Tiểu sử một số trạng nguyên

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN HIỀN

    (1235 - 1255)

    Đền Dương A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền (thế kỷ XIII)
    Thường gọi là Trạng Hiền, sinh năm 1235 tại làng Dương A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực. Từ thủa nhỏ đã sớm tiếp xúc với chữ nghĩa và sách vở. Khi mới lên bốn tuổi đã là người có học thức xuất sắc, năng khiếu kỳ lạ. Trí thức gần xa đến thử tài đều bái phục và suy tôn là thần đồng xuất chúng.
    Đỗ Trạng Nguyên năm 13 tuổi, khoa thi Thái học sinh năm Đinh Mùi niên hiệu Thiên Ứng Chính bình thứ 16 (1247) đời vua Trần Thái Tông, cùng khoa với Bảng nhãn Lê Văn Hưu và Thám hoa Đặng Ma La. Ông là vị Trạng nguyên ít tuổi nhất của nước ta từ trước tới nay. Làm quan đến Thượng thư bộ Công.

    Nguyễn Hiền là người rất thông minh, có trí nhớ tuyệt vời, thủa nhỏ đã được gọi là thần đồng, đọc đâu nhớ đấy, học một biết mười... có tài ứng biến trong mọi tình huống, nhất là đối thoại với các sứ thần nước ngoài. Tương truyền có nhiều câu đố hiểm hóc của các sứ thần Mông Cổ, Trung Quốc, cả triều đình lúng túng, nhưng Nguyễn Hiền đã lập tức giảng giải được hết, làm cho vua quan ngoại bang phải kinh ngạc, kính nể. Chính ông đã góp phần tạo điều kiện kéo dài thời gian hoà hoãn để nhà Trần chuẩn bị kháng chiến. Tiếc rằng ông mất quá sớm.

    Hồi mới lên bảy tuổi, trạng Hiền thường hay chơi nặn đất với bọn trẻ con.
    Một lần trạng nặn con voi đất, rồi lấy bốn con cua để vào bốn chân, lấy đỉa làm vòi, lấy bướm làm tai thành ra voi đất cũng cử động được, khiến bọn trẻ vui thích reo hò ầm ĩ. Chợt một ông quan đi qua đứng lại xem và hỏi chuyện Hiền. Thấy Hiền khéo léo lại láu lĩnh, ông quan liền đọc bỡn một câu;

    Ðồng tử ngũ lục nhân, vô như nhĩ xảo!

    Nghĩa là:

    Bọn trẻ năm sáu đứa, không đứa nào khéo bằng mày.

    Trạng thấy vậy, hỏi ông quan rằng: "Trước hết xin ông cho biết ông làm chức quan gì?". Quan nói: "Ta là quan thái thú ăn lương hai ngàn hộc". Thấy quan có ý khoe khoang, Hiền liền đọc rằng:

    Thái thú nhị thiên thạch, mạc nhược công...

    Nghĩa là:

    Quan thái thú ăn lương hai ngàn hộc, chẳng ai... bằng ông.

    Quan cười bảo: "Ðối còn thiếu một chữ!". Hiền nài cho tiền rồi sẽ đối nốt. Quan cho tiền xong, Hiền liền bổ sung rằng:

    Thái thú nhị thiên thạch, mạc nhược công liêm

    Nghĩa là;

    Thái thú ăn lương hai ngàn hộc, chẳng ai liêm bằng ông.

    Quan chịu là giỏi, nhưng vui miệng hỏi thêm:
    - Thế nếu ta không cho tiền, thì chú đối chữ gì?
    Hiền trả lời:
    - Khó gì? Nếu ông không cho tiền thì tôi chỉ việc điền chữ "tham" vào thôi.

    Quan biết thằng bé láu cá, đành phải bỏ đi không dám trêu chọc gì nữa, kẻo lại mang tiếng "to đầu mà dại"!.

    Lúc mới lên sáu, bảy tuổi, ông đi học nhà sư ở chùa, nhà sư mỗi buổi dạy mười tờ giấy, Nguyễn Hiền học qua là thuộc làu.

    Theo sách “Nam Hải Dị Nhân” của Phan Kế Bính, một hôm nhà sư tụng kinh vừa xong vào phòng nằm nghỉ, mơ thấy Phật giáng xuống bảo rằng: “Nhà sư sao không bảo Trạng cứ để cho lên chùa lờn với Phật?” Nhà sư tỉnh dậy, soi đèn xem các tượng Phật thì thấy sau lưng mỗi tượng có chữ đề “Phạt 30 trượng” và sau mình hai tượng hộ pháp thì có chữ “Phạt 60 trượng” Nhận xét chữ thì chính chữ Nguyễn Hiền. Nhà sư quở mắng Nguyễn Hiền, bắt phải lấy nước tẩy đi.

