Truyện dã sử (nhiều tác giả)

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • Hai Bà Trưng



    Cánh bay vần vụ của chim Mơ Ling đã nghìn năm lướt trên miền đất có hai cực Đông Tây là hai trái núi Tam Đảo và Ba Vì lớn nhất đất nước. Và cả ba dòng sông Cái, sông Đà, sông Lô lớn nhất đất nước cùng dồn chảy qua miền này, từ nghìn năm nay cũng in bóng chim Mơ Ling sải cánh vùn vụt. Người ở đây đã lấy hình con chim táo tợn, dũng mãnh và nhanh nhẹn như tia chớp ấy làm vật tượng trưng cho dân mình, lấy tên con chim ấy đặt tên cho đất mình. Đấy là địa bàn gốc của những người Việt xưa đã theo các vua Hùng dựng nước Văn Lang. Và quốc đô Phong Châu của các vua Hùng xưa cũng đóng ở miền này.

    Xâm chiếm nước Văn Lang của các vua Hùng xưa, nhà Hán đã biến đất đai của bộ lạc Mơ Ling cũ thành huyện Mê Linh của quận Giao Chỉ. Và xây ở đây một tòa Đô úy trị tua tủa gươm giáo, tinh kỳ. Trong khi đó, ở chếch xa phía thành Tây Nam, trên vùng cư trú cũ của bộ lạc Dâu từ thuở các vua Hùng, thành Liên Lâu mới chính là một nơi đặt Quân trị của nhà Hán.

    Nước Văn Lang xưa của các vua Hùng tuy đã bị nhà Hán đặt làm quận huyện, nhưng dân Việt vẫn còn giữ được những người cầm đầu các bộ lạc cũ của họ dòng dõi các lạc hầu, lạc tướng của vua Hùng. Đến những năm đầu công nguyên, từ miền đất đai có bóng chim Mơ Ling thiêng liêng ấy, từ dòng dõi lạc hầu lạc tướng của các vua Hùng ấy, đã xuất hiện hai người con gái kiệt xuất của đất Việt: Trưng Trắc và Trưng Nhị.

    Tòa Đô úy trị của nhà Hán trấn ngự trên đất Mê Linh, gươm giáo tinh kỳ sáng lóa mà vẫn thấp thỏm không yên. Cái tham vọng khống chế, đối phó với miền cư dân quan trọng nhất đất Giao Chỉ này của nó, đang phấp phỏm trước một mối đe dọa hiểu nghèo, cứ mỗi ngày một lớn mãi lên.

    Tiếng trống đồng ầm ào như tiếng sấm. Dân Mê Linh mở hội lớn. Trai tráng, và cả những cô gái nữa, rìu đồng giáo sắt nắm trong tay, những chiếc lông chim cắm ngất ngưởng trên đầu, bộ áo lông chim xòe rộng quanh người, theo nhịp trống đồng dồn dập, vừa hò hét, vừa uốn mình, vung tay, lặp lại các động tác bay lượn của chim Mơ Ling.

    Những âm thanh náo nức ùa vào trong ngôi nhà làng, mái cong vút như hình thuyền. Trên sàn nhà cao, Trưng Trắc, Trưng Nhị đang tiếp khách quý.

    Chàng trai tuấn tú là khách từ xa, tận phương Nam tìm đến. Vâng lời cha, đương chức lạc tướng huyện Chu Diên, Thi Sách, chàng trai ấy, đã dẫn một toán thân binh tới Mê Linh từ mấy hôm nay. Và hội vui cũng đã mở ngay từ ngày hôm ấy.

    Bấy giờ đang là mùa xuân. Theo tục lệ cổ truyền của người Việt, đây là những ngày vui chơi của mọi người, và là những ngày yêu đương của những đôi trai gái. Quân trị và Đô úy trị của nhà Hán từ lâu đã muốn bỏ những ngày hội như thế này, vì nó khác với phong tục của người Hán, nhất là tòa Đô úy trị của nhà Hán từ lâu đã muốn bỏ những ngày hội như thế này, vì nó khác với phong tục của người Hán, nhất là tòa Đô úy trị thì lại càng không muốn có những điệu nhảy vũ trang kia. Nhưng mặc! Thóc mùa đã nộp xong vào kho thuế. Lúa chiêm trên các thửa ruộng lạc đã xanh mướt chờ làm đòng. Mùa săn tìm chim quý, thú lạ và các cây thuốc thần để cống nạp, còn đang đợi mở. Tục lệ hội hè của ta, ta cứ giữ!

