Bí mật về hiện tượng ảo giác

  • cuongmelb

    khoảng 1 10 năm trước
  • Bí mật về hiện tượng ảo giác



    Là thật hay là ảo giác?

    Một lần, bạn đang trả lời một người hỏi đường, thì đột nhiên, hai người lạ mặt khênh một cánh cửa đặt giữa bạn và vị khách.

    Bạn hơi ngạc nhiên một chút, nhưng sau đó hai kẻ bất lịch sự kia đã vội vã khênh cửa đi. Sau đó, bạn vẫn tiếp tục nói mà

    không nhận thấy một điều kỳ lạ đã xảy ra…

    Người khách hỏi: “Chị thấy gì lạ không?”. Bạn nhăn trán... Hình như bạn cảm thấy có gì đó khác lạ nhưng lại không hiểu là gì.

    Người khách lại hỏi: “Chị thử nhìn tôi kỹ hơn xem nào!” Bạn nhìn rất sâu vào mắt người khách, rồi bạn để ý tới giọng anh ta

    nói, tới áo quần anh ta mặc… Hồi lâu… A! Bạn bỗng hét lên. Đứng trước mặt bạn là một người đàn ông hoàn toàn khác chứ

    không phải người đã hỏi đường bạn… Một lúc sau, người lạ này giải thích cho bạn biết rằng, anh ta là một trong hai người

    đàn ông khênh cánh cửa và đã tráo đổi vị trí với người khách hỏi đường trong thời gian ngắn ngủi khi họ dừng lại giữa hai

    người…

    Trên đây là một ví dụ tiêu biểu về hiện tượng ảo giác, một hiện tượng kỳ lạ và khó hiểu nhất thường gặp trong thực tế. Người

    làm thí nghiệm này là Giáo sư Daniel Simons, Đại học Havard, Mỹ. Ông đã tiến hành thí nghiệm này trên hàng trăm trường

    hợp khác nhau và kết quả thật kỳ lạ: Trên 50% các trường hợp, người chỉ đường vẫn tiếp tục nói chuyện với vị khách hỏi

    đường đã bị đánh tráo mà không nhận ra điều gì lạ, mặc dù hai nhân vật này hoàn toàn khác nhau, từ hình dáng, giọng nói tới

    quần áo.

    Nhận biết có lựa chọn

    Hiện tượng trên còn có tên khoa học là “mù thoáng qua”(change-blindness). Cùng với các kết quả thí nghiệm khác, đầu

    những năm 90, hiện tượng này dẫn tới một giả thuyết gây ra nhiều cuộc tranh luận dữ dội: Cái chúng ta thực sự nhìn thấy ít

    hơn rất nhiều so với cái chúng ta tưởng rằng đã nhìn thấy. Điều đó có nghĩa là, chúng ta luôn sống trong ảo giác do niềm tin

    gây ra. Trong thí nghiệm trên, người chỉ đường luôn tin rằng mình đang nói chuyện với cùng một người hỏi đường, nên hoàn

    toàn không nhận thấy anh ta có sự thay đổi gì sau khi đã bị đánh tráo.

    Ông Simons giải thích: "Nếu bạn quan sát một khung cảnh với những hiện tượng xảy ra trong đó, thường bạn chỉ có thể nhận

    biết một số chi tiết nhất định. Những chi tiết này sẽ được bổ sung thêm nhờ khả năng nhớ lại hoặc trí tưởng tượng của bạn,

    để cho ra một hình ảnh tổng quát về cái mà bạn đã nhìn được trong não bộ".

    Mắt có vai trò như một ống kính

    Trong hệ thống ghi chép và lưu giữ hình ảnh, mắt đóng vai trò như một ống kính video. Nó liên tục quét các hình ảnh để đưa và

    trung tâm xử lý của não bộ. Tại đây, hình ảnh sẽ được phân tích rất nhanh. Thông tin không quan trọng sẽ bị loại bỏ và chỉ có

    những chi tiết quan trọng nhất giúp con người ứng xử trong hoàn cảnh nhất định mới đọng lại trong não bộ.

