Đại học Cambridge không phải vì bị những phê phán thúc đẩy. Ông tuyên bố: "Tôi không học vì người khác. Khi bị phê bình, tôi sẽ sửa nếu thấy điều đó đúng. Còn nếu không đúng, tôi coi đó là sự khích lệ cho bản thân mình".

    Đại học Cambridge đang "bối rối" khi phải tìm một giảng viên phù hợp cho Kim Dung. Nhà văn đã liên hệ với giáo sư Mai Dawei chuyên nghiên cứu lịch sử đời Đường nhưng vị giáo sư này tỏ ra rất miễn cưỡng. Kim Dung nói: "Giáo sư Mai đã từ chối đề nghị của tôi, với lý do ông không đủ tài. Nhưng tôi rất ngưỡng mộ ông và nói rằng, tôi muốn được ông chỉ bảo".

    Đến nay, Đại học Cambridge vẫn chưa quyết định có nhận tiểu thuyết gia nổi tiếng của Trung Quốc theo học hay không. Khoá học sớm nhất Kim Dung có thể tham gia sẽ khai giảng đầu tháng 10. Ông muốn học lịch sử các vương triều Đường, Minh của Trung Quốc, lịch sử châu Âu và lịch sử Hy Lạp.

    (Theo VnExpress)

  • katkatt

    June 3rd 2006, 10:30 pm
  • Edogawa Rampo


    (1894 - 1965)



    Edogawa Rampo (江戸川 乱歩 Edogawa Ranpo), born Hirai Tarō (平井 太郎 Hirai Tarō, October 21, 1894 - July 28, 1965) was a Japanese author and critic. He wrote many works of detective fiction. Kogoro Akechi was the primary detective of these novels.

    Rampo was a great admirer of western mystery writers, and especially of Edgar Allan Poe. The pseudonym "Edogawa Rampo" is actually a Japanese rendering of Poe's name. Other authors who were special influences on him were Maurice Leblanc and Sir Arthur Conan Doyle.

    In the anime and manga Case Closed (Detective Conan in Japan), the main character, Jimmy Kudo (Shin'ichi Kudo in the Japanese version), chooses the alias Conan Edogawa, named after Doyle and Edogawa.

    Rampo appears as the main character of the 1994 film, The Mystery of Rampo.

    The 2005 film Rampo jigoku, starring Tadanobu Asano, features four of his short stories put to film.


    http://en.wikipedia.org/wiki/Edogawa_Rampo

  • LienHuong

    July 12th 2006, 12:02 am
  • Gần đây, LienHuong mê đọc chuyện của Nguyễn Ngọc Tư quá chừng, văn của NNT không trau chuốt màu mè mà mộc mạc gần gủi ... Như lời NNT tâm sự: "Tôi thấy văn chương của mình ( và cả bản thân mình) sao giống trái sầu riêng quá trời, có người thích, khen thơm, có người bưng mũi quay đi vì chê nó nặng mùi. Nhưng khi bắt đầu kết trái, sầu riêng đâu định trước sẽ dâng tặng cho riêng ai, nên chẳng bẻ mình bẻ mẩy để lấy lòng người ..."
    Đây là bài viết về NNT mà LH sưu tầm được:



    Nguyễn Ngọc Tư, Chuyện Mới Nghe Qua
    Huỳnh Kim

    Một ngày cuối năm 2005, nhà thơ Lê Chí, cùng quê Cà Mau với nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, nói tôi viết một bài ngắn cho báo Doanh nhân Sài Gòn Tết năm nay về Nguyễn Ngọc Tư giùm vì anh đã nhận lời với báo mà hổng rành cô Tư lắm. Tôi nói, tôi chỉ quen cô Tư qua chuyện… đặt cổ viết bài mà thôi. Nhưng tôi cũng hẹn với anh Lê Chí là để thử xem rồi gọi điện thoại nói lại hết với Nguyễn Ngọc Tư như vậy, xong gởi cổ một mớ câu hỏi để có thêm thông tin mới. Hổng dè ngay hôm sau tôi nhận được hồi âm của tác giả truyện ngắn “Cánh đồng bất tận”, một phụ nữ 29 tuổi vừa làm “dậy sóng” trong làng văn nghệ nước nhà năm 2005, cũng với cái truyện này. Thấy nhiều thông tin cũng cũng hay hay, tôi bèn bỏ ý định viết bài và xin được chép lại y nguyên chuyện này gởi về tòa soạn.

