Vài nét về nhà Trần (1225 - 1400) - unknown

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • Trần Thái Tông (1218- 1277)
    Trần Thái Tông là vị vua đầu tiên có công mở nghiệp nhà Trần. Tên thật là Trần Cảnh, sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần 1218. Quê hương Tức Mạc, Phủ Thiên Trường nay là xã Lộc Vượng thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
    Theo gia phả, tổ tiên nhà Trần là Trần Kính, gốc làm nghề chài lưới, rất giỏi sông nước, ở hư­ương Tức Mạc, phủ Thiên Trường, Trần Kính sinh Trần Hấp.

    Trần Hấp sinh Trần Lý. Trần Lý sinh Trần Thừa. Trần Thừa sinh Trần Liễu và Trần Cảnh.

    Trần Cảnh rất thông minh, học giỏi,tướng mạo khôi ngô. Năm 8 tuổi được chú ruột là Trần Thủ Độ đưa vào cung hầu cận Lý Chiêu Hoàng. Sau lấy Lý Chiêu Hoàng làm vợ.

    Ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu 1225, Lý Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Ngày 11 tháng 12 năm 1225 Trần Cảnh chính thức lên ngôi Hoàng đế mở nghiệp nhà Trần. Đặt niên hiệu là Kiến Phong.

    Đã 12 năm mà Hoàng hậu Lý Chiêu Hoàng vẫn ch­ưa có con để kế vị ngai vàng. Trần Thủ Độ ép Trần Thái Tông lập Thuận Thiên Công chúa, vợ Trần Liễu lên làm Hoàng Hậu. Việc này gây mối bất hoà giữa hai anh em Trần Liễu và Trần Cảnh, nhưng sau cũng giải hoà được.

    Hoàng hậu Thuận Thiên sinh ra được Trần Hoảng, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Ích Tắc, Trần Vĩnh.

    Triều Trần vừa mới mở nghiệp đã phải đối mặt với cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ. Đế quốc Nguyên Mông đã đánh chiếm được hầu hết châu Á và rất nhiều nước châu Âu, từ bờ Thái Bình D­ương đến Hắc Hải.

    Ngày 12 - 12 - 1257 quân Mông Cổ do tướng Ngột Lương Hợp Thai đem hơn 10 vạn quân tràn vào biên giới xâm lược nước ta. Trần Thái Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt chống trả thắng lợi cuộc xâm lược lần thứ I của quân Mông Cổ, đem lại thanh bình, giữ vững độc lập cho đất nước.

    Ngày 24 - 2 năm Mậu Ngọ 1258 vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho con tr­ưởng là Trần Hoảng để làm Thái Thượng Hoàng.

    Trần Thái Tông là vị vua nhân từ, văn võ toàn tài, biết trị quốc, an dân. Ông là ng­ười ham nghiên cứu đạo Phật, làm nhiều thơ văn, là một tác gia xuất sắc nhất của nền văn học Phật giáo Việt Nam thế kỷ 13. Dưới triều đại ông quân sự, kinh tế, văn hoá, chính trị, tôn giáo đều phát triển.

    Những tác phẩm chính trị của ông: Khoá hư lục - Kiến trung thường lệ - Lục thì sám hối - Khoa nghị - Quốc triều thông chế - Tựa kinh kim cương - Tựa Thiên Tông chỉ nam tự.

    Ngày 11 tháng 4 năm Đinh Sửu 1277 Trần Thái Tông mất, thọ 59 tuổi trị vì 33 năm, làm Thái Thượng Hoàng 19 năm.

    Lại nói thêm :
    Niên hiệu: Kiến Trung (1225-1237). Thiên Ứng Chính Bình (1238-1350). Nguyên Phong (1251-1258).

    1. TRẦN THỦ ĐỘ. Tháng Chạp năm Ất Dậu (1225) Trần Cảnh lên làm vua, tức là Trần Thái Tông phong cho Trần Thủ Độ làm Thái sư Thống quốc hành quân chinh thảo sự.

    Bấy giờ vua Thái Tông mới có 8 tuổi, việc gì cũng do ở Trần Thủ Độ cả. Thủ Độ tuy là một người không có học vấn nhưng thật là một tay mưu lược, chủ ý cốt gây dựng cơ nghiệp nhà Trần cho bền chặt, cho nên dẫu việc đến đâu, cũng làm cho được. Lý Huệ Tông tuy đã xuất gia đi ở chùa rồi, nhưng Thủ Độ vẫn định bụng giết đi, cho khỏi sự lo về sau.

    Một hôm, Huệ Tông ngồi nhổ cỏ ở sân chùa Chân Giáo, Thủ Độ đi qua trông thấy, mới nói rằng: "Nhổ cỏ thì phải nhổ cả rễ cái nó đi" Huệ Tông nghe thấy phủi tay nói rằng: "Nhà ngươi nói ta hiểu rồi". Được mấy hôm Thủ Độ cho người đến mời Huệ Tông, Huệ Tông biết ý, vào nhà sau thắt cổ tự tận. Thủ Độ đưa bách quan đến tế khóc xong rồi hoả táng, chôn ở tháp Bảo Quang.

    Còn Thái hậu là Trần thị giáng xuống làm Thiên Cực công chúa để gả cho Trần Thủ Độ (Trần Thủ Độ và Thiên Cực công chúa là hai chị em họ). Bao nhiêu những cung nhân nhà Lý thì đưa gả cho những tù trưởng các mường.

    Thủ Độ đã hại Huệ Tông rồi, lại muốn trừ nốt các tôn thất nhà Lý. Đến năm Nhâm Thìn (1232) nhân làm lễ tế Tiên hậu nhà Lý ở thôn Thái Dương, làng Hoa Lâm (huyện Đông Ngạn, tỉnh Bắc Ninh), Thủ Độ sai đào hầm, làm nhà lá ở trên, để đến khi các tôn thất nhà Lý vào đấy tế lễ, thì sụt cả xuống hố, rồi đổ đất chôn sống cả.

    Thủ Độ chỉ lo làm thế nào cho ngôi nhà Trần được vững bền, cho nên không những tàn ác với nhà Lý thôi, đến luân thường ở trong nhà, cũng làm loạn cả. Chiêu Thánh hoàng hậu lấy Thái Tông đã được 12 năm mà vẫn chưa có con . Thủ Độ bắt Thái Tông bỏ và giáng làm công chúa, rồi đem người chị bà Chiêu Thánh tức là vợ Trần Liễu vào làm hoàng hậu, bởi vì người chị đã có thai được 3 tháng.

    Làm loạn nhân luân như thế, thì từ thượng cổ mới có là một. Trần Liễu tức giận đem quân làm loạn. Vua Thái Tông bị Thủ Độ hiếp chế như thế, trong bụng cũng không yên, đến đêm trốn ra, lên ở chùa Phù Vân, trên núi Yên Tử (huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên). Trần Thủ Độ biết tin ấy, đem quần thần đi đón Thái Tông về. Thái Tông không chịu về, nói rằng: "Trẫm còn nhỏ dại, không kham nổi việc to lớn, các quan nên chọn người khác để cho khỏi nhục xã tắc". Thủ Độ nói mãi không nghe, ngoảnh lại bảo bách quan rằng: "Hoàng thượng ở đâu là triều đình ở đấy!". Nói đoạn, truyền sắp sửa xây cung điện ở chùa Phù Vân. Quốc sư ở chùa ấy thấy thế, vào van lạy Thái Tông về triều, Thái Tông bất đắc dĩ truyền xa giá về Kinh.

    Được ít lâu Trần Liễu biết sức mình không làm gì nổi, bèn nhân lúc Thái Tông ngự thuyền đi chơi, giả làm người đánh cá lẻn xuống thuyền ngự xin hàng. Hai anh em ôm nhau mà khóc. Thủ Độ nghe tin, đến rút gươm toan giết Trần Liễu, Thái Tông can mãi mới thôi. Sau Thái Tông lấy đất Yên Phụ, Yên Đường, Yên Sinh và Yên Bang (ở huyện Đông Triều và phủ Kinh Môn, Hải Dương) cho Trần Liễu làm thái ấp và phong cho làm An Sinh Vương.

    Thủ Độ đã hại hết cả dòng dõi nhà Lý, lại muốn cho hậu thế không ai nhớ đến họ Lý nữa mới nhân vì Tổ nhà Trần tên là Lý, bắt trong nước ai là họ Lý đều phải cải là họ Nguyễn.

    Thủ Độ thật là người gian ác đối với nhà Lý, nhưng lại là một người đại công thần của nhà Trần. Một tay cáng đáng bao nhiêu trọng sự, giúp Thái Tông bình phục được giặc giã trong nước và chỉnh đốn lại mọi việc, làm cho nước Nam ta bấy giờ được cường thịnh, ngày sau có thể chống cự với Mông Cổ, khỏi phải làm nô lệ những kẻ hùng cường.

    2. VIỆC ĐÁNH DẸP GIẶC GIÃ. Nước An Nam từ khi vua Cao Tông nhà Lý thất chính, trong nước chỗ nào cũng có giặc giã. Ở mạn Quốc Oai thì có giặc Mường làm loạn, ở Hồng Châu thì có Đoàn Thượng chiếm giữ đất Đường Hào, tự xưng làm vua. Ở Bắc Giang thì có Nguyễn Nộn độc lập xưng vương ở làng Phù Đổng. Ấy là một nước mà chia ra làm mấy giang sơn.

    Khi Trần Thủ Độ đã thu xếp xong việc cướp ngôi nhà Lý rồi, mới đem quân đi đánh dẹp. Trước lên bình giặc Mường ở Quốc Oai, sau về đánh bọn Đoàn Thượng và Nguyễn Nộn. Nhưng thế lực hai người ấy mạnh lắm, Trần Thủ Độ đánh không lại, bèn chia đất phong cho hai người làm vương để giảng hoà.

    Năm Mậu Tý (1228) Nguyễn Nộn đem quân đánh Đoàn Thượng, chiếm giữ lấy đất Đường Hào, thanh thế lừng lẫy. Trần Thủ Độ đã lấy làm lo. Nhưng chỉ được mấy tháng thì Nguyễn Nộn chết. Từ đó các châu huyện trong nước lại thống hợp làm một.

    3. VIỆC CAI TRỊ. Cứ theo phép nhà Lý thì làng nào có bao nhiêu người đi làm quan văn, quan võ, thơ lại, quân lính, hoàng nam, lung lão, tàn tật và những người đến ở ngụ cư, hay là những người xiêu lạc đến ở trong làng, thì xã quan phải khai vào cả quyển sổ gọi là trướng tịch. Ai có quan tước mà có con được thừa ấm thì con lại được vào làm quan, còn những người giàu có, mà không có quan tước thì đời đời cứ phải đi lính. Thái Tông lên làm vua phải theo phép ấy, cho nên đến năm Mậu Tý (1288) lại sai quan vào Thanh Hoá làm lại trướng tịch theo như lệ nhà Lý ngày trước.

    Năm Nhâm Dần (1242) Thái Tông chia nước Nam ra làm 12 lộ. Mỗi lộ đặt quan cai trị là An Phủ sứ chánh phó 2 viên. Dưới An Phủ sứ có quan Đại tư xã và Tiểu tư xã. Từ ngũ phẩm trở lên thì làm Đại tư xã, lục phẩm trở xuống thì làm Tiểu tư xã, mỗi viên cai trị, hoặc hai xã, hoặc ba bốn xã. Mỗi xã lại có một viên xã quan là Chánh sử giám.

    Lộ nào cũng có quyển dân tịch riêng của lộ ấy.

    4. VIỆC THUẾ MÁ. Người trong nước phân ra từng hạng: con trai từ 18 tuổi thì vào hạng Tiểu hoàng nam, từ 20 tuổi vào hạng Đại hoàng nam. Còn 60 tuổi trở lên thì vào Lão hạng.

    Thuế thân: Thuế thân thời bấy giờ tùy theo số ruộng mà đánh, ai có một hai mẫu thì phải đóng một năm một quan tiền thuế thân; ai có ba bốn mẫu thì đóng hai quan; ai có năm mẫu trở lên thì đóng ba quan. Ai không có mẫu nào thì không phải đóng thuế.

    Thuế ruộng: Thuế ruộng thì đóng bằng thóc, cứ mỗi một mẫu thì chủ điền phải đóng 100 thăng thóc.

    Còn như ruộng công, thì có sách chép rằng đời nhà Trần có hai thứ ruộng công, mỗi thứ phân làm ba hạng.

    1. Một thứ gọi là ruộng quốc khố: Hạng nhất mỗi mẫu đánh thuế 6 thạch 80 thăng thóc; hạng nhì mỗi mẫu 4 thạch; hạng ba mỗi mẫu 3 thạch.

    2. Một thứ gọi là Thác điền: Hạng nhất mỗi mẫu đánh thuế một thạch thóc; hạng nhì ba mẫu lấy 1 thạch; hạng ba 4 mẫu lấy một thạch

    Còn ruộng ao của công dân thì mỗi mẫu lấy 3 thăng thóc thuế.

    Ruộng muối phải đóng bằng tiền.

    Các thứ thuế: Có sách chép rằng nhà Trần đánh cả thuế trầu cau, thuế hương yên tức, và tôm, cá, rau, quả gì cũng đánh thuế cả.

    Còn như vàng bạc tiêu dùng trong nước thì tiêu dùng bằng phân, lượng đã đúc sẵn, có hiệu nhà nước. Khi nào đóng nộp cho vua quan, thì một tiền là 70 đồng, mà thường tiêu với nhau thì một tiền chỉ có 69 đồng mà thôi.

