Danh nhân Nam Định

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • TRẦN BÍCH SAN


    Người xã Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, nay thuộc thành phố Nam Định. Được vua Tự Đức tặng tên là Trần Hy Tăng (ví như Vương Tăng đời Tống), tự là Vọng Nghi, hiệu Mai Nham, là con Phó bảng Trần Đình Khanh, tức Trần Doãn Đạt, đỗ giải nguyên khoa Giáp Tý (1864); đỗ cả hội nguyên, đình nguyên (lúc 28 tuổi), đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (hoàng giáp) khoa Ất Sửu niên hiệu Tự Đức thứ 18 (1865). Ông trúng liên Tam nguyên nên thường xưng tụng là Tam nguyên Vị Xuyên. Kỳ phúc thí quyển của ông được châu phê của vua Tự Đức: “Người tuổi còn trẻ mà đỗ liên Tam nguyên cũng là hiếm có. Sau này nếu có tài kinh bang tế thế là điều may mắn cho nước nhà, cũng không phụ lòng mong mỏi của Trẫm. Nay ban cho người đổi tên là Trần Hy Tăng để tỏ ý mong chờ. Làm bề tôi mà được như thế quả là không xấu hổ”. Khi vinh quy, vua Tự Đức ban cho ông lá cờ thêu Liên trúng Tam Nguyên. Sau khi thi đỗ, từng làm quan các chức: Hàn lâm viện Tu soạn sung chức Nội các Bí thư sổ Hành tẩu, điều bổ Tri phủ Thăng Bình, Điện Bàn, Án sát Bình Định, Tri phủ An Nhơn.


    Năm Tự Đức thứ 22 (1896) thăng hàm Hồng lô tự thiếu khanh, Biện lý bộ Hộ, kiêm Quản thông chánh ty, Chưởng Hàn lâm viện, Tuần phủ Trị Bình. Cũng năm này, ông làm Phó chủ khảo trường thi Hương Thừa Thiên, ra đề thi gợi ý sĩ tử nói trái ý của Tự Đức nên bị giáng cấp. Năm Tự Đức thứ 31 (1878) đổi bổ Lễ bộ Tả tham tri, sung chức Chánh sứ sang Pháp, chưa kịp đi thì lâm bệnh mất tại Kinh đô Huế, được truy tặng hàm Tham tri.

    Ông để lại các tác phẩm: Mai Nham thi cảo, Nhân sự kim giám (biên tập), Thanh tâm tài nhân quốc âm thi, Gia huấn ca….



    TRẦN TẾ XƯƠNG



    Tên là Trần Duy Uyên, sau đổi là Tế Xương (còn có tên là Cao Xương, Kế Xương, Tú Xương). Sinh ngày 5-9-1870 (10-8 âm lịch). Quê làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, nay là phố Minh Khai, thành phố Nam Định.

    Năm Giáp Thân, ông đi thi nhưng không đỗ. Đến khoa Giáp Ngọ mới đỗ tú tài. Sau đó tiếp tục đi thi cử nhân nhưng không đỗ. Dù thi hỏng mãi chỉ đỗ tú tài khi 24 tuổi, nhưng ông nổi tiếng văn học, nhất là về thơ trào phúng. Nhà nghèo, sống đạm bạc, bình dị, ông có lòng yêu nước, có tiết tháo. Thơ văn ông được tụng truyền nhiều, và cũng có nhiều giai thoại về cuộc đời ông.

    Ngày 29-11-1907, ông đột ngột qua đời do bị nhiễm mưa lạnh khi đang trên đường về quê ngoại, lúc mới 37 tuổi.

    Tú Xương sáng tác khá nhiều, chủ yếu là thơ Nôm, thường được truyền tay qua bạn bè và phổ biến trong công chúng, nhưng không được ghi chép lại nên bị thất lạc nhiều, hay bị lẫn với các tác giả khác như: Nguyễn Khuyến, Từ Diễn Đồng… Hiện đã tìm được trên 100 bài thơ của ông, viết bằng các thể thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, lục bát, song thất lục bát, phú…

    Sáng tác thơ của ông phản ứng nhạy bén trước mọi biến động xã hội trong sinh hoạt của đô thị Nam Định đương thời, ghi lại những vụ việc bê bối trong đời sống xã hội (lễ xướng danh kỳ quặc, chuyện chồng chung vợ chạ, những thói tật lố lăng, sự suy đồi của phong hoá…). Thơ Tú Xương đạt đến trình độ cao về sử dụng ngôn ngữ: dễ dàng, linh hoạt mà tài tình, hấp dẫn, không theo bút pháp ước lệ cổ điển. Tú Xương thực sự là một thiên tài, một “Thần thơ Thánh chữ”.

    Tú Xương góp vào nền thơ tiếng Việt truyền thống một sự cách tân lớn về việc xây dựng hình tượng. Ông được coi là một trong những bậc thầy của văn học trào phúng Việt Nam, Các nhà thơ trào phúng sau này đều tự nhận là môn đệ của ông, bắt chước ông để đặt tên như một dòng toàn là các ông Tú trào phúng.

    Ngoài lối thơ trào phúng, ông cũng có nhiều bài thơ chứa chan lòng yêu nước, như các bài thơ tỏ niềm tưởng nhớ Phan Bội Châu, hoặc man mác trữ tình như bài Sông lấp Nam Định.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group