    Buổi trưa, từ rừng sâu, toán thân binh của Thi Sách và trai tráng Mê Linh đã lặc lè khiêng về một con cọp vằn cực lớn. Trưng Trắc, Trưng Nhị và Thi Sách mỏi mệt nhưng hả hê, nối nhau đi sau con mồi một quãng ngắn.

    Mùa săn chưa được lệnh của Đô úy trị cho mở, nhưng nhân có khách quý, Trưng Trắc đã đứng ra bày cuộc đấu sức này. Và kết quả thật đã vượt quá ước mong. Nỗi vui mừng đột ngột đẩy bổng cả ngày hội của dân Mê Linh. Cuộc múa vũ trang mừng chiến thắng cổ truyền đã kéo dài đến đêm khuya. Con cọp vằn treo chếch bên ngôi nhà làng, trước vòng múa nhảy tưng bừng của trai tráng và các cô gái làng. Hai mũi lao dài vẫn cắm sâu lút vào giữa ức và sát mang tai cọp. Cán lai có một khoang nhuộm đen và một khoang bôi vàng: Dấu hiệu riêng của con trai quan lạc tướng Chu Diên đó!

    Trên sàn cao ngôi nhà làng, cây đuốc tẩm nhựa thông đã cháy đỏ. Khuôn mặt của Trưng Trắc, Trưng Nhi và Thi Sách đều hồng sáng dưới ánh lửa. Men rượu cũng đã khiến cả ba đều ngà ngà say. Riêng Thi Sách dường như say nhiều hơn cả. Hạnh phúc và niềm vui tràn trề, chàng trai trẻ đã uống quá bội mức thường. Hạ được chúa rừng ngay trước mắt chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị, việc đó há chẳng phải là niềm vui lớn? Nhưng hạnh phúc còn lớn hơn nữa, chính là thái độ ân cần, mặn mà của những người nữ chủ đất Mê Linh.

    Rời Chu Diên lên đường, Thi Sách vừa khấp khởi mừng, vừa hồi hộp lo. Tiếng tăm của hai chị em họ Trưng, lâu rồi, đã từ Mê Linh bay đi rất xa. Và ý của quan lạc tướng Chu Diên truyền cho con trai lại cũng đã rõ; kết thân được với họ Trưng thì chẳng những chỉ tốt lành chuyện vợ chồng, mà còn may mắn cho non sông đang rên siết dưới ách giặc. Bởi thế lực của hai miền đất Chu Diên và Mê Linh cùng đem gắn bó chặt được thành một mối, sức mạnh của người Việt sẽ được nhân lên gấp bội. Sức mạnh ấy, một khi đem ra xoay chuyển tình thế; phá đổ ách đô hộ của nhà Hán mà khôi phục lại nước cũ của người Việt, ắt là nên việc lớn!

    Trong một thoáng định thần, Thi Sách vụt nhớ lại những lời dặn của cha già, và chợt ngừng uống, ngước mắt đăm đăm nhìn Trưng Trắc. Chàng trai cũng gặp ngay cặp mắt như thế đang nhìn mình, lâu, rất lâu, vừa khoan hòa, ấm áp, vừa như muốn nói mãi một điều gì thật lớn, thật nghiêm. Mấy hôm nay, Thi Sách đã nhiều lần gặp cái nhìn ấy, nửa như tin cẩn, thân thiết, nửa như con muốn dò hỏi, cậy trông nhiều hơn nữa. Nhưng không có chút màu mè, khách khi nào.

    Ngực cồn lên, Thi Sách lại uống nữa. Khuôn mặt của Trưng Trắc đã nhòa đi thành hai. Nhưng đấy lại là Trưng Nhị đang ghé sát bên chị:

    - Chàng say rồi!

    Thi Sách chỉ còn thoáng nghe được câu ấy, như một hơi gió ấm lướt qua. Chàng trai trẻ đất Chu Diên không còn nghe tiếp được lời trò chuyện của nàng em đang níu lấy vai chị, giọng cợt đùa:

    - Em biết tại sao hồi trưa chị lên nhổ mũi tên của chị rồi!