    Nguyễn Hiền học các sách, qua mắt một lượt là nhớ ngay. Thơ từ phú sách, nói ra tức là văn chương. Năm mười một tuổi đã nổi tiếng thần đồng, bấy giờ có người học trò ở Kinh Bắc tên là Đặng Tính, tự thị tài mình hơn cả đời. Nghe tiếng Hà Dương có thần đồng đến chơi tận nhà, thử xem tài học ra làm sao. Khi đến ra một bài phú:

    “Phụng hoàng sào vu A cát Kì lân du vu Uyển hựu”

    Nghĩa là:
    Chim phụng hoàng làm tổ trên A cát, con Kì lân chơi ở vườn Uyển lựu.

    Nguyễn Hiền đọc ngay bốn câu dịch nghĩa như sau:

    Không phải con rùa ở sông Lạc Thủy
    Không phải con rồng ở sông Mạnh Hà
    Ấy kia nước Hữu hùng (hùng là con gấu)
    Đóng đô ở gò Trác lộc (lộc nghĩa là con hươu).


    (Bốn câu trên, câu nào cũng có tên càm thú cho nên hay)
    Đặng Tính mới nghe được bốn câu, đã lắc đầu lè lưỡi nói rằng:

    - Thiên tài xin nhường bậc trẻ tuổi này!

    Năm ấy thi đỗ thủ khoa. Năm sau vào thi đình, vua ra bài phúc “ấp từ từ kê mẫu phi hồ” nghĩa là con vịt từ giã mẹ gà về hồ. Văn Nguyễn Hiền hay nhất, vua cấy lên đỗ Trạng Nguyên, bấy giờ mới mười hai tuổi.

    Trạng vào bái mạng vua trong sân rồng, vua thấy còn bé loắt chắt, lấy làm lạ hỏi rằng:

    - Trạng nguyên học ai ở nhà?

    Trạng thưa rằng:

    Tâu bệ hạ, tôi sinh ra đã biết ngay, còn chỗ nào không biết thì hỏi nhà sư một vài chữ mà thôi.

    Vua thấy Trạng ứng đối, chưa biết lễ phép, ăn nói không được khiêm tốn, mới cho về học lễ phép, ba năm rồi mới dùng làm quan.

    Nguyễn Hiền về nhà ở không được bao lâu có sứ Tầu đem một bài thơ ngụ ngôn sang thử nhân tài nước Nam. Thơ rằng:

    Lưỡng nhật bình đầu nhật,
    Tú sơn điên đảo sơn.
    Lưỡng vương tranh nhất quốc,
    Tứ khẩu tung hoành gian.


    Vua hỏi các quân thần thì không ai hiểu nghĩa lý ra làm sao. Phải sai hai quan văn võ đến nhà ông Nguyễn Hiền mời vào triều để hỏi. Hai quan sứ đến làng Hà dương, gặp một đứa trẻ trong nhà hàng, mặt mũi phương phi. Sứ giả hỏi gì đứa trẻ ấy không thèm đáp lại. Mới đọc một câu đối nôm rằng:

    “Tự là chữ, cất giằng đầu chữ tử là con, con ai con ấy?”

    Đứa trẻ đối ứng khẩu ngay:

    “Vu là chưng, bỏ ngang lưng chữ đinh là đứa, đứa nào đứa này?”

    Sứ giả biết đứa trẻ ấy là Trạng Hiền, mới hỏi thăm đến tận nhà thì thấy Trạng đang lúi cúi ở dưới bếp, nhân đọc một câu rằng:

    “Ngô văn quân từ viễn bảo trù; hà tu nự áo”

    Nghĩa là:
    Tôi nghe quân tử xa chỗ bếp nước, lọ là phải nịnh vua bếp.

    Trạng ứng khẩu đối rằng:

    “Ngã bản hữu quan cư đinh nại; khả tam điêu canh”

    Nghĩa là:
    Ta cốt có chức làm được Tể tướng, nhưng còn tạm nấu nồi canh. Nấu canh lạt mặn tại tay cũng như chức làm tướng.

    Sứ giả thất ứng đối nhanh nhẩu và có ý cao, chịu là giỏi, mới bầy kế ý vua xin mời vào Kinh.

    Trạng nói rằng:

    - Thiên tử trước kia bảo ta chứa biết lễ phép, nhưng chẳng những là Trạng chưa biết lễ phép, cả đến Thiên tử cũng chưa biết lễ phép.

    Nói thế rồi nhất định không chịu đi.

    Sứ giả về tâu lại với vua, vua phải đem xe ngựa và đồ lễ đến đón, bấy giờ Trạng mới đi.

    Khi đến kinh, vua đưa bài thơ của Tầu ra hỏi. Trạng Hiền cầm bút viết ra một chữ và giải rằng:

    - Câu thơ thứ nhất nghĩa là chữ nhật, ngược suôi bằng đầu nhau; thứ nhì là bốn chữ san, ngược suôi cũng là chữ san cả; thứ ba hai chữ vương tranh nhau ở trong một nước, thứ tư là bốn chữ khẩu ngang dọc đều là khẩu cả. Tóm lại chỉ là một chữ điền.