    "Nhờ có thể lựa chọn giữa những chi tiết quan trọng và không quan trọng nên con người mới tồn tại được", Triết gia Daniel

    Dennett đã khẳng định như vậy trong một cuốn sách có tiêu đề "Kiến giải về Ý thức". Theo đó, hình ảnh lưu trữ trong não bộ

    lâu ngày sẽ chiếm quá nhiều bộ nhớ nên nó chỉ ghi lại những gì đã thay đổi và giả định rằng, tất cả những thứ khác vẫn giữ

    nguyên như vậy.

    Chuyện về một con vượn chạy qua...

    Daniel Simons lại tiếp tục làm một thí nghiệm sau để chứng minh rằng, thực tế chúng ta luôn bỏ sót những chi tiết nhất định.

    Ông cho mời 40 người đàn ông tới xem một trận bóng rổ và yêu cầu họ đếm tất cả các đường chuyền của hai đội. Những

    người đàn ông đều tập trung hết sức vào các pha chuyền bóng. Đột nhiên xuất hiện một con vượn chạy đi chạy lại qua sân

    bóng đến 5 giây đồng hồ. Sau đó, Simons đã hỏi tất cả 40 người đàn ông này về con vượn và họ đều trả lời là không nhìn

    thấy gì cả.

    “Thường thì người ta không bao giờ nhìn thấy rừng xanh giữa đám cây cối rậm rạp”, Simons nói. Điều đó đôi khi rất nguy

    hiểm. Các chuyên gia nghiên cứu giao thông cho biết, phần lớn các tai nạn ôtô đều có liên quan tới hiên tượng "mù thoáng

    qua". Trong thí nghiệm trên, những người đàn ông chúi mắt vào các quả bóng có thể so với người tài xế đang lái xe chạy trên

    đường và mải mê nghĩ về một chuyện gì đó, còn con vượn đóng vai người qua đường. Thế là xảy ra tai nạn!



    Mona Lisa, nỗi buồn lo ẩn dưới nụ cười.

    Nụ cười của Mona Lisa cũng gây ảo giác. Càng nhìn lâu vào khuôn mặt nàng, bạn càng thấy đôi mắt ấy đang cười, rất kiêu

    sa và rất mãn nguyện. Nhưng chỉ cần nhìn xuống khoé miệng một chút, bạn sẽ thấy khuôn mặt người thiếu nữ nghiêm nghị

    kỳ lạ. Đột nhiên, bạn không hiểu nàng đang vui hay buồn, thanh thản hay lo lắng.

    Trong phần trước chúng tôi đã đề cập tới hiện tượng “mù chớp nhoáng”, giải thích vì sao cặp mắt thường bỏ sót một số chi

    tiết nhất định khi ta quan sát một khung cảnh nào đó. Hoạ sĩ, triết gia, nhà khoa học thiên tài người Italia Leonardo DaVinci đã

    “vô tình” lợi dụng hiện tượng này để sáng tạo ra nụ cười bí hiểm có một không hai trên khoé miệng Mona Lisa.

    Nhà khoa học thần kinh Margaret Livingstone (Mỹ) giải thích, khi chăm chú nhìn vào đôi mắt của Mona Lisa, bạn chỉ “khoanh”

    được một khu vực rất nhỏ bên lông mày và gò má. Vì vậy, bạn không nhìn thấy toàn bộ khuôn mặt và không gian đằng sau

    bức tranh. Khi đó, các nét mờ trên gò má Mona Lisa sẽ hiện lên khá rõ, khiến bạn có cảm giác khoé môi của người phụ nữ

    cũng được kéo nhếch lên và tô đậm hơn. Kết quả, bạn thấy người phụ nữ cười. Ngược lại, khi bạn nhìn vào miệng nàng thì

    hiệu ứng này cũng lập tức biến mất cùng với nụ cười ấy. Thì ra, nụ cười này vừa thật, vừa ảo. Người xem tranh Mona Lisa

    rất khó nhận thấy khi nào nàng cười thật và khi nào nàng cười ảo. Đây chính là bí mật lớn nhất về Mona Lisa, nó giải thích vì

    sao mấy trăm năm nay, người xem luôn có cảm xúc rất trái ngược khi đứng trước bức tranh này. Có điều, khi sử dụng

    “mẹo” này, Leonardo DaVinci có lẽ đã không vận dụng đến kiến thức khoa học mà dựa vào kinh nghiệm của một nghệ sĩ nhiều

    hơn.