    Trưng Trắc quay nhanh xuống nhìn em, mặt càng ửng đỏ, rồi lại ngẩng lên, đưa mắt qua đầu Thi Sách, nhìn mãi về phía xa... Việc ấy, thế ra Trưng Nhị cũng đã biết! Phải, hồi trưa vừa nhác thấy bóng cọp chồm tới, Trưng Trắc đã nhanh tay thả một mũi tên xuyên nát một bên mắt cọp. Chúa rừng đã khựng lại ngay giữa đà nhảy dữ dội của nó, và nhận tiếp luôn hai mũi lao hiểm của Thi Sách. Nhưng chính Trưng Trắc, chạy tới bên thú dữ trước tiên, đã kín đáo nhổ biến ngay mũi tên lợi hại của mình, giữa lúc con vật khổng lồ còn đang vật giẫy chết...

    Vẫn giữ nguyên luôn mắt nhìn ra xa, sau một lúc trầm ngâm. Trưng Trắc bỗng hạ giọng, nói ràng rẽ:

    - Phải! Nhưng bởi ta còn muốn nhằm con thú khác, to hơn!

    Con thú lớn ấy, ngay sau đấy đã xuất hiện. Và múa vuốt nhe nanh, trợn tráo thật càn rỡ.

    Mùa xuân năm ấy, thái thủ Tô Định, người thay mặt hoàng đế nhà Hán cai trị quận Giao Chỉ, theo đúng lệ định cho các chức thái thú biên quận mùa xuân phải đi tuần các huyện, đã từ Liên Lâu đến thẳng Mê Linh trước tiên.

    Giữa tòa Đô úy trị, sau khi đã xem xét kỹ lưỡng các kho tàng, tiền của, Tô Định liền cho Triệu bọn thuộc hạ quanh huyện Mê Linh đến hỏi han về tình hình chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị. Vừa nghe tin con trai quan lạc tướng Chi Diện đến chơi đất Mê Linh, mới giết được cọp dữ, Tô Định bỗng giật mình biến sắc. Linh tính của tên quan cai trị cáo già khiến Tô Định cảm thấy ngay nổi lo ngại bấy lâu của hắn, nay dường như đã gặp điềm báo ứng. Chẳng phải chỉ là việc một con mồi quý bị hạ trước khi có lệnh mở mùa săn. Mà chính là người đã hạ thủ chúa rừng kia: Con trai lạc tướng Chu Diên, cớ chi tới tận đây mà lại được cử động ngang nhiên làm vậy? Chị em họ Trưng đang mưu tính gì mà lại mặn mà với khác lạ nhường ấy?

    Lập tức, Tô Định dẫn quân tướng xộc thẳng xuống ngôi làng chủ của đất Mê Linh.

    Tòa nhà làng mái cong đồ sộ, lặng ngắt hiện ra trước mắt viên thái thú nhà Hán. Sàn cao, bãi rộng, không một bóng người. Chỉ có chiếc trống đồng lớn, treo trước nhà là khẽ đung đưa theo nhịp rung từ những gót giày hùng hổ lẽo nhanh lên sàn cao của Tô Định.

    Vừa bước vào nhà, một tấm da cọp căng vàng rực hẳn một góc sàn đã đập ngay vào mắt Tô Định. Từ trước đến nay, viên thái thú nhà Hán chưa bao giờ được thấy tấm da cọp nào vừa lớn, lại vừa đẹp đến thế! Màu da còn tươi rói. Hẳn đây là con cọp mới bị Thi Sách săn hạ. Và Tô Định bỗng nhiên thấy ngố người lên. Một cơn thèm muốn thật lớn đã chán hết cả trí não viên quan cai trị nhà Hán, như đã bao lần, đứng trước những của quý, vật lạ của đất này. Tô Định vẫn còn mang máng thấy cần phải tra tìm việc con trai lạc tứ Chu Diên đến lộng hành ở đất Mê Linh. Hắn cũng vẫn còn mang máng nhớ đến mối lo ngại bấy lâu canh cánh trong lòng. Nhưng tấm da cọp kia mới thật là việc đáng quan tâm lúc này. Lập tức, Tô Định quát gọi thuộc hạ, một mặt truyền nổi lửa đốt ngay ngôi nhà làng để răn đe dân màu, một mặt vào gỡ nhanh tấm da cọp, mang đi.