    5. VIỆC ĐẮP ĐÊ. Nước Nam ta ở mạn đường ngược thì lắm núi, mà ở mạn trung châu thì nhiều sông ngòi, cho nên đến mùa lụt nước ngàn, nước lũ chảy về ngập mất cả đồng điền. Vì vậy năm Mậu Thân (1244) Thái Tông sai quan ở các lộ đắp đê ở hai bên bờ sông Cái (Hồng Hà), gọi là đỉnh Nhĩ Đê. Lại đặt quan để coi việc đê, gọi là Hà đê chánh phó sứ hai viên. Hễ chỗ nào mà đê đắp vào ruộng của dân, thì nhà nước cứ chiếu theo giá ruộng mà bồi thường cho chủ ruộng.

    6. VIỆC HỌC HÀNH. Năm Nhâm Thìn (1232) mở khoa thi Thái học sinh (thi Tiến sĩ). Từ đời nhà Lý cũng đã có thi Nho sĩ, nhưng chỉ thi Tam Trường mà thôi, đến bây giờ mới có khoa thi Thái học sinh, chia ra thứ bậc, làm ba giáp để định cao thấp. Đến khoa thi năm Đinh Vị (1247) lại đặt ra Tam khôi: Trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa. Khoa thi năm Đinh Vị này có Lê Văn Hưu là người làm sử nước Nam trước hết cả, đỗ bảng nhãn. Năm ấy lại có mở khoa thi Tam giáo: Nho, Thích, Lão, ai hơn thì đỗ khoa Giáp, ai kém thì đỗ khoa Ất.

    Xem như thế thì sự học vấn đời nhà Trần cũng rộng: Nho, Thích, Lão cũng trọng cả. Nhưng không rõ cách học hành và phép thi cử bấy giờ ra thế nào, bởi vì chỗ này sử chỉ nói lược qua mà thôi.

    Năm Quý Mùi (1253) lập Quốc học viện để giảng Tứ thư ngũ kinh, và lập giảng võ đường để luyện tập võ nghệ.

    7. PHÁP LUẬT. Sử chép rằng năm Giáp Thìn (1244) vua Thái Tông có định lại các luật pháp, nhưng không nói rõ định ra thế nào. Xét trong sách "Lịch triều hiến chương" của ông Phan Huy Chú thì phép nhà Trần đặt ra là hễ những người phạm tội trộm cắp đều phải chặt tay, chặt chân hay là cho voi giày.

    Xem như thế thì hình luật lúc bấy giờ nặng lắm.

    8. QUAN CHẾ. Quan chế đời nhà Trần cũng sửa sang lại cả. Bấy giờ có Tam công, Tam thiếu, Thái uý, Tư mã, Tư đồ, Tư không làm văn võ đại thần. Tể tướng thì có tả hữu tướng quốc, thủ tướng, tham chi.

    Văn giai nội chức thì có các bộ Thượng thư, Thị lang, Lang trung, Viên ngoại, Ngự sử, v.v... Ngoại chức, thì có An phủ sứ, Chi phủ, Thông phán, Thiên phán, v.v....

    Còn Võ giai Nội chức, thì có Phiêu kỵ Thượng tướng quân, Cẩm vệ thượng tướng quân, Kim Ngô đại tướng quân, Võ vệ đại tướng quân, Phó đô tướng quân v.v... Ngoại chức thì có kinh lược sứ, phòng ngự sứ, thủ ngự sứ, quan sát sứ, Đô hộ, Đô thống, Tổng quản. v.v....

    Quan lại đời bấy giờ, cứ 10 năm thì được thăng lên một hàng, và 15 năm mới được lên một chức.

    Đời nhà Trần, tuy quan lại thì nhiều, nhưng vua quan có ý thân cận với nhau lắm. Hễ khi nào vua đãi yến, các quan uống rượu xong rồi, thì ra dắt tay nhau mà múa hát, không có giữ lễ phép nghiêm khắc như những đời sau.

    9. BINH CHẾ. Từ khi Thái Tông lên ngôi làm vua thì việc binh lính một ngày một chỉnh đốn thêm. Bao nhiêu người dân tráng trong nước đều phải đi lính cả. Các thân vương ai cũng được quyền mộ tập quân lính. Vì cớ ấy cho nên đến sau người Mông Cổ sang đánh, nước Nam ta có hơn 20 vạn quân để chống với quân nghịch.

    Trừ những giặc nhỏ mọn ở trong nước không kể chi, nước Nam ta bấy giờ ở phía nam có Chiêm Thành, phía bắc có quân Mông Cổ sang quấy nhiễu cho nên phải đánh dẹp luôn.

    10. VIỆC ĐÁNH CHIÊM THÀNH. Từ khi Thái Tông lên làm vua, nước Chiêm Thành đã sang cống tiến, nhưng thường vẫn cứ sang cướp phá, và cứ đòi lại đất cũ. Thái Tông lấy làm tức giận, bèn sửa soạn đi đánh Chiêm Thành. Năm Nhâm Tý (1252) ngài ngự giá đi đánh, bắt được vương phi nước Chiêm tên là Bố Gia La và rất nhiều quân dân nước ấy.

    11. QUÂN MÔNG CỔ SANG XÂM PHẠM ĐẤT AN NAM. Trong khi nhà Lý mất ngôi, nhà Trần lên làm vua ở An Nam, thì nhà Tống bên Tàu bị người Mông Cổ đánh phá.

    Nguyên ở phía bắc nước Tàu có một dân tộc gọi là Mông Cổ, ở vào khoảng thượng lưu sông Hắc Long Giang (Amour). Người Mông Cổ hung tợn, mà lại có tính hiếu chiến, người nào cưỡi ngựa cũng giỏi, và bắn tên không ai bằng. Binh lính thường là quân kị, mà xếp đặt thành cơ nào đội ấy, thật là có thứ tự, và người nào cũng tinh nghề chiến đấu.

    Bởi tính chất và binh pháp của người Mông Cổ như thế, cho nên Thiết Mộc Chân (Témoudjine) tức là Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan), miếu hiệu là Nguyên Thái Tổ, mới chiếm giữ được cả vùng Trung Á, cùng đất Ba Tư, sang đến phía đông bắc Âu-La-Ba. Sau Mông Cổ lại lấy được nước Tây Hạ, phía tây bắc nước Tàu, dứt được nước Kim và tràn sang đến nước Triều Tiên (Cao Ly).

    Thành Cát Tư Hãn mất, người con thứ 3 là A Loa Đài (Agotai) lên làm vua tức là Nguyên Thái Tông. A Loa Đài truyền cho con là Qúi Do (Gouyouk) tức là Nguyên Định Tông. Qúi Do làm vua được non ba năm thì mất, ngôi vua Mông Cổ lại về chi khác. Người em con chú là Mông Kha (Mong Ké) lên làm vua, tức là Nguyên Hiếu Tông.

    Mông Kha sai hai em là Hạt Lỗ (Houlagen) sang kinh lý việc nước Ba Tư, và Hốt Tất Liệt (Koubilai) sang đánh nhà Tống bên Tàu. Trong khi quân Mông Cổ đang đánh nhà Tống thì Mông Kha mất, Hốt Tất Liệt phải rút binh về lên ngôi vua tức là Nguyên Thế tổ. Hốt Tất Liệt lên làm vua rồi đổi quốc hiệu là Nguyên.

    Hốt Tất Liệt lại sang đánh nhà Tống. Từ đó cả nước Tàu thuộc về Mông Cổ cai trị.

    Khi Mông Kha hãy còn, Hốt Tất Liệt đem quân sang đánh nhà Tống, có sai một đạo quân đi đánh lấy nước Đại Lý (thuộc tỉnh Vân Nam bây giờ) tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai (Wouleangotai) sai sứ sang bảo vua Trần Thái Tông về thần phục Mông Cổ.

    Thái Tông không những không chịu, lại bắt giam sứ Mông Cổ, rồi sai Trần Quốc Tuấn đem binh lên giữ ở phía bắc. Bấy giờ là năm Đinh Tỵ (1257).

    Ngột Lương Hợp Thai bèn từ Vân Nam đem quân sang địa phận An Nam, đi đường sông Thao Giang, tỉnh Hưng Hoá, xuống đánh Thăng Long.

    Trần Quốc Tuấn ít quân đánh không nổi, lùi về đóng ở Sơn Tây. Quân Mông Cổ kéo tràn xuống đến sông Thao. Thái Tông phải ngự giá thân chinh, nhưng đánh không được, chạy về đóng ở sông Hồng Hà. Quân Mông Cổ tiến lên đánh đuổi quân nhà Trần đến Đông Bộ đầu (Phía đông sông Nhị Hà ở hạt huyện Thượng Phúc). Thái Tông phải bỏ kinh đô, chạy về đóng ở sông Thiên Mạc (về hạt huyện Đông An, tỉnh Hưng Yên).

    Quân Mông Cổ vào thành Thăng Long, thấy ba người sứ Mông Cổ còn phải trói, giam ở trong ngục, đến khi cởi trói ra thì một người chết. Ngột Lương Hợp Thai thấy thế tức giận quá, cho quân ra cướp phá, giết cả nam phụ lão ấu ở trong thành.

    Bấy giờ thế nguy. Thái Tông ngự thuyền đến hỏi Thái uý là Trần Nhật Hiệu. Nhật Hiệu không nói gì cả, cầm sào viết xuống nước hai chữ "Nhập Tống". Thái Tông lại đi đến hỏi Thái sư Trần Thủ Độ. Thủ Độ nói rằng: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, thì xin bệ hạ đừng lo!".

    Thái Tông nghe thấy Thủ Độ nói cứng cỏi như thế, trong bụng mới yên.

    Được ít lâu quân Mông Cổ ở nước Nam không quen thuỷ thổ xem ra bộ mệt mỏi. Thái Tông mới tiến binh lên đánh ở Đông Bộ đầu. Quân Mông Cổ thua chạy về đến trại Quy Hoá, lại bị chủ trại ở đấy chiêu tập thổ dân ra đón đánh. Quân Mông Cổ thua to, rút về Vân Nam, đi đường mỏi mệt, đến đâu cũng không cướp phá gì cả, cho nên người ta gọi là giặc Phật.

    Quân Mông Cổ tuy thua phải rút về, nhưng chẳng bao lâu sau Mông Cổ dứt được nhà Tống, lấy được nước Tàu, rồi có ý muốn bắt vua nước Nam ta sang chầu ở Bắc Kinh, bởi vậy lại sai sứ sang đòi lệ cống. Vua Thái Tông sai Lê Phụ Trần sang sứ xin cứ ba năm sang cống một lần.

    Mùa xuân năm Mậu Ngọ (1258). Thái Tông nhường ngôi cho Thái Tử là Trần Hoảng, để dạy bảo mọi việc về cách trị nước, và để phòng ngày sau anh em không tranh nhau.

    Triều đình tôn Thái Tông lên làm Thái Thượng hoàng để cùng coi việc nước.
    athaydo vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Thông Báo Nội Dung Xấu Trả Lời Với Trích Dẫn

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • Trần Thánh Tông (1258-1278)

    Mùa xuân năm Mậu Ngọ (1258) Thái tử Trần Hoảng là con trai của Thái Tông Trần Cảnh lên nối ngôi lấy hiệu là Thánh Tông. Tuổi thiếu thời của ông được sống trong cảnh đất nước thanh bình thịnh trị: nhà Trần quản lý đất nước, đang dần dần đưa dân tộc bước vào giai đoạn cường thịnh. Không rõ việc học hành tu dưỡng của ông như thế nào, nhưng chắc chắn là ông được rèn luyện khá chu đáo, văn võ song toàn. Ông có làm thơ, tuy không nhiều song những bài thơ ông để lại đạt đến một trình độ điêu luyện và thể hiện tinh thần dân tộc rất cao. Ông đã trực tiếp tham gia trận mạc, và có một trình độ quân sự vững vàng. Các vị tướng tài thời nhà Trần như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, đều là em ruột của ông.

    Những ngày chưa lên ngôi báu, ông đã từng theo vua cha là Trần Thái Tông chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Trước sức mạnh hung hãn của giặc, hai cha con ông đã phải rời kinh thành Thăng Long, chạy theo sông Lô rồi lui về sông Thiên Mạc (1257). Chính ở đây, Thái Tử Trần Hoảng đã được nghe câu nói của Trần Thủ Độ, trả lời vua cha là Trần Thái Tông. Lúc đó, thế giặc rất mạnh, quân ta phải bỏ chạy, rút lui ở nhiều nơi, tình hình vô cùng nguy cấp.

    Viên thái uý Trần Nhật Hiệu rất nản lòng, không phát biểu được câu gì, nhưng lại dùng ngón tay nhúng nước sông, viết hai chữ "Nhập Tống" trên mạn thuyền. Đến khi nhà vua hỏi Trần Thủ Độ. Vị thái sư này đã khẳng khái trả lời: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo". Lời nói đanh thép đó đã tiếp thêm cho Trần Hoảng một khí thế quyết tâm chống giặc.

    Với từng việc cụ thể như thế, thái tử Trần Hoảng đã được giáo dục, tôi luyện, cùng với thực tế chiến đấu trên chiến trường, đã giúp cho ông có một bản lĩnh vững vàng khi được nối ngôi tôn.

    Thành tựu chủ yếu trong quá trình trị vì của Trần Thánh Tông là lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Cuối năm 1257, thắng quân Nguyên lần thứ nhất, vua Trần Thái Tông và các quan trở về Thăng Long, ban thưởng cho nhiều người đúng vào ngày mồng một Tết năm Mậu Ngọ. Thì sau đó gần hai tháng, vào ngày 24 tháng 2, Hoàng Thái Tử Trần Hoảng được truyền ngôi, đúng vào năm 18 tuổi. Vua mới vẫn giữ vững tinh thần độc lập, cố giữ sự giao hảo với "thiên triều", nhưng không chịu cúi mình, không nghe theo các yêu cầu của họ....