    TRẠNG NGUYÊN ĐÀO SƯ TÍCH

    (1350 - 1396)

    Quê quán: làng Cổ Lễ, nay thuộc thị trấn Cổ Lễ, huyện Nam Trực. Đỗ Trạng Nguyên khoa Giáp Dần 1374 lúc 24 tuổi, đời vua Trần Duệ tông. cả 3 kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu, nên gọi là Tam nguyên. Làm quan đến chức Nhập nội hành khiển. Ông từng viết bài đề tựa cho 8 tập sách Bảo hoà điện dư bút của Thượng hoàng Trần Duệ Tông, để răn dạy vua.
    Do không đồng chí hướng, đến đời Hồ Quý Ly ông bị giáng chức. Vì bất mãn với chính triều suy thoái, Hồ Quý Ly chuyên quyền, vua quan lục đục. Ông cáo quan về quê ở ẩn, làm thuốc, chữa bệnh và dạy học. Sau đó ông lên Vĩnh Phúc, quy tụ hiền tài nhằm chấn hưng đất nước. Tư tưởng tiến bộ của ông được thể hiện trong tác phẩm Sách lược phục hưng Đại Việt.

    Khi nhà Minh xâm lược nước ta. Vua Trần triệu ông về kinh, giao đi xứ nhà Minh, với kiến thức uyên bác và tài ngoại giao tuyệt vời, ông đã thuyết phục vua Minh giảm được nhiều yêu sách vô lý, kéo dài thời gian hoà hoãn. Vua Minh đã tặng ông bốn chữ: Lưỡng quốc Trạng nguyên, suy tôn ông là Trạng nguyên của cả nước Đại Việt và Trung Quốc. ông viết khá nhiều sách, nhưng đến nay đã bị thất lạc hầu hết.

    Tác phẩm chính: bài tựa tám tập sách Bảo hoàn điện dư bút - Văn sách thi đình - Mộng ký - Phú sao cảnh - Sách lược phục hưng Đại Việt.


    Phạm Đôn Lễ ( 1454 - ? )


    Ông người làng Hải Triều, huyện Ngự Thiêm, phủ Tân Hưng. Ông thi đỗ Trạng nguyên khoa thi Tân Sửu, niêu hiệu Hồng Đức năm thứ 12 (1481) làm quan tới chức Thượng thư. Khi ông lớn lên, làng Hới đã có nghề dệt chiếu từ lâu. Nhưng chiếu dệt khung đứng, không có ngựa đỡ sợi nên chiếu không đẹp. Đi sứ sang Trung Quốc, khi qua vùng Ngọc Hà, Châu Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây, Phạm Đôn Lễ đã tìm hiểu và học được bí quyết kỹ thuật dệt chiếu của người Trung Quốc. Đó là kỹ thuật dệt khung nằm, có ngựa đỡ sợi dọc, làm cho sợi đay căng, chao cói nhanh hơn và chiếu đẹp hơn. Ông đã phổ biến kinh nghiệm và kỹ thuật dệt mới cho nhân dân. Ông cho cải tiến khung dệt. Nhờ vậy, chiếu Hới đẹp hơn và nổi tiếng từ đó. Dân làng tôn ông là ông Tổ nghề dệt chiếu, gọi ông là "Trạng Chiếu" và lập đền thờ sau khi ông mất; đền thờ Phạm Trạng Nguyên.


    Vũ Duệ ( ? - 1520 )


    Còn có tên là Vũ Công Duệ, tên lúc nhỏ là Nghĩa Chi, người xã Trình Xá, huyện Sơn Vi, trấn Sơn Tây( nay thuộc huyện Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phú). Đỗ Trạng nguyên khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490). Làm quan đến Lại bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ chầu Kinh diên, được tặng Thiếu bảo, tước Trịnh Khê Hầu.

    Hồi còn nhỏ, cha mẹ đi cày vắng nhà, Duê chơi với bọn trẻ con trong xóm, nặn đất làm con voi, bắt hai con bướm làm hai tai, cầm con đỉa làm vòi, lấy bốn con cua làm chân, thành ra voi đất mà vẫy được tai, vòi co lên quắp xuống và chân đi được, ai trông thấy cũng cho là tinh quái.

    Một lần, có người đến đòi nợ hỏi: "Bố mày đâu"? Công Duệ đáp: "Bố tôi đi chém cây sống, trồng cây chết". "Mẹ mày đâu"? "Mẹ tôi đi bán gió, mua que". Người đòi nợ lấy làm lạ, không biết cha mẹ nó làm gì mà nó nói thế, hỏi căn vặn nó mãi thì nó cười mà không đáp. Chủ nợ mới dỗ dành bảo nó: "Mày cứ nói thật, ta sẽ tha nợ cho mày, không đòi nữa". Duệ cầm một cục đất dẻo, bảo chủ nợ in tay vào làm tin, người kia cũng in tay vào xem sao. Duệ bèn nói: "Cha tôi đang nhổ mạ cấy lúa, còn mẹ tôi đi bán quạt". Người kia lấy làm kỳ dị. Hôm khác lại đến đòi nợ. Duệ đưa hòn đất có vết tay in mà nói: "Tay ông ký vào đây còn đòi gì nữa"? Người kia đứng ngẩn mặt ra, không biết nói làm sao, nhân khuyên cha mẹ Duệ cho đi học và giúp món nợ ấy để lấy món tiền mua sách.