    - Nghe nói Tư không biết rõ ngày sanh tháng đẻ của mình, chỉ nhớ là sanh trong đêm nên Tư có nước da màu đen, nhưng mà có duyên. Tư có soi gương thấy mình dễ thương không?

    - Có chứ, em hay nghĩ mình tuy xấu nhưng có duyên ngầm. Có điều hơi cục mịch và không biết xử sự, hơi thất thường, sớm nắng chiều mưa. Khi em sinh con trai, thấy nó ốm nhằng, xấu òm, em lại nghĩ thương má, hồi nhỏ em xấu tệ, xấu đau xấu đớn, út mót mà. Chắc má cũng buồn… Giống như mình. Nhưng không sao, hồi nhỏ, ít nhất má cũng được tự hào vì em học khá giỏi, ở xóm trầm trồ khen hoài. Lớn lên cũng lại làm thêm nhiều chuyện… giỏi nữa, chắc là em đã bù đắp được rồi, cho má, cho ba.

    - Hồi nhỏ Tư học hành ra làm sao?

    - Giỏi. Nhưng lên lớp 6 thì môn toán dở èm. Ông thầy mặt xanh lét ốm nhòng như bị nghiện, dạy lại lừ đừ nên có đứa bạn em… rượt ổng chạy dài. Ổng chạy, bỏ lại em với môn toán mất căn bản trầm trọng.

    - Từ nhà tới trường, có băng qua những “cánh đồng bất tận” nào không?

    - Nhà em cách trường khoảng năm cây số, đi bộ. Nhằm bữa tan học gặp ba đi xe đạp về, ba rủ mà em không chịu lên xe, em nghĩa khí, em không thể để nhỏ bạn (mà em kêu bằng chế, dì, bà con xa) đi bộ một mình. Tụi nó cũng vậy.

    - Có gặp cái anh nào tán tỉnh mình hay là gặp cái ông nào mà mình ấn tượng gì không?

    - Hồi đi học em như cây củi, khô đét, đen đúa, cứng cỏi như con trai, thằng nào đui mới dám xáp vô. Mà tuổi học trò ngày xưa khùng khịu lắm, khác bây giờ.

    - Hay là ngoại, cha, mẹ… dạy cái gì mình quá nhớ thời học trò đó?

    - Lúc chưa đi học, em ở nhà ngoại. Một đôi lần em ăn cắp… tiền. Nguyên cái xóm chỉ ngoại em bán tạp hoá, kẹo bánh nên lấy tiền cũng chẳng làm gì, cũng trả lại, nhưng lâu lâu lại nhìn tủ tiền, thòm thèm. Có lẽ cuộc sống nghèo khó của gia đình lúc đó làm em có tâm lý muốn sở hữu một cái gì đó, thiết thực. Và bây giờ đôi khi thấy mình… ham tiền thì cũng hợp lý thôi.

    Có một chuyện mà em hối hận suốt đời. Hồi chăm sóc ông ngoại, em bận nấu cơm, rồi cắt, bó rau rồiquẩn quanh với nhiều công việc khác mà em ít nói chuyện với ông ngoại. Nhà thì rộng, ông đi đứng khó khăn nên không thể lại đằng xóm chơi. Em nhiều khi quạu quọ, nhiều khi dọn cơm ra bỏ đó rồi đi chỗ khác. Nhiều khi ông ngoại hỏi chuyện này nọ, em nạt ngang. Khi ông ngoại mất, em nhận ra, kỷ niệm là thứ không thể chỉnh sửa.