    Trần Thánh Tông nhường ngôi cho con, lui về làm Thượng hoàng khi ông 42 tuổi, nhưng ông vẫn trực tiếp chỉ đạo chống giặc. Năm 1284, ông là người có sáng kiến tổ chức hội nghị phụ lão ở điện Diên Hồng, để được nghe tất cả người già trong nước cùng hô to câu trả lời: Đánh! Quyết đánh! Các sử gia về sau có nói về Trần Thánh Tông là người biết "giữ được cái nghĩa người xưa nuôi người già để xin lời hay". Chúng ta giờ đây thấy rõ tư tưởng trọng dân, và vâng theo lòng dân của hai cha con nhà vua thanh niên ấy.

    Cả hai cha con cùng nhau chỉ đạo kháng chiến, nhưng thế giặc vô cùng mạnh. Thánh Tông, với cương vị thượng hoàng, đã phải cho em gái út của mình là công chúa An Tư sang hầu hạ tên tướng giặc Thoát Hoan, nhưng chúng vẫn không thôi đàn áp và cướp bóc. Kinh thành Thăng Long bị giặc chiếm, hai vua phải đi thuyền nhỏ tránh ra Quảng Ninh, rồi lại theo sông Nam Triệu, vượt biển Đại Bàng vào Thanh Hoá. Nhưng sau đó quân ta đã xoay đổi được thế trận, giành thắng lợi lớn ở Tây Kết, Chương Dương, Hàm Tử, để tháng 6 năm đó, được trở về kinh sư.

    Bọn giặc Nguyên thua to nhưng vẫn chưa chịu từ bỏ ý đồ xâm lược. Chúng vẫn ồ ạt kéo sang, và lần này thì hoàn toàn thất bại thảm hại. Những danh tướng như Thoát Hoan, Ô Mã Nhi, Tính Cơ, Lệ Ngọc v.v... đều bị bắt sống. Trần Thánh Tông lần này lại nêu cao một cử chỉ cao thượng. Ông cho phép dẫn bọn Ô Mã Nhi lên thuyền ngự "cùng ngồi nói chuyện với chúng và uống rượu vui vẻ".

    Thế là suốt ba cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên sang xâm lược, Trần Thánh Tông đều trực tiếp chỉ huy đối phó và đã thắng lợi suốt cả ba lần. Thời kỳ Trần Thánh Tông chính thức làm vua cũng là thời kỳ đất nước thái bình, thịnh trị. Thánh Tông là vị vua nhân từ, trung hậu. Vua thường xuyên nói với tả hữu: "Thiên hạ là của cha ông để lại, nên để cho anh em cùng hưởng phú quý". Bởi vậy, trừ các buổi thiết triều vua mới phân biệt trên dưới, còn thường ngày vua cho các hoàng thân vào điện ăn cùng mâm, nằm cùng chiếu, thật hòa hợp thân ái. Về đối nội, ông dốc lòng xây dựng đất nước mạnh giàu. Thí dụ, ông là người đầu tiên có chủ trương cho các vương hầu thành lập các điền trang; được chiêu tập những người xiêu tán không có sản nghiệp về làm nô tỳ để khai khẩn ruộng hoang, bãi lầy sú vẹt vùng ven biển. Chế độ điền trang thực sự bắt đầu từ đây, xây dựng cơ sở vững mạnh cho nhà nước phong kiến. Ông rất quan tâm đến việc chọn những nho sinh có tài bổ vào các cơ quan nhà nước (như quán, sảnh, viện) cấp tiền ăn học cho người có khả năng, trọng dụng những người thông thái để sử dụng.

    Trần Thánh Tông có câu nói nổi tiếng được ghi chép trịnh trọng trong sử sách. Ông nói với các vương hầu:
    "Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp tổ tông nên cùng với anh em trong họ cùng hưởng phú quí, tuy bên ngoài thì là cả thiên hạ phụng sự một người tôn quí, nhưng bên trong thì ta cùng với các khanh là đồng bào ruột thịt, lo thì cùng lo, vui thì cùng vui"
    Lời nói của Thánh Tông thực là thấu tình đạt lý. Và ngay trong sinh hoạt hàng ngày ông cũng thể hiện sâu sắc tinh thần ấy. Trong họ Trần, cha con, anh em luôn luôn hòa thuận vui vẻ. Việc lên ngôi của Trần Hoảng cũng là trường hợp đặc biệt. Ông vốn là con thứ hai. Anh cả của ông là Trần Quốc Khang. Nhưng vua Thái Tông Trần Cảnh thấy con đầu của mình, tài năng có phần hạn chế, nên đã quyết định giành ngôi cho Trần Hoảng. Trần Quốc Khang không băn khoăn tị nạnh gì, vui lòng nhận tước Tĩnh quốc Đại vương, để ủng hộ cho em lên ngôi hoàng đế.

    Song Trần Thánh Tông không chỉ vì tình nghĩa mà xuê xoa mọi việc. Ông biết cân nhắc để định rõ vị trí, xác định tài năng. Người anh thúc bá của ông là Trần Quốc Tuấn, tài năng ưu việt hơn cả, ông và con ông sau này (Nhân Tông) tôn làm Tiết chế, thống lĩnh quân đội. Các em ông Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật v.v... đều giữ những cương vị xứng đáng trong triều. Những kẻ lầm lỗi như Trần Ích Tắc (cũng là em ông) bị ông xoá tên, chỉ gọi là ả Trần (hèn nhát như đàn bà). Những người có công lao được ông ban thưởng có mức độ, thưởng mà vẫn nhắc họ cảnh giác với quân thù.

    Năm Đinh Sửu (1277) Thái thượng hoàng Trần Thái Tông mất ở phủ Thiên Trường. Năm sau, vua Thánh Tông nhường ngôi cho con là Thái tử Khâm rồi về ở phủ Thiên Trường làm Thái thượng hoàng. Vua Thánh Tông trị vì được 21 năm làm Thái thượng hoàng được 13 năm. Ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần (1290) Thượng hoàng mất ở cung Nhâm Thọ hưởng thọ 50 tuổi.

    ---------------------------------------------

    Trần Thánh Tông là vị vua thứ hai triều Trần.
    Tên thật là Trần Hoảng sinh ngày 25 - 9 năm Canh Tý 1240. Quê hương Tức Mạc, Phủ Thiên Trường, nay là xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định, Tỉnh Nam Định.

    Ông là con trưởng của vua Trần Thái Tông và bà Thuận Thiên Công chúa. Trần Hoảng được vua truyền ngôi năm 1255 lúc 15 tuổi. Trần Thánh Tông là vị vua có nhiều kiến thức, giỏi võ sành văn, nhân từ, độ lượng, hết lòng chăm lo việc nước.

    Đối nội, ông khuyến khích khai hoang lập ấp, chiêu tập những người nghèo đói, lưu lạc giúp họ an cư lập nghiệp, lấy ổn định kinh tế đời sống làm gốc. Khuyến khích việc học hành, mở các khoa thi chọn người hiền tài để trọng dụng. Dưới triều ông đã xuất hiện lưỡng quốc Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi và sử gia kiệt xuất Lê Văn Hưu với sự ra đời bộ sử đầu tiên của nước ta " Đại việt sử ký".

    Đối ngoại, ông mềm dẻo nhưng kiên quyết. Bấy giờ đế quốc Nguyên Mông đã xâm chiếm toàn bộ Trung Quốc, chuẩn bị sang xâm lược nước ta lần II. Chúng sai sứ sang bắt ta cống nạp nho sỹ, thầy thuốc, thầy tướng số, nghệ nhân giỏi cùng các sản vật quý, sừng tê giác, ngà voi... Trần Thánh Tông đã cương quyết bảo vệ danh dự tổ quốc, chuẩn bị lực lượng đối phó hoạ xâm lược.

    Ông cùng vua quan nhà Trần tổ chức hội nghị Diên Hồng. Ra sức luyện tập binh sỹ, chuẩn bị vũ khí, tích trữ lương thực. Ông đã góp công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ xâm lược lần thứ II.

    Năm 1278 ông nhường ngôi cho con, để làm Thái Thượng Hoàng, đi tu và chuyên tâm viết sách.

    Trần Thánh Tông là vị vua hiền tài, có công rất lớn trong buổi đầu của cơ nghiệp nhà Trần. Ngoài sự nghiệp cai quản đất nước ông còn là một nhà văn hoá lớn, một nhà thơ, nhà Phật học, tác giả của nhiều tập sách giá trị: Chỉ giá minh- Cơ cừu lục - Gia phả họ Trần - Phóng ngưu - Thiên tông liễu ngộ ca - Trần Thánh Tông thi tập, nhưng hầu hết đã bị thất lạc, chỉ còn lại một số thơ trong Việt âm thi tập và Đại việt sử ký toàn biên.

    Trần Thánh Tông ở ngôi 21 năm - làm Thái Thượng Hoàng 13 năm. Ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần 1290 vua mất ở cung Nhâm Thọ, thọ 50 tuổi.
    -------------------------------------------------------------
    TRẦN THÁNH TÔNG (1258 - 1278)

    Niên hiệu: Thiệu Long 91258 - 1272) Bảo Phù (1273 - 1278)

    1. VIỆC CHÍNH TRỊ. Thái tử Hoảng lên ngôi, tức là vua Thánh Tông, đổi niên hiệu là Thiệu Long.

    Thánh Tông là ông vua nhân từ trung hậu, ăn ở với anh em họ hàng rất là tử tế. Thường hay nói rằng: "Thiên hạ là của ông cha để lại, nên để cho anh em cùng hưởng phú quí chung". Rồi cho các hoàng thân vào nội điện, cùng ăn một mâm, nằm một giường, thật là thân ái, chỉ có lúc nào ra việc công, hoặc buổi chầu, thì mới phân thứ tự theo lễ phép mà thôi.

    Còn việc nước thì thật ngài có lòng lo giữ cho dân được yên trị. Trong 21 năm, ngài làm vua không có giặc giã gì cả. Việc học hành cũng mở mang thêm: cho Hoàng đệ Trần Ích Tắc là một người hay chữ lúc ấy, mở học đường để những người văn sĩ học tập. Danh nho Mạc Đĩnh Chi cũng học ở trường ấy.

    Đời bấy giờ Lê Văn Hưu làm xong bộ Đại Việt sử thành 30 quyển, chép từ Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu Hoàng. Bộ sử này khởi đầu làm từ đời Trần Thái Tông đến năm Nhâm Thân (1272) đời Thánh Tông mới xong. Nước Nam ta có quốc sử khởi đầu từ đấy.

    Thánh Tông lại bắt các vương hầu, phò mã phải chiêu tập những người nghèo đói lưu lạc để khai khẩn hoang điền làm trang bộ. Trang điền có từ đấy.

    2. SỰ GIAO THIỆP VỚI MÔNG CỔ. Nước tuy được yên, song việc giao thiệp với Tàu một ngày một khó thêm. Đời bấy giờ Mông Cổ đã đánh được nhà Tống rồi, chỉ chực lấy nước An Nam, nhưng vì trước tướng Mông Cổ đã đánh thua một trận, vả trong nước Tàu cũng chưa được yên, cho nên vua Mông Cổ muốn dụng kế dụ vua An Nam sang hàng phục, để khỏi dùng can qua. Vậy cứ vài năm lại cho sứ sang sách nhiễu điều nọ điều kia, và dụ vua An Nam sang chầu, nhưng vua ta cứ nay lần mai lữa, không chịu đi. Sau nhân dịp Thái Tông nhường ngôi cho Thánh Tông, vua Mông Cổ sai sứ sang phong vuơng cho Thánh Tông, và tuy không bắt nước Nam phải đổi phục sắc và chính trị, nhưng định cho ba năm phải một lần cống. Mà lệ cống thì phải chọn nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy toán số và thợ thuyền mỗi hạng ba người, cùng với các đồ sản vật như sừng tê, ngà voi, đồi mồi, châu báu và các vật lạ. Vua Mông Cổ lại đặt quan Đạt lỗ hoa xích (tiếng Mông Cổ tức là quan Chưởng ấn), để đi lại giám trị các châu quận nước Nam.

    Ý Mông Cổ muốn biết nhân vật tài sản nước Nam ta có những gì, và học vấn xảo kỹ ra làm sao, để liệu đường mà đánh lấy cho tiện. Và tuy rằng quyền chính trị vẫn để cho vua nuớc Nam, nhưng đặt quan giám trị để dần dần lập thành Bảo hộ.

    Thánh Tông bề ngoài tuy vẫn chịu thần phục, nhưng trong bụng cũng biết rằng Mông Cổ có ý đánh lấy nước mình, cho nên cứ tu binh dụng võ để phòng có ngày tranh chiến. Vậy tuyển đinh tráng các lộ làm lính, phân quân ngũ ra làm quân và đô: mỗi quân có 30 đô, mỗi đô có 80 người, bắt phải luyện tập luôn.

    Năm Bính Dần (1266) nhân sứ Mông Cổ sang, Thánh Tông sai quan sang Tàu đáp lễ và xin đừng bắt nho sĩ, thầy bói và các thợ thuyền sang cống. Vua Mông Cổ ưng cho, nhưng bắt chịu 6 điều khác:

    1. Vua phải thân vào chầu

    2. Vua phải cho con hay là em sang làm tin

    3. Biên sổ dân sang nộp

    4. Phải chịu việc binh dịch

    5. Phải nộp thuế má

    6. Vẫn cứ đặt quan giám trị

    Vua An Nam cứ lần lữa không chịu. Đến năm Tân Mùi (1271) vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt cải quốc hiệu là Đại Nguyên, rồi cho sứ sang dụ Thánh Tông sang chầu nhưng Thánh Tông cáo bệnh không đi.

    Năm sau Nguyên chủ cho sứ sang tìm cột đồng trụ của Mã Viện trồng ngày trước, nhưng Thánh Tông sai quan sang nói rằng: cột ấy lâu ngày mất đi rồi, không biết đâu mà tìm nữa. Việc ấy cũng thôi.