    Duệ học rất thông minh, các sách chỉ đọc qua một lần là thuộc. Đến năm Hồng Đức 23 đời vua Thánh Tôn nhà Lê, Duệ thi đỗ Trạng nguyên vào hồi 20 tuổi. Đến khi làm quan, tính khí cương trực, vua cất lên làm đô ngự sử, các quan ai cũng kính nể.

    Khi nhà Mạc cướp ngôi vua Lê, đình thần nhiều người a dua về Mạc Đăng Dung, ai không nghe đều bị giết. Đăng Dung sai người dụ Công Duệ về làm quan với mình. Công Duệ nhất định không theo kẻ tiếm vị, nhưng liệu cũng không yên, bèn đeo cả quả ấn ngự sử đâm đầu xuống cửa bể Thần Phù mà chết.

    Cách 60 năm sau, nhà Lê trung hưng, khôi phục được thành Thăng Long, sai đúc ấn ngự sử, đúc mãi không thành, mới sai người xuống cửa bể tìm quả ấn trước. Người lặn xuống đến nơi thấy Công Duệ vẫn còn đội mũ áo chỉnh tề, cổ đeo túi ấn, ngồi xếp bằng tròn ở dưới đáy bể như còn sống.

    Người ấy sợ hãi lên kể lại, chuyện đến tai vua. Vua lấy làm lạ, chắc là khí tinh anh của Công Duệ kết lại, mới sai quan làm lễ cúng bái, rồi sai người vớt xác Công Duệ lên, dùng lễ khâm liệm trọng thể rồi đưa về làng Trinh Xá an táng, phong làm Thượng Đẳng Phúc Thần.

    Lê Ích Mộc ( ? - ? )


    Lê Ích Mộc đỗ Đình Nguyên, Trạng nguyên tại khoa thi năm Nhâm Tuất (năm 1502), đời vua Lê Hiển Tông, sinh năm 1448, song năm mất thì đến nay vẫn chưa được xác định chính xác.

    Ông là người làng Thanh Lãng (tên nôm là Ráng), huyện Thủy Đường nay là thôn Quảng Cư, xã Quảng Thanh, huyện Thuỷ Nguyên( Nay là huyện Thủy Nguyên , thành phố Hải Phòng ). Xuất thân trong một gia đình nghèo, thời hàn vi, Lê Ích Mộc ở nhờ chùa Diên Phúc. Vì thế ông thường được nhà chùa nhờ chép và dịch kinh Phật. Ông làm quan đến chức Tả Thị Lang. Sau khi về trí sĩ, ông về quê và mở trường dạy học, khai khẩn đất hoang (hiện còn dấu vết khu ấp ông khai khẩn và khu rừng lim). Sau khi ông mất, dân Thanh Lãng và Quảng Cư đều thờ làm phúc thần, thường gọi là đền quan Trạng Ráng.

    Lê Nại ( 1528 - ? )


    Có sách chép là Lê Đỉnh, người xã Mộ Trạch , huyện Đường Am, phủ Thượng Hồng( nay là huyện Cẩm Bình, Hải Hưng ). Đỗ Trạng nguyêhn khoa Ất Sửu, niên hiệu Đoan Khánh thứ nhất (1505), đời Lê Uy Mục. Làm qua đến Hộ bộ Thị Lang , lúc mất được tặng tước Đạo Trạch Bá.
    Ông thuở bé nhà rất nghèo, phải vừa học, vừa dạy thêm con em trong làng để độ khẩu.

    Thượng thư Vũ Quỳnh, người đồng ấp, nghe biết tài học của thầy đồ bèn gọi đến gả con gái cho và cho ở gửi rể trong nhà. Nhưng từ khi vào ở gửi rể, Lê Nại chỉ ngồi thừ suốt ngày, không chịu học hành, mà cũng chẳng buồn mó đến bất cứ việc gì. Vũ Quỳnh rất lấy làm lạ, đến hỏi người bố Lê Nại. Ông bố trả lời:
    - Con nhà học trò nghèo, được nương thân vào cửa cao quý, lại được đội ơn nuôi dưỡng dạy dỗ, lẽ nào lại dám sao nhãng học hành hoặc lười biếng với công việc của gia đình ân nhân được?. Nhưng có điều này, tôi hỏi khí không phải: không rõ mỗi ngày tướng công cho cháu ăn uống như thế nào?