    Từ trong làng xa, thấy lửa khói bốc lên từ ngôi nhà làng. Trưng Trắc, Trưng Nhị và dân Mê Linh vừa kéo đến xem sự thể, thì chứng kiến hành động ngang ngược của Tô Định. Dân Mê Linh bồn chồn bứt rứt, hết nhìn ngôi nhà làng đang cháy rừng rực và tấm da quý đang bị cướp sống, lại nhìn người nữ chủ. Trưng Nhị, trong một tư thế hết sức căng thẳng, cùng đảo mắt rất nhanh, vừa tìm mắt chị, vừa nhìn đám dân của mình. Nhưng vừa lúc Trưng Nhị toan phác một cử động quyết liệt thì Trưng Trắc đã nắm lấy cánh tay em gái. Đứng rất thẳng người, Trưng Trắc yên lặng để mặc Tô Định và đám thuộc hạ kéo đi.

    Khi đám quan quân nhà Hán đã khuất sau đồi câu trước làng, Trưng Nhị bỗng giật giọng hỏi chị:

    - Tại sao lại như thế? Tại sao lại để chúng càn rỡ mãi thế? Nhà làng của ta, chúng đốt đã bao lần...

    - Ta sẽ dựng lại! Trưng Trắc lại ngắt lời em, Mà sẽ còn dựng cỏ thành cao hào sâu kia!

    - Nhưng còn tấm da? Chị đã dành để chàng Thi Sách đưa về dâng quan lạc tướng Chu Diên...

    - Ta sẽ lấy lại! Trưng Trắc lại ngắt lời em. Và nói mỗi lúc một dằn tiếng, Nhưng giờ chưa phải lúc ta sẽ cùng chàng Thi và dân Chu Diên đi lấy lại. Và cả dân cư khắp đất Việt này cũng sẽ đi lấy lại. Mà cũng không phải chỉ lấy một tấm da đâu!

    Mùa xuân năm sau, bắt đầu cuộc tuần thú hàng năm của hắn, Tô Định lại từ Liên Lâu đến thẳng Mê Linh.

    Năm nay, dân Mê Linh cũng như dân các huyện, đều không được phép mở hội xuân nữa. Nhưng cho dù không có lệnh cấm ngăn ấy, dân Mê Linh cùng khó mà mà vui chơi được. Bởi mùa săn đã được lệnh phải mở sớm hơn mọi năm. Và các khoản cống phẩm khoản cho Mê Linh phải nộp sang triều đình nhà Hán, lại tăng thêm một đôi sừng tê, kích thước phải dài chín tấc trở lên, và một đôi ngà voi, khích thước phải dài từ năm mươi tấc trở lên! Một chức quất quan được Tô Định chọn ngay trong đám người Hán mới chạy loạn Vương Mãng sang Giao Chỉ, cho ăn lương hàng năm hai trăm thạch lừa lấy của dân, chỉ để chuyện đốc thúc việc bắt dân trồng quýt, và tổ chức chuyên chở các thứ quả lạ mà quý của phương nam ấy, về tận kinh đô nhà Hán, dâng cống cho triều đình!

    Gánh nặng thuế má, cống nạp tưởng đã làm dân Việt nghẹt thở. Ở miền rừng thì khổ vì phải tìm chim quý thú lạ. Còn ở biển thì mất xác vì phải mò tìm đồi mồi, ngọc châu. Mà hầu hết sức lực để chịu đựng gánh nặng ấy, trông cả vào ruộng nương, thì ruộng nương lại bị bọn người từ Trung Nguyên xô xuống, ỷ vào thế lực Quân trị, Đô úy trị, cướp đoạt mất tất cả những nơi màu mỡ nhất. Chuyện hãm hại, hà hiếp, giết chóc dân lành xảy ra như cơm bửa. Khắp cõi Giao Châu, uất khí bốc lên ngùn ngụt.