    Đến năm Ất Hợi (1275) Thánh Tông sai sứ sang Tàu nói rằng: nước Nam không phải là nước Mường Mán mà đặt quan giám trị, xin đổi quan Đại lỗ hoa xích làm quan Dẫn tiến sứ. Vua nhà Nguyên không cho, lại bắt theo 6 điều đã định trước. Thánh Tông cũng không chịu. Tự đấy vua nhà Nguyên thấy dụng mưu không được, quyết ý cử binh sang đánh nước Nam, sai quan ở biên giới do thám địa thế nước ta. Bên An Nam cũng đặt quan phòng bị.

    Năm Đinh Sửu (1277) Thái thượng hoàng mất ở Thiên Trường phủ (tức là làng Tức Mạc). Năm sau (1278), Thánh Tông nhường ngôi cho Thái tử Khâm, rồi về ở Thiên Trường làm Thái thượng hoàng.

    Thánh Tông trị vì được 21 năm, làm Thái thượng hoàng được 13 năm, thọ 50 tuổi.

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • Trần Nhân Tông (1258 - 1308)

    Trần Nhân Tông là vị vua thứ 3 triều Trần.

    Tên thật là Trần Khâm sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ 1258. Quê hương Tức Mạc, Phủ Thiên Trường nay là xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Ông là con tr­ưởng vua Trần Thánh Tông, được cha truyền ngôi năm 1279 lúc 21 tuổi.

    Công lao lớn nhất của Trần Nhân Tông là đã lãnh đạo quân dân Đại Việt hai lần đánh thắng hai cuộc xâm lược tàn bạo của đế quốc Mông Cổ vào năm 1258 và năm 1288.

    Tháng 12 - 1281 vua Nguyên sai Thái tử Thoát Hoan đem 50 vạn quân sang xâm lược nước ta, cùng 10 vạn quân của Toa Đô từ Chiêm Thành đánh ra. Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông cùng Trần Hưng Đạo đã lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan quân xâm lược Mông Cổ, với những chiến thắng lẫy lừng ở Chương D­ương, Hàm Tử, Tây Kết, Vạn Kiếp... Chỉ trong vòng nửa năm cuộc xâm lược lần II của quân Nguyên đã bị thất bại hoàn toàn.

    Sau hai lần thua nhục nhã, vua Nguyên đình chỉ cuộc xâm lăng Nhật Bản, dốc toàn bộ sức lực sang xâm lược Đại Việt lần thứ III. Năm 1287 vua Nguyên sai Thoát Hoan dẫn 50 vạn quân cùng rất nhiều tướng lĩnh giỏi sang xâm lược nước ta. Dưới sự lãnh đạo của vua Trần Nhân Tông với thiên tài chỉ huy của Trần Hưng Đạo Đại Vương, chúng ta đã đánh bại cuộc xâm lược này, tiêu biểu là trận quyết chiến chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng. Giữ vững nền độc lập của tổ quốc. Dập tắt mộng xâm lăng của một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới ở thế kỷ 13.

    Ngoài chiến thắng quân Mông Cổ, Trần Nhân Tông còn trực tiếp cầm quân dẹp giặc Ai Lao ở biên giới phía Nam.

    Dưới triều đại Nhân Tông, quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, tôn giáo... ở nước ta đều thịnh trị. Vua Trần Nhân Tông biết chăm lo nghiệp lớn an dân, cải tiến chế độ thi cử, trọng dụng hiền tài, khuyến khích thơ văn chữ Nôm.

    Năm 1293 Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Thuyên để làm Thái Thượng Hoàng. Năm 1298 ông lên chùa núi Yên Tử để tu hành, chuyên tâm nghiên cứu đạo Phật. Ông là vị khai tổ của phái Trúc Lâm Thiền Tông của nước ta.

    Trần Nhân Tông là vị vua mẫu mực trí, dũng, nhân vẹn toàn. Một nhà văn hoá, nhà thơ lớn. Các sử gia đánh giá ông " nhân từ, hoà nhã, tài trí, đảm lược, uy vọng quyết đoán, hết lòng vì dân vì nước, sự nghiệp chống giặc Nguyên còn sống mãi muôn đời, làm vẻ vang cho dân tộc".

    Những tác phẩm chính : Đại hương hải ấn thi tập - Tăng già toái sự - Thạch thất mỵ ngữ - Thiền lâm thiết chuỷ ngữ lục - Trần Nhân Tông thi tập - Trung hưng thực lục...

    Năm 1308 Trần Nhân Tông qua đời tại am Ngọc Vân trên núi Yên Tử. Ở ngôi 14 năm, thọ 50 tuổi. Ngày nay ở thành phố Nam Định có một đường phố lớn dọc Sông Đào mang tên Trần Nhân Tông.

    -------------------------------------------------------------------
    TRẦN NHÂN TÔNG (1279 - 1293)

    Niên hiệu: Thiệu Bảo (1279 - 1284) Trùng Hưng (1285 - 1293)

    1. VIỆC CHÍNH TRỊ. Thái tử Trần Khâm lên làm vua, tức là vua Nhân Tông.

    Lúc bấy giờ sứ nhà Nguyên đi lại hạch điều này, trách điều nọ, triều đình cũng có lắm việc bối rối. Nhưng nhờ có Thánh Tông thượng hoàng còn coi mọi việc mà các quan triều đình nhiều người có tài trí, vua Nhân Tông lại là ông vua thông minh, quả quyết, mà người trong nước thì từ vua quan cho chí dân sự đều một lòng cả, cho nên từ năm Giáp Thân (1284) đến năm Mậu Tí (1288) hai lần quân Mông Cổ sang đánh phá mà rồi không làm gì được.

    Trừ việc chiến tranh với Mông Cổ ra, để sau sẽ nói, trong đời vua Nhân Tông lại còn có giặc Lào, thường hay sang quấy nhiễu ở chỗ biên thuỳ, bởi vậy năm Canh Dần (1290) vua Nhân Tông lại phải ngự giá đi đánh Lào.

    2. VIỆC VĂN HỌC. Đời vua Nhân Tông có nhiều giặc giã, tuy vậy việc văn học cũng hưng thịnh lắm. Xem bài hịch của Hưng Đạo Vương, thơ của ông Trần Quang Khải và của ông Phạm Ngũ Lão thì biết là văn chương đời bấy giờ có khí lực mạnh mẽ lắm.

    Lại có quan Hình bộ Thương thư là ông Nguyễn Thiên khởi đầu dùng chữ Nôm mà làm thơ phú. Ông Nguyễn Thiên là nguời Thanh Lâm(1) , tỉnh Hải Dương, có tiếng tài làm văn như ông Hàn Dũ bên Tàu ngày xưa, bởi vậy vua cho đổi họ là Hàn. Về sau người mình theo lối ấy làm thơ, gọi là Hàn luật.

    Năm Quí Tị (1293) Nhân Tông truyền ngôi cho Thái tử là Thuyên, rồi về Thiên Trường làm Thái thượng hoàng. Nhân Tông trị vì được 14 năm, nhường ngôi đuợc 14 năm, thọ 50 tuổi.

    ----------------------------------------------------------------
    Vua Trần Nhân Tông - Anh hùng dân tộc kiêm triết gia, thi sĩ

    Trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai và ba, vua Trần Nhân Tông (1258 - 1308) đã trở thành ngọn cờ tinh thần "kết chặt lòng dân", lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan kẻ thù lớn mạnh gấp bội. Trần Nhân Tông còn là một triết gia lớn của Phật học Việt Nam, là người sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, đồng thời là nhà thơ với tâm hồn thanh cao, phóng khoáng.

    Trần Nhân Tông tên là Khẩm, con trưởng Thánh Tông, sinh năm 1258, đúng năm Thái Tông và Thánh Tông đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ nhất.

    Nói đến Trần Nhân Tông trước hết là nói đến người anh hùng cứu nước. Ông làm vua 14 năm (1279 - 1293). Trong thời gian ấy, đất nước Đại Việt đứng trước thử thách ghê gớm: hiểm họa xâm lược lần thứ 2 và thứ 3 của giặc Nguyên-Mông.

    Trong 2 lần kháng chiến, Trần Nhân Tông đã trở thành ngọn cờ "kết chặt lòng dân", lãnh đạo quân dân Đại Việt vượt qua bao khó khăn, đưa cuộc chiến đấu tới thắng lợi huy hoàng. Qua 2 cuộc kháng chiến, Trần Nhân Tông đã tỏ rõ ông vừa là nhà chiến lược tài giỏi, vừa là vị tướng cầm quân dũng cảm ngoài chiến trường. Chính vào giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến năm 1285, khi quân ta đang còn ở thế không cân sức với đối phương, Trần Nhân Tông đã viết lên đuôi chiến thuyền 2 câu thơ đầy khí phách và niềm tin vào sức mạnh tiềm tàng của quân ta:

    Cối kê cựu sự quân tu ký,
    Hoan diễn do tồn thập vạn binh.
    (Cối Kê chuyện cũ ngươi nên nhớ,
    Hoan Diễn đang còn chục vạn quân).

    Hai câu thơ này cùng với hai câu Nhân Tông viết bên lăng Trần Thái Tông tại Long Hưng (Thái Bình) lúc làm lễ dâng tù binh mừng chiến thắng lần thứ ba:

    Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
    Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
    (Xã tắc hai lần lao ngựa đá,
    Non sông nghìn thuở vững âu vàng).

    đã đi vào lịch sử như một ký ức bất diệt về chiến công bình Nguyên năm 1285 và 1288, trong đó Nhân Tông là vị chủ soái.

    Khi nhìn nhận nguyên nhân thắng lợi nhà Trần đã giành được trong sự nghiệp cứu nước. Trần Nhân Tông đã đánh giá cao vai trò của nhân dân lao động (thời đó sử cũ chép là gia nô, gia đồng). Ông cho rằng chính họ mới là những người trung thành với đất nước khi có giặc ngoại xâm. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Vua (Nhân Tông) ngự chơi bên ngoài, giữa đường gặp gia đồng của các vương hầu tất gọi rõ tên mà hỏi: "Chủ mày đâu?" và dặn dò các vệ sĩ không được thét đuổi. Khi về cung, vua bảo các quan hầu cận rằng: "Ngày thường có kẻ hầu cận hai bên, lúc Nhà nước hoạn nạn thì chỉ có bọn ấy đi theo thôi".

    Sau 14 năm làm vua, theo truyền thống của nhà Trần, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông, rồi làm Thái thượng hoàng và đi tu, trở thành Tổ thứ nhất phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái Thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.

    Xét trên bình diện triết học, Trần Nhân Tông có một vị trí quan trọng. Ông là một triết gia lớn của Phật học Việt Nam. Với phái Thiền Trúc Lâm mà Trần Nhân Tông là người đứng đầu, triết học Phật giáo Việt Nam thời Trần đã phát triển rực rỡ và thể hiện được đầy đủ trí tuệ Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam. Nét đặc trưng nổi bật của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông là tinh thần thực tiễn, chiến đấu, táo bạo. Sách Tam Tổ thực lục viết: "Một học trò hỏi Điều ngự Nhân Tông: "Như thế nào là Phật?" Nhân Tông đáp: "Như cám ở dưới cối". Hoặc, một lần học trò hỏi Nhân Tông: "Lúc giết người không để mắt thì như thế nào?" Đáp: "Khắp toàn thân là can đảm"...

    Anh hùng cứu nước, triết nhân và thi sĩ, ba phẩm chất ấy kết hợp hài hòa với nhau trong con người Trần Nhân Tông. Về phương diện thi sĩ, ông là người có một tâm hồn thanh cao, phóng khoáng, một cái nhìn tinh tế, tao nhã, nhất là đối với cảnh vật thiên nhiên:

    Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
    Bán vô bán hữu tịch đương biên,
    Mục đồng địch lý ngưu quy tận
    Bạch lộ song song phi hạ điền.
    (Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
    Bóng chiều man mác có dường không,
    Theo lời kèn mục trâu về hết,
    Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng).

    (Thiên trường vãn vọng - Bản dịch của Ngô Tất Tố)

    Thơ Trần Nhân Tông, ngoài vẻ đẹp của một âm điệu hồn hậu, còn bao hàm một ý vị Thiền, gợi mở một thế giới tinh thần thanh khiết. Trong lịch sử thi ca Việt Nam, cây sáo thơ Trần Nhân Tông để lại một tiếng ngân trong đến thẳm sâu.

    Trần Nhân Tông qua đời năm 1308 tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử, Đông Triều, Quảng Ninh.

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • Trần Anh Tông (1293 - 1314)

    Niên hiệu: Hưng Long

    1. ĐỨC ĐỘ VUA ANH TÔNG. Thái tử Trần Thuyên lên ngôi, tức vua Anh Tông.

    Anh Tông lúc đầu hay uống rượu và đêm thường hay lén ra ngoài đi chơi, có khi bị đồ vô lại phạm đến.

    Một hôm uống rượu say đến nỗi Nhân Tông Thượng hoàng ở Thiên Trường về kinh, các quan đều ra đón rước cả, mà vua vẫn nằm ngủ. Thượng hoàng giận lắm, truyền xa giá lập tức về Thiên Trường và hạ chiếu cho bách quan phải về đấy hội nghị. Khi Anh Tông tỉnh rượu, biết thượng hoàng về kinh, sợ hãi quá, vội vàng chạy ra ngoài cung gặp một người học trò tên là Đoàn Nhữ Hài mượn thảo bài biểu để dâng lên tạ tội, rồi cùng với Nhữ Hài xuống thuyền đi suốt đêm đến phủ Thiên Trường. Thượng hoàng xem biểu rồi quở mắng một lúc, và tha lỗi cho Anh Tông. Về đến kinh sư, Anh Tông cho Đoàn Nhữ Hài làm ngự sử trung tân, và từ đấy không uống rượu nữa.