    Vũ Quỳnh vẫn chưa hiểu, cười khiêm tốn mà trả lời:
    - Nhà nho thanh đạm, nhà có gì ăn thì vẫn tiếp đặt con rể như thế thôi!
    Ông bố mới bảo:
    - Con tôi nó ăn khác thường lắm. Có lẽ vì nó ăn chưa được no mà không dám nói ra chăng?


    Vũ Quỳnh về, bảo người nhà dọn cơm riêng cho Lê Nại, tăng phần lên gấp bội. Cho ăn một đấu, học đến tối; cho ăn một đấu năm lẻ học đến trống canh ba; cho ăn một đấu tám lẻ, học đến trống canh tư. Vũ Quỳnh nói:
    - Rể ta tài khí phi thường, nhất định sẽ làm nên sự nghiệp!.


    Liền bảo người nhà cứ định mức mỗi bữa ăn là hai đấu. Từ đấy Lê Nại đọc sách suốt ngày liền đêm không thấy chán. Một hôm muốn thử tài chàng rể, Vũ Quỳnh thình lình đến thăm Lê Nại trong phòng học, rồi bảo ông tức cảnh một bài về việc ăn học của mình. Lê Nại không nghĩ ngợi gì, đọc ngay bài tán sau đây:

    Mộ Trạch tiên sinh
    Dĩ thực vi danh,
    Thấp bát bát phạn,
    Thập nhị bát canh,
    Khôi nguyên cập đệ,
    Danh quán quần anh,
    Sức chi giã cự,
    Phát chi giã hoành...

    Nghĩa là:

    Thầy đồ Mộ Trạch,
    Nổi tiếng ăn nhiều
    Mười tám bát cơm,
    Mười hai bát riêu,
    Ðỗ đầu khoa bảng,
    Danh tiếng nêu cao,
    Súc tích đầy đủ,
    Phát triển dồi dào!


    Bố vợ và chàng rể đều cả cười. Quả nhiên về sau Lê Nại đỗ Trạng nguyên, đúng như lời đã nói trong bài tán.


    Nguyễn Giản Thanh ( 1482 - ? )


    Nguyễn Giản Thanh, người làng Ông Mặc (làng Me), huyện Ðông Ngàn (nay là Từ Sơn), Bắc Ninh. Sống vào khoảng đầu thế kỷ XVI; sinh năm 1482, mất năm nào không rõ. Ông lúc nhỏ rất thông minh, mới 16 tuổi đã thông hiểu rất nhiều sách vở, sau đỗ Trạng Nguyên; nên tục gọi là Trạng Me.

    Một hôm đang đi học ở trường, thầy học là Thượng thư Ðàm Thận Huy vừa giảng bài song thì trời sập mưa, học trò đều phải ngồi lại. Ông Huy nhân thấy vậy, bèn ra một câu đối để học trò cùng đối cho vui:

    Vũ vô kiềm toả năng lưu khách.

    Nghĩa là:

    Mưa không có then khoá mà giữ được khách

    Nguyễn Giản Thanh đối ngay rằng:

    Sắc bất ba đào dị nịch nhân

    Nghĩa là:

    Sắc đẹp chẳng phải sóng gió mà làm đắm đuối người ta.

    Ông Huy xem xong khen rằng: "Câu đối này hay lắm, giọng văn này có thể đỗ Trạng được, nhưng sau tất mê đắm vào vòng sắc dục làm hại lây đến sự nghiệp!".

    Tiếp đó, một người học trò tên là Nguyễn Chiêu Huấn lại đối:

    Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân

    Nghĩa là:

    Mặt trăng giống cái cung mà chẳng bắn ai

    Ông Huy phê: "Câu này kém sắc sảo, không hay bằng câu kia, nhưng tỏ ra khí chất hiền hoà, sau này sẽ làm nên, cuộc sống sẽ chu toàn!"

    Sau đó, lại có một người học trò khác đối rằng:

    Phân bất uy quyền dị sử nhân

    Nghĩa là:

    Phân cứt chẳng uy quyền gì mà dễ sai khiến người

    Ông Huy phê: "Sau giàu sang nhưng là hạng bỉ lậu!"

    Quả nhiên, mấy năm sau, Nguyễn Giản Thanh thi đỗ thủ khoa, rồi đỗ Trạng Nguyên đời Vua Lê Uy Mục (1508), làm quan lễ bộ Thượng thư, nhưng vì say đắm cô gái đẹp ở kinh thành mà đến ô danh bại giá. Còn Chiêu Huấn chỉ đỗ Bảng Nhãn nhưng làm quan và sống yên ổn, không xảy ra chuyện gì cả. Riêng người học trò kia sau cũng vào bậc hào phú trong vùng, nhưng ai cũng chê là hạng thô lỗ, bỉ ổi.