    - Nghe nói Tư đang học tiếng Anh?

    - Có, nhưng em đang tính nghỉ. Em không theo nổi. Chương trình học quá lạ lẫm, em lại có quá nhiều chuyện để làm. Ngoại ngữ là môn không thể vắng mặt, không nghỉ được, vì bỏ một buổi là không theo kịp. Vào học, nghĩa là đầu óc không thể thảnh thơi để nghĩ ngợi bất cứ cái gì, cứ lấm lét sợ ông thầy gọi bắt đọc mấy tiếng anh xì xồ. Học mới một tháng mà em bị stress rồi, ngủ trưa ngủ tối gì cũng không được, phải uống “Hoạt huyết dưỡng não” để ngủ, sụt mất hai ký lô.

    - Ngoài việc ở Hội Văn nghệ Cà Mau, làm “nghị sĩ” của tỉnh, người ta giao cho Tư công chuyện gì vậy? Có lần Tư bảo “làm cho biết”, là làm sao?

    - Đó là công việc tệ nhất của em. Em luôn thấy ngán ngẫm mỗi khi vào kỳ họp. Em hoàn toàn không làm tròn trách nhiệm dân cử, cơ quan cũng phàn nàn sao chẳng thấy em nói gì ở diễn đàn cho văn nghệ sĩ dễ thở một chút. Nhưng em cảm thấy bất lực, em có cảm giác không chống được guồng máy đã gài chế độ chạy tự động. Đó, “làm cho biết” là vậy đó.

    Em định xin ra khỏi Hội đồng Nhân dân nhưng người ta bảo, muốn ra cũng phải nghị quyết này nọ, mất công lắm, rốt cuộc, em là “nghị sĩ vật vờ”, “hội đồng ừ”.

    - Nghe nói Tư thích nghe nhạc khi viết lách?

    - Không. Trước khi viết thì em nghe bài nào đó buồn buồn cho nó lắng bớt cảm xúc xuống chớ không thì nó nổi trôi hết. Còn khi viết thì không nghe gì hết.

    - Nhà của Tư sát sông Cà Mau, rộn rã xuồng ghe suốt ngày đêm thì làm sao viết được?

    - Khi viết thì em không nghe thấy gì nữa. Cho nên ở bất cứ chỗ nào cũng viết được.

    - Tư thích chơi với ai nhất? Có nhớ, có nghĩ lai rai tới ai không?

    - Em thích chơi với mình, trong một khoảng lặng nào đó. Nếu bạn bè là từng quen biết, ăn uống chung, tặng sách cho nhau thì em có đầy, nhưng một người bạn đúng nghĩa thì không. Người hiểu em cũng ít. Dường như một vài người gì đó có vẻ hiểu em, nhưng lại buột miệng là hiểu Tư quá trời. Vậy có nghĩa là không hiểu em gì hết, em rất bực khi cảm giác mình nghĩ gì làm gì anh kia cũng biết tỏng tòng tong, vậy thì em sống làm gì, mắc công. Vậy đó, tưởng hiểu, cuối cùng có hiểu gì đâu.

    Về cái khoản “nhớ lai rai”, có phải anh hỏi lãng đãng một thứ tình ngoài vợ chồng? Có, nhưng một mình em quyết định và điều chỉnh nó. Ông nào dù dễ thương mấy mà sấn tới là em rút lui, em bỏ chạy. Em cần giữ khoảng cách an toàn, em chỉ chơi với những người mà mình thật sự tin tưởng, an tâm. Mà yêu thêm cũng chỉ là một trò chơi, và nó gây thương tổn cho rất nhiều người, vậy thì tại sao mình không chọn trò ít đau thương hơn, vui vẻ hơn.

    - Tư thường lục lọi trong sách báo mỗi ngày ra làm sao?

    - Toàn đọc báo có hình nhiều, nhất là những báo điện ảnh và phụ nữ, thời trang. Đọc sách nhiều, chữ đã mòn con mắt em rồi. Nên với báo chí, em đọc những gì nhẹ nhàng thôi.