    Từ xưa đến nay vua An Nam vẫn có tục lấy chàm vẽ rồng vào đùi, nhưng Anh Tông không muốn theo tục ấy. Một hôm Thượng hoàng bảo Anh Tông rằng: " Dòng dõi nhà mình vẫn vẽ mình để nhớ gốc ngày xưa, nay nhà vua phải theo tục ấy mới được". Anh Tông tuy vâng mệnh nhưng lừa khi Thượng hoàng bận việc khác, lẩn đi không cho vẽ. Từ đấy vua An Nam mới không vẽ lên mình nữa.

    Tính vua Anh Tông hay vẽ: thường có làm một tập Thuỷ vân tuỳ bút, nhưng đến lúc sắp mất đem đốt đi không cho để lại. Sử có chép rằng khi Anh Tông đau nặng, hoàng hậu cho đi gọi thầy tăng về để làm lễ xem sự sinh tử, Anh Tông gạt đi mà bảo rằng: "Thầy tăng đã chết đâu mà biết được sự chểt”. Xem thế thì biết Anh Tông là một ông vua hiếu thảo và lại thông minh, cho nên việc triều chính thời bấy giờ có cương kỷ lắm.

    Trong triều lại có những người tài giỏi hết lòng giúp việc nước. Văn như ông Trương Hán Siêu, võ như ông Phạm Ngũ Lão đều là người có tài trí cả.

    Phạm Ngũ Lão là người làng Phủ Ủng, huyện Mỹ Hảo, tỉnh Hải Dương, trước theo Trần Hưng Đạo Vương đánh giặc Nguyên, lập được công to, triều đình trọng dụng cho làm đại tướng. Ngũ Lão trị quân có kỷ luật, đãi tướng hiệu như người nhà, ở với sĩ tốt cùng chịu cam khổ, cho nên vẫn gọi quân của ông ấy là phụ tử chi binh, đánh đâu được đấy, thành một người danh tướng nước Nam ta.

    Ông Phạm Ngũ Lão đã giỏi nghề võ, lại hay nghề văn, thường ngâm bài thơ thuật hoài sau này:

    Hoành sáo giang sơn cáp kỷ thu

    Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu

    Nam nhi vị liễu công danh trái

    Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.

    Thời bấy giờ vua hiền, tôi trung, phép tắc nghiêm trang, thưởng phạt phân minh, chính trị không có điều gì hồ đồ. Việc học hành mở mang rộng rãi, cho nên những người có tài văn học như bọn ông Mạc Đĩnh Chi, ông Nguyễn Trung Ngạn đều được thi đỗ, ra làm quan giúp việc triều đình. Thật là một thời rất thịnh về đời nhà Trần vậy.

    2. TRẦN HƯNG ĐẠO VƯƠNG MẤT. Trong đời vua Anh Tông có mấy người danh tướng như là: Thượng tướng Trần Quang Khải, thắng trận Chương Dương ngày trước, mất năm Giáp Ngọ (1294), và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mất ngày 20 tháng tám năm Canh Tí (1300).

    Hưng Đạo Vương là một người danh tướng đệ nhất nước Nam, đánh giặc Nguyên có công to với nước, được phong làm Thái sư, Thượng phụ, Thượng quốc công, Bình Bắc đại nguyên suý, Hưng Đạo Đại Vương. Vua lại sai người về Vạn Kiếp làm sinh từ để thờ ngài ở chỗ dinh cũ của ngài đóng ngày trước.

    Hưng Đạo Vương làm quan đến đời vua AnhTông thì xin về trí sĩ ở Vạn Kiếp. Khi ngài sắp mất, vua Anh Tông có ngự giá đến thăm, nhân thấy ngài bệnh nặng, mới hỏi rằng: "Thượng phụ một mai khuất núi, phỏng có quân bắc lại sang thì làm thế nào?”

    Hưng Đạo Vương tâu rằng: “ Nước ta thủa xưa, Triệu Võ Vương dựng nghiệp, Hán đế đem binh đến đánh, Võ Vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để lương thảo cho giặc chiếm được, rồi đem đại quân sang châu Khâm, châu Liêm đánh quận Tràng Sa, dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời. Đến đời Đinh, Lê, nhiều người hiền lương giúp đỡ, bấy giờ nước Nam đang cường, vua tôi đồng lòng, bụng dân phấn chấn; mà bên Tàu đang lúc suy nhược, cho nên ta đắp thành Bình Lỗ ( thuộc Thái Nguyên) phá được quân nhà Tống, đó là một thời. Đến đời nhà Lý, quân Tống sang xâm, Lý đế sai Lý Thường Kiệt đánh mặt Khâm, Liêm, dồn đến Mai Lĩnh, quân hùng, tướng dũng, đó là có thế đánh được. Kế đến bản triều, giặc Nguyên kéo đến vây bọc bốn mặt, may được vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, cả nước đấu sức lại mà đánh, mới bắt được tướng kia, cũng là lòng trời giúp ta mới được thế.

    Đại để, kẻ kia cậy có tràng trận, mà ta thì cậy có đoản binh; lấy đoản chống nhau với tràng, phép dùng binh tướng vẫn thế. Còn như khi nào quân giặc kéo đến ầm ầm, như gió, như lửa, thế ấy lại dễ chống. Nếu nó dùng cách dần dà, như tằm ăn lá, thong thả mà không ham của dân, không cần lấy mau việc, thế ấy mới khó trị; thì ta nên kén dùng tướng giỏi, liệu xem quyền biến, ví như đánh cờ, phải tuỳ cơ mà ứng biến, dùng binh phải đồng lòng như cha con một nhà, thì mới có thể đánh được. Cách ấy cốt phải tự lúc bình thì khoan sức cho dân, để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thuật giữ nước hay hơn cả”.

    Anh Tông chịu lời ấy là rất phải.

    Được mấy hôm ngài mất, vua cùng các quan ai nấy đều cảm thương lắm.

    Hưng Đạo Vương thực là hết lòng với vua, với nước, tuy rằng uy quyền lừng lẫy, mà vẫn giữ chức phận làm tôi, không dám điều gì kiêu ngạo. Đang khi quân Nguyên quấy nhiễu, ngài cầm binh quyền, Thánh Tông, Nhân Tông cho ngài được chuyên quyền phong tước: trừ ra tự tước hầu trở xuống, cho ngài được phong trước rồi mới tâu sau. Thế mà ngài không dám tự tiện phong thưởng cho ai cả; phàm những nhà giàu mà ngài có quyên tiền gạo để cấp cho quân ăn, ngài chỉ phong cho làm giả lang tướng mà thôi, nghĩa là tướng cho vay lương. Ngài cẩn thận như thế và ở với ai cũng thật là công chính cho nên đến khi ngài mất, tự vua cho chí bách tính ai cũng thương tiếc. Nhân dân nhiều nơi lập đền thờ phụng để ghi nhớ cái công đức của ngài.

    ----------------------------------------------------------------

    TRẦN ANH TÔNG (TRẦN THUYÊN) 1293-1314

    Ở tuổi mười bảy, hoàng tử Trần Thuyên đã được vua cha Trần Nhân Tông truyền ngôi (1293), theo đúng phép tắc nhà Trần. Truyền ngôi là để ổn định vị trí khi cha còn sống, không có chuyện cạnh tranh, hiềm khích để tranh chức tranh ngôi, và cũng là "tập làm vua" cho quen việc, chứ thực ra bao nhiêu quyền hành vẫn còn ở trong tay vua cha, lúc bấy giờ được tôn là Thượng hoàng. Nói Thượng hoàng nghe ra có vẻ trịnh trọng, già cả, chứ thực ra Trần Nhân Tông khi truyền ngôi, mới có 35 tuổi. Ông vẫn trực tiếp chỉ huy đất nước, còn nhà vua mới, gần như chỉ có cái danh vị vua, chứ thực sự thì vẫn là một hoàng tử mang áo quần vua mà thôi.

    Chính vì thế mà chàng thiếu niên Trần Thuyên vẫn chưa bỏ được cái tính ham chơi của cậu bé mới lớn. Làm vua thì phải ngồi ngự ngai vàng, phải ra mắt cho các quan đến chầu chực tung hô, cậu Thuyên thấy thực là gò bó, không được tự nhiên. Và cũng chẳng thú vị gì cái cảnh ngồi lỳ suốt buổi, nhìn Thượng hoàng giải quyết mọi công việc cho mình theo dõi, học tập để làm quen. Nhất là khi có những việc bình thường, Thượng hoàng bảo mình hãy tự ứng phó, nó cứ lúng túng ngượng ngùng làm sao ấy Làm vua quả tình là một cái nạn, mất cả thú vui của con người trẻ tuổi mới bước vào đời!

    Do vậy, Trần Thuyên phải tìm mọi cách để chơi bời. Ban ngày bị gò bó vào khuôn phép, ban đêm Trần Thuyên tranh thủ gọi một vài tên thị vệ, rủ nhau đi lang thang các phố, các xóm ở kinh thành, tìm nơi chè chén, múa hát, có đêm la cà hết nơi này đến nơi khác. Tất nhiên, lúc đó ông vua trẻ này đã cải trang, trà trộn vào đám đông, chẳng ai biết người này người kia là ai cả. Có bữa, anh bị bọn côn đồ đánh đuổi, ném gạch trúng vào đầu sưng vếu lên. Tất nhiên là anh phải giấu kín, tìm cách xoa bóp rồi cố gắng giữ tư thế đường hoàng để ngày mai lại ngồi lên ngai vàng cho trăm quan chầu chực.

    Nhất là có những dịp mà thượng hoàng Nhân Tông tạm thời vắng mặt ở kinh thành về ở dưới Thiên Trường ( Nam Định), để mọi việc cho ông vua trẻ quản lý. Anh Tông đã lợi dụng cơ hội không có người giám sát, sinh hoạt càng tự do phóng túng hơn, lại uống rượu, và đánh bạc. Triều đình và quan lại cũng có người muốn ngăn cản, nhưng lại nghĩ mọi việc đều có Thượng hoàng, hãy chờ Thượng hoàng về giải quyết. Dù sao, nên xử sự rộng rãi, lấy lòng ông vua con này sẽ đỡ được những điều phiền phức hơn. Rồi có một hôm, bất thần Thượng hoàng Trần Nhân Tông từ Thiên Trường về Kinh đô, các quan đều có mặt đông đủ để đón rước. Hỏi đến nhà vua, thì vua còn say rượu, đang ngủ mê man? Thượng hoàng vô cùng tức giận, ông lập tức quay về Thiên Trường ngay, không vào kinh nữa . Ông ra lệnh cho tất cả trăm quan, ngay ngày hôm sau đều phải về điểm danh ở Thiên Trường, ai vắng mặt sẽ bị xử tội. Cả triều đình hoảng lên, có người vội vàng chạy vào báo cho nhà vua. Sực tỉnh, mắt nhắm mắt mở, vua Anh Tông nghe tin, Thượng hoàng về kinh, cũng hốt hoảng kinh sợ, vội chạy đi tìm các quan thân tín thì không thấy một ai . Họ đã về nhà để sắm sửa ngày mai đi về Thiên Trường cho Thượng hoàng điểm diện. Nhà vua chạy từ cung này, sang lầu khác, vẫn chẳng có người để tìm kể hỏi han. May sao khi qua chùa Tư Phúc, ông gặp một người học trò trẻ tuổi đang tha thẩn ở đó. Hỏi vài câu chuyện, biết đây là một thanh niên học thức có tài, nhà vua kể chuyện thực để nhờ người học trò giúp đỡ. Người này có tên là Đoàn Nhữ Hài, quê làng Trường Tân, huyện Gia Lộc, thuộc Hồng Châu (nay là Hải Dương) , nổi tiếng về văn chương ngôn luận, nhưng lúc này chưa thi cử và chưa có chức vị gì. Chỉ mấy khắc ngồi trong chùa, Đoàn Nhữ Hài đã thảo xong cho nhà vua trẻ một bài biểu tạ tội, đọc rất cảm động. Trần Anh Tông rất hài lòng và ngay lập tức xuống thuyền, đi suốt đêm về Thiên Trường, mang Đoàn Nhữ Hài đi theo . Tới nơi, cũng chính Đoàn Nhữ Hài mang tờ biểu vào, nhưng vua Nhân Tông không cho gặp mặt. Anh Tông thì cứ đứng lấp ló ngoài cửa cung, còn Đoàn Nhữ Hài quỳ hẳn xuống thềm, hai tay cầm bài biểu, cứ giữ nguyên tư thế suốt từ sáng đến chiều. Bất thần, trời bỗng mưa to, Đoàn Nhữ Hài vẫn quì không quản gì mưa gió. Nội giám vào báo lại với Nhân Tông. Thượng hoàng cảm động, sai người ra cho Đoàn Nhữ Hài dứng dậy và nhận tờ biểu. Đọc qua, Thượng hoàng cảm thấy hài lòng, liền cho phép Anh Tô ng vào gặp. Thượng hoàng trách cứ con, lời lẽ nghiêm khắc, nhưng đã có vẻ ôn tồn:
    Trẫm giao cho anh trọng trách quản lý đất nước, sao anh lại hoang toàng như thế. Nhà ta còn có nhiều con, người này làm việc không xứng đáng thì ta sẽ giao cho người khác. Hiện ta đang còn sống mà anh đã bừa bãi như thế, sau này ta mất đi thì anh còn phóng túng đến mức nào?
    Anh Tông cúi đầu nhận lỗi, xin từ nay cố gắng sửa chữa để xứng đáng với sự ân cần của vua cha. Thượng hoàng cho gọi Đoàn Nhữ Hài vào, khen ngợi:
    - Bài biểu của ngươi làm cho quan gia rất khá. Ta có lời khen nhà ngươi.
    Thượng hoàng quay lại nói với Anh Tông:
    - Người này có khả năng đấy, nên để tâm thu dụng.