    Truyện kể thêm rằng: Ðời Vua Minh Huệ, Trần Hoá Chiêu ở huyện Tế Hàng, tỉnh Sơn Ðông, Trung quốc, có người vợ là Lương Tiểu Nga rất đẹp. Ở cùng huyện có nhà phú hộ tên là Trát Háo Sắc. Háo Sắc thấy Tiểu Nga đẹp, tìm cách kết bạn với Hoá Chiêu. Lập tâm chiếm cho được vợ bạn, Háo Sắc bỏ ra rất nhiều tiền để giúp bạn trong việc làm ăn hoặc lúc nguy khốn. Qua hai năm, sau khi chiếm được cảm tình của nhà bạn, Háo Sắc rủ Hoá Chiêu ngồi thuyền đi buôn, mọi vốn liếng đều do mình chịu cả. Thuyền đi một tháng đến Hàng Châu, Háo Sắc phục rượu cho Hoá Chiêu say rồi xô xuống biển. Mấy lần Hoá Chiêu trồi lên đều bị tên phản bạn nhấn xuống cho chìm, cuối cùng chàng phải vùi thây dưới đáy biển. Chừng ấy, Háo Sắc mới tri hô lên cho bè bạn hay và mượn thuyền đến vớt thây bạn nhưng không được. Háo Sắc cho thuyền trở về, khóc lóc báo tin dữ cho mẹ và vợ Hoá Chiêu, bỏ tiền cúng bái và cùng Tiểu Nga để tang. Từ đó, Háo Sắc càng tỏ ra hết lòng lo lắng mọi việc nhà cho vợ bạn khiến mẹ Hoá Chiêu cảm động và ép dâu là Tiểu Nga ưng Háo Sắc làm chồng đền công ơn giúp đỡ. Hai người ăn ở với nhau ít lâu, nhân vô ý, Háo Sắc để lộ việc mình âm mưu hại bạn. Tiểu Nga đến huyện đường đầu cáo và trả được thù cho chồng cũ. Nhưng nàng nhận thấy vì nhan sắc của mình mà cả hai người chồng đều bị chết, Tiểu Nga thắt cổ tự tử.

    Như vậy là nguồn gốc và hoàn cảnh ra đời của câu "Vũ vô kiềm toả năng lưu khách" đã có một đáp số, là "vế ra" của "vế đối": "Sắc bất ba đào dị nịch nhân" (Mưa gió chẳng có kiềm khoá mà vẫn giữ được khách. Nhan sắc đàn bà dù không thấy sóng nổi vẫn đánh đắm được người). Cũng xin nói thêm vế trên của tài liệu ghi là "Vũ vô kiềm toả năng lưu khách". Phải chăng "thiết toả" và "ba đào" đối với nhau chỉnh hơn.

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • NGUYỄN THIẾN (1495-1557)


    Người cùng quê với Trạng cậu. 38 tuổi đỗ Hội nguyên, được ban Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên), khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Đại Chính 3 (1532) đời Mạc Đăng Doanh. Làm quan nhà Mạc đến chức Lại bộ Thượng thư, Ngự sử đài đô ngự sử, Đông các đại học sĩ, Nhập thị kinh diên, tước Thư Quận công, bạn thân của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông là cháu ngoại Tiến sĩ Nguyễn Bá Kỳ. Con ông là Thường Quốc công Nguyễn Quyện, danh tướng nhà Mạc. (CNKBVN 1075-1919, tr. 367). Giang sơn bấy giờ chia làm hai: Từ Thanh Hóa trở vào thuộc nhà Lê làm Nam Triều, từ Sơn Nam (2) trở ra thuộc nhà Mạc làm Bắc Triều. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), người xã Trung Am, huyện Vĩnh Lại (sau đổi là Vĩnh Bảo), tỉnh Hải Dương, nay là thôn Trung Am xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. 45 tuổi đỗ Trạng nguyên năm 1535 (theo Liệt huyện đăng khoa bị khảo (LHDK), Tam khôi bị lục; Bạch Vân Am cư sĩ Nguyễn Công Văn Đạt phả ký; Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục; Đại Việt lịch đại Tiến sĩ khoa thực lục (TSTL): đỗ năm 50 tuổi), sau Nguyễn Thiến một khoa. Cả 5 trường thi (tức bài thi Hội và bài thi Đình) đều đỗ đầu. Làm quan đến chức Thượng thư, Thái phó, tước Trình Quốc công. 52 tuổi (1542), ông xin về trí sĩ. Nhưng vua Mạc Phúc Nguyên (1546-1561) vẫn thường sai sứ đến hỏi quốc sự. Ông mất năm Mạc Diên Thành 8 (1585) đời Mạc Mậu Hợp (1562-1592). Thọ 95 tuổi theo LHĐK, TSTL: thọ 90 tuổi. Nguyễn Bỉnh Khiêm tự Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân Am. Tác phẩm hiện còn 2 tập thơ: Bạch Vân Am thi tập (chữ Hán) và Bạch Am quốc ngữ thi (chữ Nôm). (CNKBVN 1075-1919, tr. 375). Năm 1551, Mạc Phúc Nguyên nghe lời gièm pha của kẻ nịnh thần, nghi ngờ đại tướng Thái tể Phụng Quốc công Lê Bá Ly 77 tuổi (1476-1557), em rể vua Mạc Đăng Dung (1527-1529), và con là Thái phó Lê Khắc Thận có ý làm phản, nên sai quân vây bắt hai cha con Lê Bá Ly và thông gia Nguyễn Thiến. Sau khi thoát được sự vây bắt của vua quan nhà Mạc, trong thế bất đắc dĩ, Nguyễn Thiến phải cùng hai con là võ tướng Nguyễn Quyện, Nguyễn Miễn (3) và gia đình theo Lê Bá Ly dẫn quân trốn vào Thanh Hóa quy thuận triều Lê đã trung hưng ở đây (4). Vua Lê Trung Tông (1548-1556) ban thưởng cho Nguyễn Thiến, cho giữ nguyên chức tước cũ, đảm trách việc tuyển bổ quan lại cho nhà Lê khoảng 7 năm. Ông bị bệnh mất năm Thiên Hựu (1557) đời Lê Anh Tông (1556-1573), thọ 63 tuổi. Tác phẩm của ông còn để lại có 5 bài thơ trong Toàn Việt thi lục.