    “Mắt thần”

    Bài nghiên cứu của Giáo sư Itzhak Fried, Đại học California (Mỹ) đăng trên tạp chí khoa học The Lancet năm 1992 khẳng

    định: "Để nhận biết hình ảnh, con người cần rất ít thực tế". Đây là một kết luận thật khó hiểu. Để tìm hiểu xem Fried nói gì,

    một lần nữa, chúng ta lại phải quay lại… Mona Lisa.

    Fried cho mời 100 người đàn ông tới một cuộc thử nghiệm. Ông chia họ làm hai nhóm. Nhóm thứ nhất được nhìn thấy bản

    sao của Mona Lisa treo trên tường, còn nhóm thứ hai tới một căn phòng trống trơn để nghe một người kể về bức tranh. Sau

    đó ông mời hai nhóm tới một căn phòng khác và đề nghị họ miêu tả lại bức tranh. Trong khi những người này miêu tả, Fried

    dùng một phương pháp đặc biệt để đo các hoạt động trong não bộ của họ. Kết quả thật kỳ lạ: Não bộ của những người này

    đều vận động các tế bào giống hệt nhau và “bức tranh” mà họ kể lại khá giống nhau: Chúng đều là sản phẩm của rất ít thực tế

    và rất nhiều tưởng tượng.

    “Điều quan trọng không phải là chúng ta nhìn thấy bức tranh thật hay chỉ ngồi tưởng tượng. Mỗi người đều có một con mắt

    thần - bộ phận lưu giữ các hình ảnh tưởng tượng - giúp chúng ta có thể tổng hợp hình ảnh và trình bày một khung cảnh nhất

    định”, Fried nói.

    Thực tế và ảo giác

    Tại sao bạn luôn có cảm giác rằng bạn có một bức tranh đầy đủ và thực tế về cuộc hiện sinh này?. “Bởi vì rất hiếm khi bạn

    gặp được ai đó chỉ cho thấy điều ngược lại!”, các nhà nghiên cứu hành vi giải thích.

    Não bộ của bạn luôn thu nạp và xử lý một số hình ảnh mà mắt bạn “quét” được từ thực tế, nhưng nó còn thu nhận một khối

    lượng lớn hơn nhiều các hình ảnh từ kho kinh nghiệm và trí tưởng tượng của bạn. Mặt khác, việc não bộ của bạn lựa chọn

    “thực tế” nào lại do trí tưởng tượng quyết định. Ví dụ, mắt bạn “quét” được toàn cảnh một cánh đồng gồm nhiều bươm bướm

    và chuột, nhưng nếu trí tưởng tượng của bạn chỉ “thích” bươm bướm thôi chẳng hạn, thì não bộ sẽ tự động xoá những con

    chuột ra khỏi bức tranh. Kết quả là bạn chỉ nhớ được một bức tranh toàn bươm bướm. Tóm lại, bức tranh tổng thể về thế

    giới của bạn phần nhiều là tưởng tượng chứ không phải thực tế. Nói cách khác, thế giới chỉ do ảo giác mà có.



    Ảo giác "Hoa thủy tiên" của Salvador Dali.

    Các nghiên cứu mới nhất về khoa học thần kinh cho biết, không ai có thể cùng một lúc nhìn thấy tất cả những chi tiết của

    một bức tranh. Mỗi vật thể, dưới con mắt của người khác sẽ có một hình thù khác hẳn. “Nhìn và lựa chọn hình ảnh là một

    quá trình sáng tạo, y hệt như vẽ một bức tranh vậy. Sản phẩm của nó chỉ vô tình trùng lặp với thế giới của những hiện tượng

    vật lý mà thôi”, các nhà khoa học giả thuyết.

    Chuyện chọn áo nhầm màu trong siêu thị

    Nếu giả thuyết trên được ủng hộ hoặc kiểm chứng thì đó sẽ là một tin mừng lớn với nhà vật lý thiên tài Isaac Newton. Cuối

    thế kỷ 17, Newton đã có ý tưởng cho rằng, mọi vật tự nó đều không có màu sắc nếu không có sự hiện hữu của ánh sáng.