    *
    * *

    Kể từ hôm đó , vua Trần Anh Tông thay đổi hắn tính tình. Từ một thanh niên thích chơi bời phóng túng, ông trở nên con người mẫn cán, chăm chỉ, rất chú trọng đến công việc trị nước an dân. Trước hết, ông đặc biệt chú ý đến kinh nghiệm của cha anh những năm vừa qua, phải đối phó với bọn giặc Nguyên hung bạo. Vào những năm cuối thế kỷ 13, vua Nhân Tông, đã được các triều thần giúp đỡ, đặc biệt là được Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi, Trần Anh Tông rất tự hào, thường đến gặp Trần Hưng Đạo để hỏi han. Lớp trẻ chưa có kinh nghiệm nhiều thì cần phải đến xin ý kiến người già, chàng thanh niên Anh Tông đã rất ý thức được điều đó . Năm Canh Tý (1300) Trần Hưng Đạo ốm nặng, Anh Tông thân hành đến nhà hỏi thăm. Ông trịnh trọng nói với Hưng Đạo Vương:
    - Thượng phụ đang ốm nặng, và cũng đã cao tuổi rồi. Một mai giặc Nguyên lại kéo sang, không còn Thượng phụ để lo liệu cho quốc gia nữa thì cháu biết làm thế nào.
    Trần Hưng Đạo lúc đó đã yếu nhưng giọng nói vẫn còn rõ ràng, rắn rỏi:
    Không có gì phải lo cả. Mất ta, nhưng còn bao nhiêu trung thần nghĩa sĩ khác, đều nhất tâm báo quốc. Nhà vua có thể tin tưởng vào họ. Có điều là người lãnh đạo quốc gia phải có đường lối vững, có kế sách thông suốt. Có được điều ấy thì dù giặc có bạo ngược đến đâu cũng không đáng sợ.
    Anh Tông ân cần nói tiếp:
    - Xin thượng phụ cho biết kế sách, đường lối nên như thế nào ? Trần Hưng Đạo trả lời: - "Mới rồi, Toa Đô và Ô Mã Nhi bị bốn mặt bao vây, vì vua tôi nước ta đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước ra sức nên bọn giặc phải thua . Nhà vua nên để ý về cách thức hành quân của địch. Nếu thấy chúng kéo đến ồ ạt như lửa cháy, gió thổi, thì đừng có hoang mang. Cái hung hăng ban đầu của chúng như vậy lại rất dễ chế ngự, ta có thể thắng chúng một cách dễ dàng. Còn nếu chúng kéo sang mà từ từ, chậm chạp như cách tằm ăn dâu, không lấy của dân, không cần đánh nhanh thắng nhanh thì trường hợp ấy phải thận trọng đối phó. Phải chọn tướng giỏi, biết xem xét, quyền biến như tính liệu nước cờ. Tùy thời cơ mà vận dụng chiến lược chiến thuật thì lo gì không thắng. Nhưng vấn đề cơ bản nhất là ở hai điều:
    - Một là vua tôi, tướng tá, binh lính phải dốc sức một lòng, tình thiết như cha con thì mới thực hiện được các kế hoạch.
    Hai là phải khoan sức dân. Phải cho dân được hồ hởi, thì dân mới cung ứng được sức người sức của.
    - Hai điều ấy chính là kế sâu gốc vững để bảo vệ nước nhà . Thượng sách giữ nước là ở đó".
    Trần Anh Tông đã nhất nhất tuân theo lời chỉ bảo của Trần Hưng Đạo, tuy còn ít tuổi, nhưng ông đã giữ đúng tư cách một vị nguyên thủ quốc gia, không chịu khuất phục trước thế lực của ngoại bang. Bọn sứ giả nhà Nguyên mấy năm liên tiếp (1293- 1295-1299) được cử sang ta vẫn tỏ thái độ hống hách. Anh Tông vừa lên ngôi, sứ giả Lương Tăng đến Thăng Long đã yêu cầu nhà vua phải sang chầu hầu thiên triều. Anh Tông nhất quyết không chịu. Ông giả vờ cáo bệnh, cho một vị quan là Đào Từ Kỳ thay mình đem lễ vật sang biếu vua Nguyên. Tiếp đến năm 1313, ở biên giới Việt - Trung, bọn quan lại nhà Nguyên lại gây sự, lấn đến hơn một nghìn khoảnh ruộng. Nhất quyết không để cho dất đai của Tổ quốc mất một phân ly nào, Anh Tông lập tức cho quân sang đánh thẳng vào các châu Chư Thuận, châu Dưỡng Lợi thuộc địa giới nhà Nguyên và tuyên bố hẳn đó là trận đánh báo thù. Triều đình nhà Nguyên phải cử người đến cùng các quan nhà Trần giải quyết, định lại ranh giới bờ cõi. Việc ấy mới yên. ở phía Nam và phía Tây, Trần Anh Tông cũng chú ý đến việc giữ gìn bờ cõi, dùng sức mạnh thị uy để những nước láng giềng này không được gây hấn. Phạm Ngũ Lão, vị tướng tài con rể Trần Hưng Đạo, đã có chiến công lớn từ thời Trần Nhân Tông, nay lại được Anh Tông tín nhiệm, giao cho việc dẹp yên bờ cõi phía Tây. Phạm Ngũ Lão đã đánh thắng quân Ai Lao, khiến cho các vùng Thanh Hóa, Nghệ An của nước ta được yên ổn. Đối với Chiêm Thành, Anh Tông cũng có thái độ mềm dẻo thích hợp. Từ 1306, vâng lời Thượng hoàng Trần Nhân Tông, Anh Tông cho em gái là Huyền Trân công chúa sang làm vợ vua Chiêm là Chế Mân. Sự giao hảo này đã khiến cho bản đồ Việt Nam được mở rộng thêm.

    Những châu này được đổi tên thành Thuận Châu và Hóa Châu. Anh Tông đã cho Đoàn Nhữ Hài vào ổn định tình hình, sắp đặt việc trị an.
    Đoàn Nhữ Hài là người trước đây đã giúp Anh Tông cáo lỗi với Thượng hoàng, nay được thu dụng làm một vị quan trọng yếu.

    Chỉ riêng một việc biết sử dụng Đoàn Nhữ Hài, mà về sau, nhiều người đã đánh giá Trần Anh Tông một cách rất trân trọng. Một ông vua trẻ, biết sử dụng nhân tài trẻ. Điều này giúp ta nhớ đến câu thơ của một tác giả người Pháp sau này: "Giá trị con người không phải đợi đến số lượng tháng năm?"

    *
    * *

    Có lẽ do có tâm hồn và phong cách thanh niên mà Trần Anh Tông, so với nhiều vị vua khác, đã tự bộc lộ mình ở một số khía cạnh độc đáo . Ông rất yêu nghệ thuật và rất thích văn chương. Ông làm thơ nhiều, nhưng đã xem thơ ca như một lợi khí dĩ dưỡng tính tình, diễn đạt tâm hồn ở những thời gian nhất định, chứ không có dụng ý lưu lại công trình, nghĩ tới danh hiệu về sau. Ông có tập thơ lấy tên là Thùy vân tùy bút, nhưng đến lúc sắp mất, lại cho đốt đi, chứ không cho để lại, thành thử bây giờ chúng ta không được biết tác phẩm của ông như thế nào . Ông cũng rất thích vẽ . Có dịp ông cũng phóng bút vẽ những bức tranh, và sau đó cũng không đồng ý cho ai thu thập lại. Tuổi trẻ say sưa, ông muốn tự thể hiện mình bằng nét vẽ câu thơ, có lẽ chỉ cốt ghi lại những gì của thời thanh niên sôi nổi, nhưng sau đó ông lại không muốn lưu lại những dầu ấn gì. Ông cũng rất thích các sinh hoạt văn nghệ dân gian. Năm 1296, ông đã thân hành đến Đông Bộ Đầu để dự một cuộc đua thuyền trên sông Hồng, cùng chia vui với dân chúng để mừng mùa màng năm ấy tốt đẹp. Nhà vua thực sự là một thanh niên yêu đời, hòa được với niềm vui phơi phới của nhân dân.

    Mặc dầu có những biểu hiện phóng khoáng, tuổi trẻ như vậy song Anh Tông lại vẫn có tư tưởng độc lập trong cuộc sống, đồng thời rất biết khép mình vào kỷ luật và giữ gìn kỷ luật rất nghiêm minh. Đời nhà Trần có tục lệ vẽ mình. Xuất thân từ miền sông nước, các vị tiền bồi trong dòng họ Trần thường vẽ mình để khi lặn xuống biển, tự xem mình là dòng giống của giao long, các loài thủy tộc không dám xâm phạm. Các vua Trần xưa nay đều theo tục ấy nhưng Trần Anh Tông nhất định không theo. Chàng thanh niên mang áo hoàng bào này đã cố tình tránh các ông thợ vẽ, không cho họ vẽ vào đùi, vào lưng mình. Phải can đảm lắm mới dám cưỡng lại tập tục như thế. Và có lẽ đó là bản lĩnh thanh niên, không chịu chấp nhận một tập tục theo ông là không thích hợp với thế hệ mới mà thôi. Trần Anh Tông lại cũng không chịu nghe theo những ông thầy tụng, thầy pháp lúc bấy giờ. Có lần vua bị mệt nặng, hoàng hậu và một số người trong hoàng tộc bàn cách cho gọi các nhà sư, các vị thầy cúng vào để hỏi han về mệnh hệ, về đường sinh tử huyền bí như thế nào. Anh Tông đã gạt đi:
    Sống chết tùy theo tình hình, theo hoàn cảnh của từng người nhất định. Nhà sư đã chết đâu mà biết được sự chết?
    Tư tưởng độc lập này của ông đã hạn chế được khá nhiều khuynh hướng sùng bái, mê tín dị đoan hồi bấy giờ . Ông còn tỏ ra rất nghiêm khắc đối với những thói bê tha, chơi bời quá mức. Dưới triều ông, những viên quan ham đánh bạc bị xử tội rất nặng, đến nỗi như Nguyên Hưng đã lên đến bậc quan cao (Thượng phẩm) vì đánh bạc nên bị đòn, phạt trượng, đau đến nỗi về nhà thì chết. Viên quan nội thư chánh chưởng là Nguyễn Quốc Phụ đã chuẩn bị thăng lên chức Hành khiển, chỉ vì hay uống rượu mà Anh Tông nhất định gạt đi không dùng. Nguyễn Sĩ Cố và Chu Bộ đều là người hầu cận đắc lực, nhưng thật ra không có tài cho nên không được vua Anh Tông giao trọng trách. Kể cả những người thân trong gia đình nhà vua, Anh Tông cũng bắt phải tuân theo phép tắc, không được vượt khỏi qui định. Bà Huy Tư (mẹ của vua Minh Tông sau này, tức là vợ Anh Tông) được Bảo Từ hoàng hậu rất yêu quí, mỗi khi đi đâu hoàng hậu đều cho Huy Tư được ngồi kiệu giành riêng cho mình. Anh Tông cho như thế là vi phạm điểm chế, nhất định không cho phép. Ông nói: Hoàng hậu quí Huy Tư thì nên cho thứ khác, chứ không được cho ngồi kiệu như thế, không đúng phép nước mà coi thường luật lệ của triều đình.
    Chính vì Anh Tông là vị vua biết giữ gìn tư cách như vậy, mà dưới triều đại của ông, các quan lại đều rất xứng đáng với chức của mình, đã hoàn thành được công việc mà đều lưu được tiếng tốt: cương trực, thanh liêm. Một trong những vị quan thời bấy giờ là Trần Thì Kiến, nổi tiếng là viên quan chính trực, xử kiện rất giỏi.

    Anh Tông làm vua 21 năm. Ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần (1314) nhường ngôi cho con là Minh Tông, để trở thành Thượng hoàng mới có 38 tuổi. Ông giữ trách nhiệm Thượng hoàng trong vòng 7 năm. Năm Canh Thân (1320) Anh Tông mất, trị vì được 21 năm, thọ 54 tuổi
    athaydo vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Thông Báo Nội Dung Xấu Trả Lời Với Trích Dẫn

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • Trần Minh Tông (1324 – 1329)

    Niên hiệu: Đại Khánh (1314 – 1323), Khai Thái (1324 – 1329)

    Năm Giáp Dần (1314) Thái tử Mạnh lên ngôi làm Vua, tức là Vua Minh Tông.

    Thời bấy giờ làm quan tại triều có Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An… đều là những người có tài cán trí lực cả.

    Trong nước được yên trị: giao hiếu với nước Tàu thì tuy rằng có lôi thôi về đường phân địa giới, nhưng đại khái vẫn được hòa hảo. Duy chỉ có nước Chiêm Thành từ khi Chế Chí chết rồi, thì người Chiêm cứ hay sang quấy nhiễu ở phía nam, cho nên phải dùng đến can qua. Năm Mậu Ngọ (1318), Minh Tông sai Huệ Võ Vương Trần Quốc Chân và tướng quân Phạm Ngũ Lão đem binh đi đánh, Vua Chiêm là Chế Năng phải bỏ thành mà chạy.

    Còn những việc chính trị ở trong nước, thì năm Ất Mão (1315) lập lệ cấm người trong họ không được đi thưa kiện nhau; năm Bính Thìn (1316) duyệt định văn võ quan cấp; năm Quý Tị (1323) mở khoa thi Thái học sinh; năm ấy lại cấm quân sĩ không được vẽ mình như trước. Nước ta bỏ lệ vẽ mình từ đấy.

    Minh Tông vốn là ông Vua có lòng nhân hậu, hay thương yêu nhân dân, nhưng chỉ vì nghe nịnh thần cho nên giết oan Huệ Võ Vương Trần Quốc Chân, là người làm quan có công với nước.