    Thái thú Tô Định, vào dịp này, càng vơ vét cướp đoạt được nhiều, càng cảm thấy trong lòng không yên. Và Mê Linh lại cũng vẫn là nơi mà Tô Định băn khoăn nhất. Bởi tiếng đồn đại về hai chị em họ Trưng vẫn cứ từ đất Mê Linh bay đi khắp xứ. Sắc đẹp thì đã đành. Nhưng tính khí ngang tàng, tài thu phục lòng người và đức quảng giáo thì lại cũng chẳng kém gì bậc trượng phu. Mà khá lạ thay cho người xứ này! Trong khi ở Trung nguyên, phụ nữa đều phải và khuôn phép lễ giáo, phu xướng phụ tùy, thì ở đây, đàn bà con gái đâu đâu không. Sự giáo hóa của thiên triều xem chừng còn lâu mới uốn nắn được!

    Mùa xuân năm Kiến Vũ thứ mười lăm, Khi Tô Định đến Mê Linh, thì bỗng được tin Trưng Trắc quả đã cùng Thi Sách ở Chu Diên kết nghĩa vợ chồng. Hôn lễ vẫn theo đúng lệ cũ của người Việt: Vợ chồng tuy đã thành thân nhưng người nào vẫn ở lại đất của người ấy. Một lần nữa. Tô Định lại bất giác giật mình và nổi cơn giận dữ thật sự. Bởi lẽ từ hàng chục năm nay, kể từ khi thái thú Tích Quảng trị nhậm đất Giao Chỉ, các thái thú đã thấy không thể để dân Việt sống khác mãi với tục lệ của người Hán được. Vậy nên, trước tiên là thể thức hôn nhân phải định lại. Phải có mối lái, sính lễ, cưới hỏi, ăn ở theo đúng điển lễ Trung Hoa. Kế tục Tịch Quang, bây giờ ở Giao Chỉ có Tô Định, và ở Cửu Chân thì thái thú Nhâm Diên, bạn đồng liêu với Định, đều ra sức giáo hóa dân Việt phải theo điển lễ hôn nhân Hán tộc. Vậy, họ Trưng, họ Thi là dòng dõi các lạc tướng mà vẫn ngang nhiên giữ lễ cũ, không chịu vào khuôn phép mới, thế thì thử hỏi dân man còn giáo hóa làm sao?

    Lập tức, Tô Định lại theo gương Tích Quang, tìm trong đám người Hán ở Giao Chỉ, đặt một chức môi quan.

    Đấy là người sẽ thay mặt triều đình, kiểm soát các cuộc hôn nhân của người Việt, buộc phải theo đúng điều lệ của nhà Hán!

    Tin ấy đến tai hai chị em họ Trưng giữa lúc những người nữ chủ đất Mê Linh đang dạo một lượt các hộ chăn tằm trong làng. Tằm mùa xuân đang một nhân hai, hai nhân bốn, bốn nhân tám... Cuộc hôn nhân giữa Trưng Trắc và Thi Sách, mỗi người làm chủ một phương, kết liền thế lực hai miền đất lớn của người Việt đang nhân bội sức mạnh chống ách đô hộ hà khắc của ngoại bang. Bão táp sẽ từ đây bùng ra. Bọn đô hộ lại muốn dùng điển lễ hôn nhân của chúng để gò bó dân ta chăng? Trưng Trắc chỉ nắm chặt bàn tay em, cười nhạt. Và càng dội lên trong lòng nỗi nhớ yêu chồng.

    Làm đúng theo những điều cùng Trưng Trắc bàn bạc. Thi Sách từ khi ở Mê Linh trở về, dốc sức ngày đêm biến Chu Diên thành chỗ dựa bền chắc của Mê Linh trong cuộc khởi nghĩa sắp tới.

    Đất Chu Diên là nơi lắm ruộng nhiều vườn. Các làng chạ trong miền, theo lệnh của Thi Sách, đồng góp thóc lúa hoa màu trữ lại một nơi. Và rèn sắt đúc đồng, sửa soạn vũ khí. Những câu chuyện thầm thì, những cặp mắt nhìn kín đáo, và cả những cử chỉ cố gắn kìm hãm. Người người nô nức và âm thầm, bồn chồn chờ ngày khởi nghĩa lấy lại nước cũ.