    - Thích xem ti-vi chương trình gì nhất?

    - Hoạt hình.

    - Không thích xem gì?

    - Phim Đài Loan.

    - Có thích xem “Thu Cúc đi kiện”, “Đèn lồng đỏ treo cao”, “Anh hùng”, “Thập diện mai phục”… của Trương Nghệ Mưu không?

    - Không, xem thì thấy hay, nhưng không thích. Em thích phim tình cảm và hoạt hình Mỹ, nhiều phim nhân bản lắm. Anh xem “Nê-mô”, “Cô dâu ma” hay “Thời kỳ băng giá” chưa? Dễ thương lắm. Em rất thích Judy Low, vì anh này đẹp trai. Em vừa xem xong “Núi lạnh”, khóc đã đời luôn. Em cũng thích phim Hàn Quốc, cái cách người trong gia đình họ đối xử với nhau mới dễ thương làm sao.

    - Nói một chút về “tủ sách Nguyễn Ngọc Tư” trong trang web của anh Trần Hữu Dũng (*) đi? Có hay lục lọi trong Internet như đọc sách thường ngày không?
    - Trang riêng này của thầy Dũng em vô có một lần. Bởi nó chứa tất cả những gì mà em đã biết, nên chẳng có gì để tò mò. Em sử dụng Internet chủ yếu là gửi và nhận mail, em sợ… tốn tiền nhiều. Mù tịt về Internet nhưng rành mấy trang web về điện thoại, nhất là khi chuẩn bị mua điện thoại… mới (em là chuyên gia mất điện thoại mà).
    - Anh nên chấm hết bài viết mà anh Lê Chí nói dài cỡ hai ngàn chữ ấy về Tư ra sao đây?
    - Tết này em sẽ đi chơi mút mùa, bù lại năm trước mùng hai là thằng con nổi trái rạ tới rằm tháng Giêng, Tết trong căn nhà kín gió. Với lại năm nay, nhờ cánh đồng bất tận mà em có chút đỉnh tiền, phải làm sao cho tưng bừng chớ.
    Tôi đã cẩn thận gởi bản thảo này để cô Tư coi lại. Và khi nhận hồi âm, tôi chú ý cổ không sửa mấy chữ “cánh đồng bất tận” sau cùng như là tên của cái truyện ngắn có nhiều dư luận của tác giả Nguyễn Ngọc Tư./.

    --------------------------

  • LienHuong

    July 12th 2006, 12:21 am
  • Những tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư:

    Ba Bé Ngoan Về
    Biển Cạn
    Biển Người Mênh Mông
    Bởi Yêu Thương
    Cánh Đồng Bất Tận
    Chiều Vắng
    Chợ Nổi Cà Mau – chút tình sông nước
    Cửa Sau
    Cuối Mùa Nhan Sắc
    Dòng Nhớ
    Duyên Phận So Le
    Đất Mũi Mù Xa
    Đau Gì Như Thể...
    Đi Qua Những Cơn Bão Khô
    Đời Như Ý
    Giàn Bầu Trước Ngõ.
    Giao Thừa
    Gió Mùa Thao Thức
    Hiu Hiu Gió Bấc
    Huệ Lấy Chồng
    Làm Mẹ
    Lời Nhắn
    Lụm Còi
    Lương
    Lý Con Sáo Sang Sông
    Mơ Hết
    Mối tình năm cũ
    Một Mái Nhà
    Một Mối Tình
    Một Trái Tim Khô
    Ngày Đùa
    Ngọn Đèn Không Tắt
    Ngổn Ngang
    Người Dưng Làm Má
    Người Mẹ Vườn Cau
    Người Xưa
    Nhà Cổ
    Nhớ Sông
    Nửa Mùa
    Nước Chảy Mây Trôi
    Ông Ngoại
    Qua Cầu Nhớ Người
    Sân Nhà
    Tắm Sông
    Tháng Chạp Ở Rạch Bộ Tời
    Thương Quá Rau Răm


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group