    Trần Quốc Chân là người thân sinh ra Hoàng hậu và lại có công đi đánh Chiêm Thành thắng trận mấy lần. Nhưng vì Hoàng hậu chưa có Hoàng tử, triều thần phân ra làm hai đảng, một đảng thì có Văn Hiến hầu và Trần Khắc Chung, xin lập Hoàng tử Vượng là con bà thứ, làm Thái tử. Một đảng thì có Trần Quốc Chân xin chờ cho Hoàng hậu có con trai rồi sẽ lập Thái tử.

    Sau Văn Hiến hầu cho tên Trần Nhạc là đầy tớ của Trần Quốc Chân một trăm lạng vàng xúi nó vu cáo cho Quốc Chân làm mưu phản. Minh Tông bắt Quốc Chân đem giam ở chùa Tư Phúc.

    Trần Khắc Chung xin Vua trừ Quốc Chân đi, lấy lẽ rằng bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó. Minh Tông nghe lời ấy, cấm không cho Quốc Chân ăn uống gì cả, đến nỗi khát nước quá, Hoàng hậu phải lấy áo nhúng xuống nước rồi mặc vào vắt ra cho uống. Uống xong thì chết. Sau có người vợ lẽ tên Trần Nhạc ghen nhau với vợ cả, đi tố cáo ra việc Trần Nhạc lấy vàng và vu cáo cho Trần Quốc Chân. Bấy giờ mới rõ cái tình oan của một người trung thần.

    Minh Tông làm Vua đến năm Ất Tị (1329), thì nhường ngôi cho Thái tử Vượng rồi về làm Thái thượng hoàng.

    ------------------------------------------------------------------

    Trần Minh Tông là vị vua thứ năm triều Trần.

    Tên thật là Trần Mạnh, con thứ tư­ của Trần Anh Tông. Mẹ ông là Chiêu Hiến Hoàng Thái Hậu, con gái Trần Bình Trọng. Ông sinh năm 1300. Quê hương Tức Mạc, Phủ Thiên Trường ngày nay là xã Lộc Vượng , thành phố Nam Định.

    Trần Minh Tông lên ngôi vua 1314, ông có lòng nhân hậu biết trọng người hiền tài, có nhiều hiền thần xung quanh phò tá như: Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Nguyễn Trung Ngạn...

    Trần Minh Tông có nhiều kế sách củng cố cơ nghiệp nhà Trần. Ông biết cương, biết nhu trong việc bang giao với nước ngoài, để bảo vệ nền độc lập của đất nước. Ông quan tâm khuyến khích nông nghiệp, coi trọng nho học. Ông là một nhà thơ có tài. Thơ ông thấm được tinh thần yêu nước, thương dân.

    Những tác phẩm chính : Minh Tông thi tập - Đề tựa sách Đại hương hải ấn của Trần Nhân Tông - 25 bài thơ trong Việt âm thi tập.

    Tác phẩm của ông ngày nay đã mất gần hết do giặc Minh huỷ hoại và do ông yêu cầu đốt sách của mình trước khi băng hà.

    Sai lầm lớn nhất của ông đã nghe nịnh thần giết oan Huệ Võ Vương Trần Quốc Chẩn là chú ruột, đồng thời là bố vợ.

    Năm 1329 ông nhường ngôi cho con là Thái tử Trần Vượng. Trần Minh Tông mất ngày 19 tháng 2 năm Đinh Dậu, thọ 57 tuổi, ở ngôi 15 năm. Triều đại ông là thời đại thịnh trị cuối cùng của thời Trần.
    athaydo vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Thông Báo Nội Dung Xấu Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Nhanh
    athaydo
    Xem hồ sơ
    Gởi nhắn tin tới athaydo
    Tìm kiếm các bài viết của
    Bỏ athaydo vào Sổ Bạn Bè
    Tuổi 27-09-2004, 01:16 PM #8
    athaydo
    Thượng sĩ già

    athaydo's Avatar

    Tham gia ngày: Jul 2004
    Bài gởi: 927

    Ngầm định Trần Hiến Tông (1329 - 1341)
    Niên hiệu: Khai Hữu
    Thái tử Vượng mới có 10 tuổi, lên làm vua, tức là vua Hiến Tông.

    Hiến Tông chỉ làm vua lấy vì mà thôi, quyền chính ở cả tay Minh Tông Thượng hoàng, cho nên tuy ngài có làm vua được non 13 năm, nhưng không tự chủ được việc gì.

    1. GIẶC NGƯU HỐNG. Minh Tông Thượng hoàng vừa nhường ngôi xong, thì ở mạn Đà Giang có Mường Ngưu Hống làm loạn. Thượng hoàng phải thân chinh đi đánh. Người Ngưu Hống ở trại Chiêm Chiêu đưa thư đến giả xin hàng. Nhưng khi đạo quân ở Thanh Hoá đi đến nơi, thì bị người ở trại ấy đổ ra đánh, phải thua chạy. Thượng hoàng đem đại binh tiến lên, thanh thế lừng lẫy, quân Ngưu Hống bỏ chạy cả vào rừng. Quân giặc tuy thua nhưng không trừ hết được, mãi đến năm Đinh Sửu (1337) tướng nhà Trần là Hưng Hiếu Vương chém được thủ đảng Ngưu Hống ở trại Trịnh Kỳ, thì giặc ấy mới yên.

    2. GIẶC AI LAO. Trong khi giặc Ngưu Hống còn đang quấy nhiễu, giặc Ai Lao lại sang đánh phá. Năm Giáp Tuất (1384...?) Minh Tông Thượng hoàng lại phải thân chinh đi đánh. Sai ông Nguyễn Trung Ngạn vào Thanh Hoá sung chức Phát vận sứ để vận lương đi trước, Thượng hoàng đem đại quân vào sau. Khi đại quân vào đến Kiềm Châu (Thuộc huyện Tương Dương, Nghệ An), quân Ai Lao nghe tiếng đều bỏ chạy cả.

    Thượng hoàng bèn sai ông Nguyễn Trung Ngạn làm bài bia khắc trên núi để ghi công. Bài bia ấy chữ to bằng bàn tay, khắc vào đá sâu một tấc, đến nay vẫn còn.

    Văn bài bia ấy dịch ra chữ Nôm như sau này:

    "Chương nghiêu Văn Triết Thái Thượng hoàng là vua thứ 6 đời nhà Trần, nước Hoàng Việt, chịu mệnh trời nhất thống cõi Trung Hạ, trong đất ngoài bể đâu cũng thần phục. Nước Ai Lao nhỏ mọn kia dám ngạnh vương hoá; cuối mùa thu năm Ất Hợi vua thân đem sáu quân đi tuần cõi tây, Thế tử nước Chiêm Thành, nước Chân Lạp, nước Tiêm La và tù trưởng các đạo Mán là Quỳ, Cầm, Xa, Lạc, tù trưởng rợ Bồ Man mới phụ và các bộ Mán Thanh Xa đều mang phương vật tranh nhau đến đón rước. Chỉ có tên nghịch Bổng cứ giữ mê tối, sợ phải tội chưa lại chầu ngay. Cuối mùa đông vua đóng quân ở cánh đồng Cự, thuộc châu Mật, sai các tướng và quân rợ mọi vào tận nước, nghịch Bổng theo gió chạy trốn. Vua mới xuống chiếu đem quân về. Lúc bấy giờ là ngày tháng Chạp nhuận năm Ất Hợi, niên hiệu Khai Hữu thứ 7, khắc vào đá".

    Xem văn từ thì hình như việc Minh Tông Thượng hoàng đi đánh Ai Lao thật là hống hách lắm, nhưng cứ sự thực thì quân ta bấy giờ chưa ra khỏi cõi, mà giặc Ai Lao vẫn chưa trừ được. Còn như việc Thế tử nước Chân Lạp và nước Tiêm La v.v.... sang chầu, thì thiết tưởng đấy là một lối làm văn của nhà làm bia nói cho trân trọng đó mà thôi, chứ chưa chắc đã hợp với sự thực.

    Năm sau quân Ai Lao sang cướp ở ấp Nam Nhung (thuộc huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An). Minh Tông Thượng hoàng lại ngự giá đi đánh lần nữa. Ngài sai quan Kinh lược đại sứ tỉnh Nghệ An là Đoàn Nhữ Hài làm Đô đốc chư quân. Đoàn Nhữ Hài khinh quân Ai Lao hèn yếu, chắc đánh là tất được. Đến khi đem quân đến ấp Nam Nhung qua sông Tiết La chẳng may phải hôm có sương mù, bị phục binh của Ai Lao đổ ra đánh, quan quân thua chạy cả xuống sông, chết đuối nhiều lắm. Đoàn Nhữ Hài cũng chết đuối.

    Xét ra nước Ai Lao đã sang quấy nhiễu đất An Nam từ đời vua Nhân Tông và vua Anh Tông. Quan quân đã phải đi đánh nhiều lần, nhưng lần nào đánh xong thì cũng chỉ yên được độ vài ba năm, rồi giặc lại sang phá. Mà quan quân có đi đánh thì cũng chỉ đánh cho nó đừng sang ăn cướp ở đất mình nữa mà thôi, chứ không có lúc nào định chiếm giữ đất Ai Lao cả. Có lẽ là tại đất Ai Lao nhiều rừng lắm núi, phải sơn lam thuỷ chướng, đường sá xa xôi, vận tải khó nhọc, cho nên quân ta không ở được lâu. Còn người Ai Lao thì họ thuộc đường sá, quen phong thổ, tiến thoái tuỳ tiện: thắng trận thì họ tiến lên đánh, bại trận thì họ rút quân đi, mình không biết đâu mà đuổi. Bởi thế cho nên quân ta vẫn đánh được giặc mà giặc vẫn còn, thành ra cứ phải đi đánh mãi.

    HiếnTông làm vua đến năm Tân Tị (1341) thì mất trị vì được 13 năm, thọ 23 tuổi.
    --------------------------------------------------------------------
    Trần Hiến Tông là vị vua thứ 6 thời Trần

    Tên thật là Trần Vượng, con Trần Minh Tông, sinh ngày 17-5 năm Kỷ Mùi 1319. Quê hương Tức Mạc, Phủ Thiên Trường nay xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định.

    Trần Hiến Tông được cha truyền ngôi năm 1329 lúc mới 10 tuổi. Vì ông còn quá nhỏ nên mọi việc triều chính đều do cha là Hoàng Thượng Minh Tông và các đại thần đảm nhiệm.

    Thời gian ở ngôi ông chủ yếu tập trung vào việc học hành do các bậc đại khoa trong triều giảng dậy. Trần Hiến Tông làm vua 13 năm từ 1329 đến 1341. Ông mất 1341 thọ 22 tuổi

    Dưới triều Trần Hiến Tông, triều Trần đã xuất hiện những dấu hiệu suy thoái.

    Vì còn quá trẻ lại mất sớm nên Trần Hiến Tông không để lại dấu ấn gì trong lịch sử.

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • Trần Dụ Tông (1341-1369)

    Trần Dụ Tông (1341-1369)
    Niên hiệu:

    - Thiệu Phong (1341-1357)
    - Đại Trị (1358-1369)

    Vua Hiến Tông không có con nên việc truyền ngôi báu do Thượng hoàng xếp đặt. Thượng hoàng Minh Tông có 7 con trai: Hiến Tông Vượng, Cung Túc vương Dục, Cung Định vương Trạch, Dụ Tông Hạo, Cung Tĩnh vương Nguyên Trạch, Nghệ Tông Phủ, Duệ Tông Kính.

    Hiến Tông mất, Thượng hoàng lập người con tên Hạo, sinh năm Bính Ngọ (1336) lên làm vua hiệu là Dụ Tông. Những năm đầu những quyền bính đều do Thượng hoàng Minh Tông điều khiển. Bởi thế, dù có mất mùa dân đói nhưng việc chính trị vẫn còn nền nếp. Từ năm 1358 trở đi, Thượng Hoàng mất, các cựu thần như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn cũng không còn, triều đình bắt đầu rối loạn. Bọn gian thần kéo bè kết đảng lũng đoạn triều chính. Chu Văn An dâng "thất trảm sớ", xin chém 7 gian thần nhưng vua không nghe, ông liền bỏ quan về dạy học. Vua Dụ Tông ham chơi bời rượu chè khiến triều đình rối nát loạn nổi lên như ong. Nhân dân cực khổ trăm bề. Vua Chiêm là Chế Bồng Nga mấy lần đem quân đánh phá thành Thắng Long khiến triều Trần nhiều phen khốn đốn.

    Năm Kỷ Dậu (1369) vua Dụ Tông mất thì bão táp đã nổi lên ở cung đình. Nguyên do, Dụ Tông không có con nên triều đình lập Cung Định vương là anh Dụ Tông lên làm vua nhưng bà Hoàng thái hậu nhất định đòi lập người con nuôi của Cung Túc vương là Dương Nhật Lễ lên ngôi. Nguyên mẹ Nhật Lễ là một đào hát, lấy một kép hát bội là Dương Khương có thai rồi mới bỏ Dương Khương mà lấy Cung Túc vương sinh ra Nhật Lễ. Nay lên làm vua, Nhật Lễ muốn cải họ Dương để dứt ngôi nhà Trần rồi giết bà Hoàng thái hậu cùng Cung Định Vương. Cung Tĩnh vương vốn nhu nhược thấy thể bỏ trốn lên mạn Đà Giang.

    Trước tình hình nội chính rối ren, các tôn thất nhà Trần hội nhau khởi binh về bắt giết Nhật Lễ rồi rước Cung Tĩnh vương về làm vua, tức vua Trần Nghệ Tông.

    -------------------------------------------------------------------
    Niên hiệu: Thiệu Phong (1341 – 1357) Đại Trị (1358 – 1369)

    1.VIỆC CHÍNH TRỊ. Hiến Tông không có con, Minh Tông thượng hoàng lập người em tên là Hạo lên làm vua, tức là vua Dụ Tông.