    Tin đi tin về giữa Chu Diên và Mê Linh vẫn đều đặn và ngày càng tăng. Những con thuyền mũi cong, đuôi én, chèo lại vùn vụt, xuôi sông Đáy, ngược sông Cái đưa Trưng Trắc về Chu Diên gặp chồng, đưa Thi Sách lên Mê Linh gặp vợ. Vượt biển khởi, băng rừng núi, những cờ súy thân cận của lạc tướng các huyện xa mãi trong các quân Cửu Chân và Nhật Nam ở phía Nam, các huyện ngoài biển Đông của cõi Giao Chỉ, các huyện xa trên quận Hợp Phố ở mạn Bắc, tất cả cũng đều tìm về Mê Linh, và đón những cừ súy của Trưng Trắc, Trưng Nhị từ Mê Linh đưa đi, bàn định việc nghĩa.

    Những con dân của nước Văn Lang xưa, cùng chung nỗi hoạn nạn, theo nếp cũ, chỉ chờ dịp gặp được người kiệt liệt đứng ra xướng xuất việc lớn, là lại tụ hội với nhau thành một mối, tự nhiên như ngày nào.

    Một mùa xuân nữa đã đến, mùa xuân năm bốn mươi sau công nguyên.

    Vào những ngày mùa xuân năm ấy, Trưng Trắc và Trưng Nhị bận tất bật. Dân Việt khắp nơi đã đủ bề cùng cực. Và lòng mong nước cũ, nhớ đời tự do xưa, càng nấu nung. Người người hướng cả về Mê Linh, chờ đợi chị em họ Trưng hành động.

    Dân Mê Linh được lệnh của nữ chủ tướng, từ lâu cũng đã sẵn sàng.

    Giữa lúc ấy, một con thuyền quẫy mình ngược sóng hối hả lao về Mê Linh. Tín dữ từ Chu Diên đưa tới: Chàng Thi Sách đã bị Tô Định đem quân từ Quân trị về bắt giết! Tên thái thú tham tàn này, từ ngày được biết Trưng Trắc đã cùng Thi Sách kết thân, thì mỗi lúc một bàng hoàng nhận thấy rõ thêm rằng đây không phải là một cuộc hôn nhân bình thường. Những dấu hiệu biến động của người Việt ở khắp nơi từ sau cuộc hôn nhân ấy, càng khiến Tô Định hoảng hốt, lúng túng tìm cách đối phó với Mê Linh, mà hắn thừa biết là nguồn cội của cơn giông bão đang ì ầm sôi sục. Chưa dám động tới những người con gái mà hắn còn kiêng dè, Tô Định vội vã thử tìm cách triệt vây cánh của Mê Linh. Đưa đại binh đột ngột kéo về Chu Diên, bắt giết Thi Sách, Tô Định nghĩ rằng đấy là hành động trấn áp phủ đầu đác sách nhất của hắn.

    Trưng Trắc và Trưng Nhị ấy đang đứng bên tàu voi. Đôi voi trắng khổng lồ, đang độ sung sức, đứng không yên chỗ, hết cuộn vòi lại lắc mình. Chợt con voi lớn bỗng rùng người lùi lại, tung vòi rống lên một tiếng lớn: Nó vừa thấy người nữ chủ thất sắc, loạng choạng níu vòi lấy gốc cây buộc voi khi nghe đám cừ súy hốt hoảng rầm rập chạy tới đưa tin dữ từ Chu Diên...

    Lặng đi hồi lâu, Trưng Trắc bỗng lắc người chồm dậy, sải những bước lớn, đi thật nhanh về ngôi nhà làng. Trưng Nhị níu vai chị, rảo chân bước theo. Đám cừ súy rùng rùng chạy gần ở phía sau.

    Từ ngôi nhà làng mái cong vút, tiếng trống đồng đột ngột giật giọng gầm lên: Aàm ùng ầm, ầm ầm ầm...

    Tiếng trống đồng dội lên vòm cây, đập vào sườn đồi, chạy theo suốt dọc đường trẩy quân. Đất đỏ gió tung, cuồn cuộn cuốn bụi bay cùng tiếng trống. Những giọng hòa reo chốc chốc lại rộ lên một đợt, dìm tiếng trống vào môït biển âm thanh ồn ào, náo động.

    Dân Mê Linh, giáo lao, cung nỏ, rìu búa, khiên mộc cuồn cuộn tràn đi theo bóng voi ẩn hiện mờ mờ qua làn bụi ở phía trước. Tất cả đều ra đi. Chỉ để lại trong các làng những người già yếu và con trẻ.