    Tuy vậy, não bộ của chúng ta vẫn cố gán cho chúng một màu sắc nào đó.

    Hai nhà sinh học thần kinh Dale Purves và Beau Lotto, Đại học Duke (Anh), cho biết: “Màu sắc là sản phẩm của cảm nhận

    chứ không phải thực tế”. Theo đó, con người có thể thu nạp hình ảnh dựa trên tưởng tượng và kinh nghiệm một cách khá

    chính xác. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng như vậy. Nhiều trường hợp, người mua hàng chọn một chiếc áo theo màu ưa

    thích trong siêu thị, nhưng khi về nhà mới phát hiện ra nó có màu khác hẳn. Nguyên nhân là khi ở cửa hàng, người đó đã

    chọn màu theo tưởng tượng và kinh nghiệm chứ không phải theo màu thực do mắt “quét” được.

    Vấn đề nhân chứng

    Nếu các hình ảnh lưu giữ trong não bộ không có liên hệ gì rõ ràng với thế giới hiện hữu, thì ai có thể khẳng định rằng, cái anh

    ta nhìn thấy là “thật sự đã xảy ra”, hay đó chỉ là “ảo giác”. Trong thí nghiệm ở phần thứ nhất, người phụ nữ đã nói chuyện

    mấy phút liền với khách khỏi đường mà không nhận ra anh ta đã bị tráo đổi. Vậy thì lời kể của nhân chứng trong một sự kiện

    chỉ diễn ra chớp nhoáng có thể tin được hay không? Hơn nữa, ở thời điểm xảy ra sự kiện, nhân chứng thường khá thờ ơ,

    thậm chí anh ta đang chú tâm vào một việc gì đó hoàn toàn khác. Thế thì, nhân chứng có khác gì những người đàn ông xem

    bóng rổ, không hề nhìn thấy con vượn đi qua.

    Nhà khoa học Stephen Kosslyn, Đại học Haward, còn làm một thí nghiệm như sau: Ông mời 10 người xem bức ảnh của một

    người đàn ông. Sau đó, ông cho họ xem một bức ảnh khác cũng của người ấy với một số nét thay đổi về quần áo và kiểu

    tóc. Khi được mời kể lại về sự khác biệt giữa hai bức ảnh, 10 người này đã nói rất khác nhau, trong đó có nhiều chi tiết

    không hề có trong cả hai bức ảnh. Kosslyn kết luận: “Con người không thể phân biệt được đâu là thông tin khách quan (thực

    tế) và đâu là tưởng tượng. Bình thường, họ thu nhận hỗn hợp của cả hai”.

    Một mình giữa cõi đời

    Có lẽ còn lâu khoa học mới giải thích được mối liên hệ giữa nhận biết, thực tế và tưởng tượng. Tuy nhiên ngày càng có

    nhiều giả thuyết cho rằng: Thế giới thị giác đầy đủ của chúng ta được hình thành từ một số hình ảnh cụ thể, kết hợp với một

    số hình ảnh chìm sâu trong kho kinh nghiệm và…rất nhiều tưởng tượng.

    Vì mỗi người đều có một trí tưởng tượng riêng, nên mỗi người đều cô độc trong một thế giới của những hình ảnh thị giác

    đơn lẻ. Tiến sĩ Richard Gregory, nhà tâm lý, tác giả của rất nhiều cuốn sách về tri thức của thị giác đã đưa ra một tổng kết bi

    quan như sau: “Thế giới thị giác mà bạn đang sống là ngôi nhà riêng của bạn. Thỉnh thoảng bạn lại nuôi ảo tưởng rằng, có thể

    chia sẻ nó với một người nào đó. Nhưng thực tế, chẳng ai có thể chia sẻ với bạn. Bạn chỉ có một mình mà thôi... Một mình

    giữa cõi đời này”.

    Làm sáng tỏ bí mật nửa thế kỷ của mặt trăng



    Leon Stuart với chiếc kính thiên văn.