    Tương truyền khi ông cùng với hai người con sắp bỏ nhà Mạc theo nhà Lê, Nguyễn Bỉnh Khiêm có gửi ông một bài thơ có nhiều câu cảm khái. Nhưng sau đó ông vẫn quyết định vào Thanh Hóa giúp vua Lê. Trong Bạch Vân Am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm còn ghi lại nhiều bài thơ của ông. (Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - TĐNVLSVN), tr. 636).

    Lịch triều hiến chương loại chí (LTHCLC), Tập I, Nhân Vật chí, trang 266, vinh danh ông là một trong 39 Người Phò tá có công lao tài đức thời sau Lê trung hưng: "Lại xét lúc bấy giờ có những người làm tôi nhà Mạc rồi mới qui thuận, mà làm đến Tể tướng (dịch chữ Thai phụ) thì trước sau có ba người là Nguyễn Thiến, Nguyễn Phương Đĩnh, Đỗ Uông, tiếng tăm sự nghiệp của họ đều có tiếng ở đời...".


    Phạm Trấn ( ? - ? )


    Người xã Lam Kiều, huyện Gia Phúc , phủ Hạ Hồng , Hải Dương ( nay thuộc huyện Tứ Lộc, Hải Hưng ). Đỗ Trạng nguyên khoa Bính Thìn , niên hiệu Quang Bảo thứ 3 (1556), đời Mạc Tuyên Tông . làm quan cho nhà Mạc , khi nhà Mạc mất, cự tuyệt không ra làm quan cho nhà Lê nên bị ám hạị
    Khoảng đời nhà Mạc, ở miền Hải Dương có hai người bạn ở gần làng nhau: Phạm Trấn ở làng Lâm Kiều và Ðỗ Uông ở làng Ðoàn Lâm.
    Vào năm Quang Bảo đời Mạc Phúc Nguyên (1554- 1561), hai người cùng trạc ba mươi tuổi và cùng đỗ khoa thi hội. Ðến kỳ thi đình, Phạm Trấn đỗ Trạng nguyên, còn Ðỗ Uông thì đỗ Bảng nhãn. Trấn, sức học vốn kém Uông, nên hí hửng lắm, bảo: "Gìờ ta mới đè được thằng Uông đây!"

    Uông nghe nói tức lắm. Lúc vinh quy, Trạng Bảng cùng về một đường. Bảng không chịu nhường Trạng đi trước, cứ dóng ngựa đi ngang hàng.

    Ðến làng Hoạch Trạch, dân chúng kéo nhau ra xem và xin thơ để đề vào chiếc cầu ở đầu làng. Ðó là chiếc cầu ngói hơn mười gian. Bảng, Trạng liền thách nhau qua bảy gian phải vịnh xong bài thơ; ai xong trước đi trước, không được tranh nhau.

    Lần ấy Trấn thắng, ai cũng chịu tài, chỉ Uông không phục, cho là thơ đã làm sẵn từ bao giờ. Rồi, lại dóng ngựa đi ngang hàng. Ðến làng Minh Luận, có người mới làm xong nhà, ra đón đường xin một bài thơ mừng nhà mới. Trấn đọc luôn:

    Năm năm thêm phú quý
    Ngày ngày hưởng vinh hoa
    Xưa có câu như thế
    Nay mừng mới làm nhà.


    Lần này, Uông đã có vẻ hơi chịu tài nhanh nhẹn của Trấn. Ðến cầu làng Ðoàn Lâm, tục gọi là Cầu Cốc, trong cầu có cô bán hàng là cô Loan; hai người lại thách nhau làm bài thơ Nôm lấy đề là "Cô Loan bán hàng cầu Cốc". Hạn mỗi câu phải có hai giống chim, qua cầu phải xong, ai xong trước đi trước, nhất thiết không được tranh nhau nữa. Trấn ngồi trên lưng ngựa, đọc ngay rằng:

    Quai vạc đôi bên cánh phượng phong
    Dở giang bán chác lựa đồ công
    Xanh le mở khép nem hồng mới
    Bạc ác phô phang rượu vịt nồng...