    Trên bành voi cao, Trưng Nhị luôn luôn đưa mắt nhìn sang phía chị. Suốt thời gian dẫn đầu đoàn quân khởi nghĩa kéo đi, Trưng Trắc giữa nguyên thế ngồi, chống thẳng tay nắm chắc lấy bành voi, đẩy người về phía trước. Và đôi mắt mở to, sáng quắc trên khuôn mặt, bừng bừng trong một cơn kích động sục sôi kéo dài. Người nữ chủ tướng Mê Linh mặc giáp phục rực rỡ: Bên ngoài bộ xống trùng áo ngắn, là một tấm hộ tâm bằng đồng thau vàng rực, chạm khắc cầu kỳ, và chiếc thắt lưng khóa đồng có đính một chuỗi nhạc nhỏ kêu lanh canh theo nhịp lạc của lưng voi. Trước lúc trẩy quân, trong đám cứ súy đã có người xin nữ chủ tướng cho cử tang Thi Sách và mặt tang phục. Trưng Trắc trả lời:

    - Việc chiến trận phải quyền biết. Nếu tự làm tiều tụy thì nhuệ khí ắt tàn theo. Ta sẽ mặt giáp phục đẹp, để dân trông thấy thì phấn khích, mà giặc trông thấy thì kinh hoảng.

    Quả đúng như lời của Trưng Trắc. Dân Mê Linh vốn quý yêu người nữ chủ của mình bao nhiêu, thì càng buồn lo cho nỗi đang tang tóc của nữ chủ của mình bấy nhiêu. Nhưng khi thấy Trưng Trắc, Trưng Nhị xuất hiện trước ngôi nhà làng, đẹp đẽ, lộng lẫy và nhanh nhẹn, hùng dũng bước lên mình voi, khoát mạnh tay ra lệnh nổi trống trẩy quân, thì tất cả dầu như sống dậy, hò reo chuyển đất, ào ào bám chân voi, nhìn chủ tướng mà xốc tới.

    Khí thế ngất trời ấy của những người khởi nghĩa quả đã làm khiếp đảm quân thù. Tòa Đô úy trị trên đất Mê Linh chỉ gắng gượng chống cự được khoảnh khắc rồi vỡ. Dân Mê Linh trèo qua tường thành, phá tung cổng thành, đạp bằng dinh lũy của quân thống trị, đốt cháy tan hoang.

    Đám tro tàn của tòa Đô úy trị còn đang vật vờ bốc khói, Trưng Trắc, và Trưng Nhị đã lạc bước lên mình voi. Và dân Mê Linh lại hò reo náo động theo nhịp trống đồng, theo người nữ chủ tướng, tràn xuống Liên Lâu. Nhưng lúc này, không phải chỉ có dân Mê Linh. Nhập vào đoàn quân trẩy đi phá Quân trị Giao Chỉ của nhà Hán, ngày càng có thêm đông đảo, dài dằng dặc, người của những làng chạ xa gần. Vừa nghe tin chị em họ Trưng đánh hạ Đô úy trị Mê Linh, dân Việt khắp nơi đã lập tứ cử người của mình kéo tới...

    Tiếng trống đồng thêm nhiều âm vang, tiếng hòa reo thêm nhiều các giọng. Và bụi đường bốc lên càng dữ dội. Tất cả cuồn cuộn tràn xuống Liên Lâu.

    Thành Liên Lâu cũng không đương nổi cuộc công phá của cả một biển người ào lên xung sát cực kỳ dũng mãnh theo hiệu trống đồng của Trưng Trắc, Trưng Nhị. Một đợt, rồi hai đợt tiến công, bao giờ cũng có Trưng Trắc, Trưng Nhị dẫn đầu, nghĩa quân Việt đã phá tan tòa thành Hán. Trong đám loạn quân, chị em họ Trưng thúc voi xông xáo tìm kiếm Tô Định mà không thấy hút hắn đâu. Con thú lớn ấy đã ôm đầu lủi trốn được.

    Nghỉ lại ở Liên Châu một chiều, Trưng Trắc, Trưng Nhị lập tức phái ngay cừ súy của mình đi các nơi thăm thú binh tình. Người đi chưa được bao lâu thì bỗng từ mạn Bắc đã có tiếng reo hò vọng lại. Một đoàn người lô nhô rìu giáo, cung nỏ, ồn ào kéo tới, dẫn đầu là một nữ thủ lĩnh còn trẻ măng. Tin vui truyền ngay đến tai Trưng Trắc, Trưng Nhị: Nàng Thánh Thiên ở Ngọc Lâm vừa nghe tin nữ chủ đất Mê Linh, nổi dậy, cũng đã lập tức dẫn dân vùng mình đánh hạ ngay huyện Bắc Đới của nhà Hán, rồi đưa thẳng đoàn quân khởi nghĩa về hội quân với chị em họ Trưng!