    Trong những năm Thiệu Phong, là mười mấy năm đầu, tuy Dụ Tông làm vua, nhưng quyền chính trị ở Minh Tông thượng hoàng quyết đoán cả, cho nên dẫu có phải mấy năm tai biến mất mùa đói khổ, nhưng việc chính trị còn có thứ tự. Từ năm Đại Trị nguyên niên (1358) trở đi, Thượng hoàng mất rồi, bọn cựu thần như ông Trương Hán Siêu, ông Nguyễn Trung Ngạn cũng mất cả, từ đó việc chính trị bỏ trễ nải. Kẻ gian thần mỗi ngày một đắc chí. Ông Chu Văn An là một nhà danh nho thời bấy giờ và đang làm quan tại triều, thấy chính trị bại hoại, làm sớ dâng lên xin chém bảy người quyền thần. Vua không nghe, ông ấy bỏ quan về ở núi Chí Linh.

    Vua Dụ Tông về sau cứ rượu chè chơi bời, xây cung điện, đào hồ đắp núi, rồi lại cho gọi những người nhà giàu vào trong điện để đánh bạc. Bắt vương hầu công chúa phải đặt chuyện hát tuồng[1] và bắt các quan thi nhau uống rượu, ai uống rượu được một trăm thăng thì thưởng hai trật.

    Chính sự như thế, cho nên giặc cướp[2] nổi lên như ong dấy: ở mạn Hải Dương thì có giặc Ngô Bệ làm loạn ở núi Yên Phụ; ở các nơi thì chỗ nào cũng có giặc nổi lên cướp phá, dân tình khổ sở, năm nào cũng phải đói kém. Cơ nghiệp nhà Trần bắt đầu suy từ đấy.

    2. VIỆC GIAO THIỆP VỚI NƯỚC TÀU. Bấy giờ ở bên Tàu, nhà Nguyên đã suy, trong nước rối loạn, có bọn Trần Hữu Lượng, Trương Sĩ Thành, Chu Nguyên Chương khởi binh đánh phá.

    Chu Nguyên Chương dấy binh ở đất Từ Châu (tỉnh An Huy), chiếm giữ thành Kim Lăng, rồi trong 15 năm dứt được nhà Nguyên dẹp yên thiên hạ, dựng nên cơ nghiệp nhà Minh.

    Năm Mậu Thân (1368) Minh Thái Tổ sai sứ đưa thư sang dụ nước ta, Dụ Tông sai quan Lễ bộ Thị lang là Đào Văn Đích sang cống.

    Nước Nam ta bấy giờ tuy đã suy nhược, nhưng mà nhà Minh mới định xong thiên hạ, còn phải sửa sang việc nước, chưa dòm đến nước mình, cho nên cũng chưa có việc gì quan trọng lắm.

    3. VIỆC GIAO THIỆP VỚI CHIÊM THÀNH. Từ khi vua nước Chiêm Thành là Chế A Nam mất rồi, con là Chế Mộ và rể là Bồ Đề tranh nhau làm vua. Người Chiêm Thành bỏ Chế Mộ mà theo Bồ Đề; qua năm Nhâm Thìn (1352) Chế Mộ chạy sang An Nam cầu cứu.

    Đến năm Quí Tị (1353) Dụ Tông cho quân đưa Chế Mộ về nước, nhưng quan quân đi đến đất Cổ Lụy (thuộc Quảng Nghĩa) bị quân Chiêm đánh thua, phải chạy trở về. Chế Mộ cũng buồn rầu chẳng bao lâu thì chết.

    Người Chiêm Thành từ đấy được thể cứ sang cướp phá ở đất An Nam.

    Năm 1367, Dụ Tông sai Trần Thế Hưng và Đỗ Tử Bình đi đánh Chiêm Thành. Quan quân đi đến Chiêm Động (thuộc phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) bị phục quân của Chiêm Thành đánh bắt mất Trần Thế Hưng, Đỗ Tử Bình đem quân chạy trở về.

    Người Chiêm thấy binh thế nước Nam suy nhược, có ý khinh dễ, cho nên qua năm Mậu Thân (1368) vua nước Chiêm cho sứ sang đòi đất Hóa Châu. Việc đòi Hóa Châu này thì sử chỉ chép qua đi mà thôi. Vả bấy giờ ở nước Nam ta, vua Dụ Tông chỉ lo việc hoang chơi, không tưởng gì đến việc võ bị; mà ở bên Chiêm Thành thì có Chế Bồng Nga là một ông vua anh hùng, có ý đánh An Nam để rửa những thù trước. Vậy cho nên hết sức tập trận, luyện binh; bắt quân lính phải chịu khó nhọc cho quen, dàn trận voi cho tiện đường lui tới: thắng thì cho voi đi trước để xông đột, bại thì cho voi đi sau để ngăn giữ quân nghịch. Nhờ cách xếp đặt có thứ tự, dụng binh có kỷ luật như thế, cho nên quân Chiêm Thành từ đó mạnh lắm, sau đánh phá thành Thăng Long mấy lần, làm cho vua tôi nhà Trần phải kinh sợ mấy phen.

    4. DƯƠNG NHẬT LỄ (1369 – 1370). Năm Kỷ Dậu (1369), vua Dụ Tông mất, không có con. Triều đình định lập Cung Định Vương là anh Dụ Tông lên làm vua, nhưng mà bà Hoàng thái hậu nhất định lập người con nuôi của Cung Túc Vương là Dương Nhật Lễ.

    Nguyên mẹ Nhật Lễ là người con hát, lấy người hát bội tên là Dương Khương, có thai rồi mới bỏ Dương Khương mà lấy Cung Túc Vương, sinh ra Nhật Lễ. Nay lên làm vua, Nhật Lễ muốn cải họ là Dương để dứt ngôi nhà Trần, rồi giết bà Hoàng thái hậu và Cung Định Vương.

    Bấy giờ Cung Tĩnh Vương Phủ ở chỗ kinh sư cũng sợ bị hại, vả lại tính khí cũng nhu nhược, không có ý cạnh tranh, mới bỏ trốn lên mạn Đà Giang. Các quan tôn thất nhà Trần mới hội nhau đem binh về bắt Nhật Lễ giết đi, rước Cung Tĩnh Vương về làm vua. Tức là vua Nghệ Tông.
    -----------------------------------------------------------
    Trần Dụ Tông (1341-1369)
    Niên hiệu: Thiệu Phong (1341-1357); Ðại Trị (1358-1369)
    Hiến Tông không có con nên việc truyền ngôi báu do Thượng hoàng xếp đặt. Thượng hoàng Minh Tông có 7 con trai: Hiến Tông vương, Cung Túc vương Dục, Cung Ðịnh vương Trạch, Dụ Tông Hạo, Cung Tĩnh vương Nguyên Trạch, Nghệ Tông Phủ, Duệ Tông Kính.
    Hiến Tông mất, Thượng hoàng lập người con tên là Hạo, sinh năm Bính Ngọ (1336) lên làm vua, hiệu là Dụ Tông. Nnững năm đầu mọi việc quyền bính đều do Thượng hoàng Minh Tông điều khiển. Bởi thế, dù có mất mùa dân đói nhưng việc chính trị còn có nền nếp. Từ năm 1358 trở đi, Thượng hoàng mất, các cựu thần như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn cũng không còn, triều đình bắt đầu rối loạn. Bọn gian thần kéo bè, kết đảng lũng đoạn triều chính. Chu Văn An dâng “thất trảm sớ”, xin chém 7 gian thần nhưng vua không nghe, ông liền bỏ quan về dạy học đã thế vua Dụ Tông ham chơi bời, rượu chè, xây cung điện để đánh bạc, mở tiệc bắt các quan thi nhau uống rượu, ai uống 100 thăng thì thưởng cho 2 trật.... khiến cho chiều đình thối nát, loạn lạc nổi lên như ong. Nhân dân cực khổ trăm bề.
    Bên ngoài nhà Minh mới đánh bại nhà Nguyên còn bận sửa sang việc nước chưa dòm ngó đến Ðại Việt. Trái lại, Chiêm Thành thấy nhà Trần suy yếu, có ý coi thường, muốn đòi lại đất Thuận Hoá. Vua Chiêm là Chế Bồng Nga mấy lần đem quân đánh phá thành Thăng Long khiến triều Trần nhiều phen khốn đốn.
    Năm Kỷ Dậu (1469) vua Dụ Tông mất thì bão táp đã nổi lên ở cung đình. Nguyên do Dụ Tông không có con. Triều đình lập Cung Ðịnh vương là anh Dụ Tông lên làm vua nhưng bà Hoàng thái hậu nhất định đòi lập người con nuôi của Cung Túc vương là Dương Nhật Lễ lên ngôi. Nguyên mẹ Nhật Lễ là một đào hát, lấy một kép hát bội là Dương Khương có thai rồi mới bỏ Dương Khương mà lấy Cung Túc vương sinh ra Nhật Lễ. Nay lên làm vua. Nhật Lễ muốn cải họ Dương để dứt ngôi nhà Trần rồi giết bà Hoàng thái hậu cùng Cung Ðịnh vương. Cung Tĩnh vương vốn nhu nhược thấy thế bỏ trốn lên mạn Ðà Giang.
    Trước tình hình nội chính rối ren, các tôn thất nhà Trần hội nhau khởi binh về bắt giết Nhật Lễ rồi rước Cung Tĩnh Vương về làm vua, tức vua Trần Nghệ Tông.

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • Trần Nghệ Tông (1370-1372)

    Niên hiệu: Thiệu Khánh
    Cung Tĩnh Vương sinh năm ất Sửu (1324), do các tôn thất nhà Trần phò giúp, lên ngôi năm Canh Tuất (1370). Nghệ Tông lên vua chưa được bao lâu đã phải lao đao chạy giặc. Nguyên do, khi Nhật Lệ bị giết, mẹ Nhật Lệ chạy vào Chiêm Thành cầu cứu vua Chế Bồng Nga đem quân đánh Ðại Việt. Quân Chiêm vượt bể vào cửa Ðại An tiến đánh Thăng Long. Quân Trần không chống nổi, phải bỏ kinh thành. Vua Nghệ Tông chạy sang Ðông Ngàn (Ðình Bảng, Bắc Ninh) lánh nạn. Quân Chiêm Thành vào thành đốt sạch cung điện bắt đàn bà con gái, lấy hết vàng bạc châu báu rồi rút quân về. Vua nhu nhược, bất lực không điều khiển nổi triều chính phải trao cho Hồ Quý Ly nhiều quyền hành. Hồ Quý Ly có hai người cô lấy vua Minh Tông. Một người là Minh Từ hoàng hậu sinh ra vua Nghệ Tông, một người là Ðôn từ hoàng hậu sinh ra vua Duệ Tông. Vì vậy, Nghệ Tông tin dùng phong Hồ Quý Ly làm khu Mật Ðại Sứ tại gia tước Trung Truyên Hầu.
    Năm Nhâm Tý (1372), Nghệ Tông truyên Ngôi cho em là Kính rồi về phủ Tiên Trường làm Thái thượng hoàng.
    ---------------------------------------------------------------
    Trần Nghệ Tông là vị vua thứ tám triều Trần

    Tên thật là Trần Phủ, con thứ 3 của vua Minh Tông, sinh năm 1320. Quê hương Tức Mạc, Phủ Thiên Trường nay xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định.

    Khi Dương Nhật Lễ chiếm ngôi, ông chạy lên Đà Giang. Sau được tôn thất nhà Trần hợp lực giết chết Dương Nhật Lễ rồi lên Đà Giang rước Trần Phủ về lập lên làm vua năm 1370.

    Dẹp xong nội loạn, khôi phục lại cơ đồ nhà Trần. Tuy Trần Nghệ Tông là vua hiền, nhiều nhân đức nhưng lại thiếu bản lĩnh trị quốc, ít cương nghị, không quyết đoán nên lũ gian thần trong triều ngấp nghé ngai vàng. Bên ngoài vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga đem quân vượt biển tiến đánh kinh thành Thăng Long. Quân nhà Trần chủ quan, giữ không nổi. Vua Nghệ Tông Phải chạy lên Bắc Ninh lánh nạn. Quân Chiêm Thành vào Thăng Long đốt phá sạch cung đình, cướp hết vàng bạc châu báu, bắt đàn bà, con gái rồi rút về nước.

    Ngày 9 tháng 11 năm 1372 Nghệ Tông nhường ngôi cho em là Trần Kính lui về Thiên Trường làm Thái Thượng Hoàng.

    Vua mất năm 1394, làm vua được 27 năm, thọ 74 tuổi.
    athaydo vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Thông Báo Nội Dung Xấu Trả Lời Với Trích Dẫn

  • dtdt

    khoảng 1 10 năm trước
  • Chuyện nhà Trần 3 lần đánh ngoại xâm có ghi sơ qua trong lịch sử thê giới ở nước ngoài, nhưng tiếc là không hề nhắc quân Nguyên vì bị thua nên quân Nguyên mới tháo chạy, chỉ nói là quân Nguyên vào VN 3 lần dể vơ vét của cải rồi bỏ ra, cho tới lần chót thì bắt VN đi chầu :-(

  • allbeyondintell

    khoảng 1 10 năm trước
  • nhà trần củng kéo dài khá long đấy

  • vietluv

    khoảng 1 10 năm trước
  • wow, thiệt là dài quá. But anyways, thank you for sharing. Bạn biết thiệt nhiều đó.

  • dtdt

    khoảng 1 10 năm trước
  • Nghe nói con cháu nhà họ Trần sau này đổi họ là Đặng Trần Cho tới sau này và đến hôm nay cũng còn những giòng họ Đặng Trần

  • haiquan125

    khoảng 1 10 năm trước
  • lịch sử của nhà trần là hào hùng nhất đó.

  • haiquan125

    khoảng 1 10 năm trước
  • nhất là thời kì đánh quân nguyên mông nổi tiếng trong lịch sử mà nổi lên với tài cầm quân của quốc công tiêt chế hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group