    Sáng ngày 15/11/1953, nhà thiên văn nghiệp dư Leon Stuart ở Oklahoma (Mỹ) đã chụp được một hình ảnh ngoạn mục: một

    khối đá biến thành quả cầu lửa khổng lồ, bắn tung lên từ bề mặt mặt trăng. Nếu điều này được xác nhận, thì Stuart sẽ là

    người đầu tiên trong lịch sử chứng kiến và ghi lại được tác động của một thiên thể tới chị Hằng.

    Các nhà thiên văn gọi hiện tượng đó là “Stuart’s Event”. Gần nửa thế kỷ qua, nhiều tàu thăm dò và 6 con tàu có người lái đã

    lần lượt hạ cánh trên vệ tinh của trái đất, nhưng vẫn không tìm ra dấu vết của vụ va chạm này. Những người theo chủ nghĩa

    hoài nghi phủ nhận dữ liệu của Stuart, và khẳng định rằng vật sáng kỳ lạ mà ông nhìn thấy chỉ là một thiên thạch, bị bốc cháy

    khi bay vào bầu khí quyển trái đất mà thôi.

    Tuy nhiên, giờ đây, hai nhà khoa học Mỹ đã chứng minh điều giả định của Stuart là hoàn toàn đúng: Họ tìm thấy dấu vết của

    vụ va chạm mà Stuart đã nhìn thấy - một miệng hố "mới tinh" trên bề mặt mặt trăng.

    "Căn cứ vào chớp sáng kỳ lạ trên bức ảnh của Stuart, chúng tôi phỏng đoán rằng vật thể va vào mặt trăng có đường kính

    khoảng 20 mét, và tạo ra một hố rộng khoảng 2 km. Nhiệm vụ của chúng tôi là tìm được chiếc hố này", tiến sĩ Bonnie Buratti,

    phòng thí nghiệm Jet Propulsion của NASA ở California, và Lane Johnson, Đại học Pomona, cho biết. Hai nhà nghiên cứu

    phỏng đoán rằng, do sự kiện diễn ra chưa lâu, nên chiếc hố nếu có phải còn nguyên vẹn, mà không bị xói mòn hay phong

    hóa.

    Họ sử dụng hai chỉ thị để chứng tỏ rằng một miệng hố trên mặt trăng là còn “mới”: Sự xuất hiện một lớp bụi xanh nhẹ trên bề

    mặt (chứng tỏ đất ở đó chưa phải trải qua quá trình phong hóa vũ trụ, vốn làm cho đất có màu đỏ), và dấu hiệu thứ hai là các

    hố mới bao giờ cũng phản xạ ánh sáng nhiều hơn những vùng xung quanh.

    Buratti và Lane đã tìm kiếm trên một vùng rộng 35 km, nơi được xem là diễn ra vụ va chạm. Đầu tiên, họ lọc nhiễu trên các

    bức ảnh do tàu Lunar Orbiter gửi về từ năm 1967, nhưng trên đó, không một miệng hố nào có vẻ phù hợp. Sau đó, họ tìm tới

    những bức ảnh rõ nét hơn, do tàu không gian Clementine chụp được năm 1994. Ở đây, Buratti và Lane đã có được điều mà

    họ muốn: một miệng hố rộng 1,5 km, với lớp bụi xanh sáng ở xung quanh, và nằm ở vị trí chính giữa trong bức ảnh của

    Stuart.

    Từ những thông tin quan trọng này, hai nhà nghiên cứu đã tính được năng lượng giải phóng trong vụ va chạm là khoảng 5

    mega tấn (gấp 35 lần sức công phá của quả bom nguyên tử mà Mỹ thả xuống Hiroshima), và phỏng đoán rằng cứ sau nửa

    thế kỷ, lại có một vụ va chạm như vậy xảy ra trên mặt trăng.

    “Chúng tôi từng được dạy rằng mặt trăng là mảnh đất chết, nhưng phát hiện này đã phủ nhận điều đó. Giờ đây, chúng tôi

    thực sự có thể nhìn thấy những thay đổi trên mặt trăng”, Buratti nói. Nghiên cứu của hai nhà khoa học được công bố trên số

    mới nhất của tạp chí vũ trụ học Icarus.

  • forever_21

    khoảng 1 10 năm trước
  • wow,nói gì mà nhiều thế đọc muốn mệt luôn Rolleyes


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group