    Bảng bấy giờ mới thực sự chịu phục Trạng là nhanh trí và nhường cho Trạng đi trước, không tranh dành gì nữa.


    Nguyễn Quốc Trinh ( 1624 - 1674 )


    Người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, Trấn Sơn Nam Thượng ( nay là xã Đại Áng, huyện Thanh Trì , Hà Nội ). Đỗ Trạng nguyên khoa Kỷ Hợi, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 (1659), đời Lê Thần Tông . Làm quan đến Bồi tụng. Đi sứ Thanh ,bị giết hại, sau được truy tặng Binh bộ Thượng thư, Trì Quận Công. Vua cho tên thụy là Cường Trung và phong cho làm Thượng đẳng Phúc thần.

    Sách Đăng khoa lục của Trần Tiến do Đạm Nguyên dịch có ghi: "Ông nội của Trạng nguyên một lần đi chơi trong làng nhặt được túi vàng của một thầy địa lý người Tàu đánh rơi. Ông đem trả lại, thầy Tàu cảm ơn và muốn chia cho người nhặt được một nửa. Ông lắc đầu cười cất tiếng: "Tôi đâu có tham tiền mà chỉ tham cái chữ thôi. Nhưng chữ nghĩa chẳng ai đánh rơi bao giờ!...". Thầy Tàu ngẫm nghĩ một lúc rồi nói: "Nếu ông không thích vàng bạc thì để tôi đền ơn bằng chữ nghĩa vậy. Tôi cam đoan rằng con cháu ông sẽ học hành tấn tới, đỗ đạt cao". Nói rồi thầy Tàu tìm một mảnh đất gần đó bảo ông nội đem hài cốt của tổ tiên táng vào đó, và trồng bên cạnh mộ một cây hoa. Bao giờ thấy bên mộ cây hoa đơm hoa thì thắp hương khấn cầu khắc được".

    Nghe lời thầy Tàu, ông bố Trạng nguyên làm y như lời thầy dặn. Vài năm sau vợ ông sinh được hai con trai, rồi ông qua đời. Hai anh em phải làm thuê làm mướn để lấy tiền đi học một thầy đồ nổi tiếng trong tổng. Một hôm người chị gái lấy chồng xã bên mang gạo tiền chu cấp thêm cho hai em thấy cả hai đứa đang mải mê gọt sáo diều bèn mách với thầy. Thầy đồ tức giận gọi vào cất tiếng;

    - Hai trò học bài xong chưa mà đã đi chơi vậy?

    Nguyễn Quốc Trinh thưa:

    - Dạ, thưa thầy... anh em đâu có chơi mà ngồi ngẫm cho chữ nó chui xuống bụng ạ.

    Thầy giận dữ:

    - Ngươi chỉ giỏi biến báo, học mà tay không cầm sách...? Ta ra câu đối, nếu anh em ngươi không đối được thì ta sẽ phạt roi.

    Ngẫm nghĩ một lúc, thầy chỉ vào người chị gái của Nguyễn Quốc Trinh vuốt râu cất tiếng:

    - Bất học hiếu du, vi tỉ giáo. (Không học thích chơi, trái lời chị)

    Nguyễn Quốc Trinh nhoẻn cười rồi lễ phép đối lại:

    - Đăng khoa cấp đệ, trọng sư danh. (Đỗ khoa cấp đệ nổi danh thầy)

    Thầy đồ tròn mắt nhìn Nguyễn Quốc Trinh:

    - Xưa nay ta vẫn nghĩ con nhà nông phu đi học chỉ may ra lấy được cái bằng Tú tài cho oai với làng xóm nào ngờ người lại hay chữ như vậy. Nếu hai trò chăm chỉ ta tin rằng cả hai anh em đều sẽ đỗ cao. Thôi từ nay ta nuôi cho cả hai anh em ăn học và không phải đi làm thuê làm mướn nữa.

    Từ đó hai anh em Nguyễn Quốc Trinh được thầy nuôi cho ăn học. Năm 1659 hai anh em cùng lên Kinh đô dự thi. Nguyễn Quốc Trinh đậu Trạng nguyên, còn em là Nguyễn Đình Trụ đậu tiến sĩ. Nguyễn Quốc Trinh là người rất có công với Chúa Trịnh Tạc.

    Chuyện xưa không biết thực hư thế nào. Nhưng chuyện câu đối của Nguyễn Quốc Trinh là có thật. Học trò mà biết kính thầy được thầy yêu cũng là lẽ đương nhiên. Mong rằng, tình thầy trò như vậy sẽ được tái hiện lại trong cuộc sống hôm nay.

  • brucelee

    khoảng 1 10 năm trước
  • trạng nguyên là gì vậy?


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group