    Nỗi mừng vui náo nức còn nóng hổi thì từ mạn Nam, một đoàn quân sĩ nữa cũng đã vượt sông Đuống tiến lên. Hai người con gái giống nhau như hai giọt nước, dẫn đầu đoàn chiến binh ấy, chính là các nàng Nguyệt Thai, Nguyệt Độ ở Mi Thử, vừa nổi dậy đánh hạ huyện thành An Định của nhà Hán, rồi dẫn quân tới hội.

    Rồi từ mạn Tây cũng có người kéo về: Nàng Thiều Hoa ở động Lăng Xương với cả một đoàn dũng sĩ lao múa khiên và chạy nhảy như gió, vì hàng ngày vẫn chuyên luyện môn đánh phất hào hùng. Và từ mạn Đông, nữ tướng Lê Chân, người đã chiêu dân lập ấp, dựng nên trang An Biên ngay trên sóng nước biển Đông, cũng đã dẫn theo cả một đoàn quân gồm toàn những tay vật nổi tiếng lão luyện. Rồi thì nàng Tía ở Vĩnh Ninh đưa về một đoàn thuyền chiến và những thủy thủ ở nước như ở cạn. Tướng Nguyễn Tam Chinh bấy lâu mở lò vật ở Mai Đông, nay đem tất cả môn đệ của mình tới theo Trưng Trắc, Trưng Nhị. Tướng Lã Văn Ất cùng những người dân bộ lạc Trâu cũ, nổi dậy phá tan huyện thành Câu Lậu rồi cũng dẫn quân tới hội.

    Từ quân Cửu Chân, các tướng Đô Dương, Chu Bá tìm ra, cùng một lúc các cứ suý quận miền trong cũng đã nổi dậy phá tan tành các huyện thành và quân trị. Tin từ Hợp Phố mãi xa trên mạn Bắc đưa về sau cùng: Dân Việt ở đây cũng đã đánh tan bọn quan quân nhà Hán và chiếm xong các huyện thành.

    Tin thắng trận dồn dập, tới tấp truyền về. Nỗi vui mừng quá lớn khiến người ta đứng ngồi điều không yên. Hàng chục đời nay rồi, dễ chừng chưa từng có dịp nào được sống tưng bừng sung sướng đến như thế! Nước cũ từ thờ tổ Hùng Vương lại thấy bây giờ là đây! Hội mừng thắng trận mở hết ngày này sang ngày khác. Khắp nước náo động tiếng trống đồng và tiếng hò reo...

    Ba mùa xuân nữa nối nhau trôi qua, cũng trong tiếng trống đồng và tiếng hòa reo mở lại hội vui trên khắp đất Việt.

    Đuổi được giặc, lấy lại nước, hai chị em họ Trưng được cả nước tôn lên làm vua. Dòng dõi các vua Hùng xưa, bây giờ lại trị vì đất nước Việt. Trưng nữ vương trở về đất bản bộ của mình, xây thành Mê Linh, đúng như điều hứa hẹn của nàng Trưng Trắc ngày nào, người ta làm chủ nước ta. Các nữ thủ lĩnh, các nam cừ súy, được phong các chứ nữ tướng, tướng lĩnh, người nảo trở về đất nấy, dốc sức cùng nhân dân xây cuộc đời mới. Riêng Lê Chân giữ chức Tiên phong và Nàng Tía được giao cai quản thủy quân.

    Trưng Trắc bàn bạc với em gái và các tướng rồi quyết định miễn hẳn thuế khóa cho thiên hạ. Cùng kiệt, khổ nhục dưới ách bạo tàn đã lâu, nay vừa được tự do lại khỏi hẳn nạn cống nạp, dân Việt say mê sống cuộc đời mới đã ba mùa xuân mà vẫn bàng hoàng vì niềm hạnh phúc quá lớn. Tiếng hát ca ngợi Trưng vương cất lên từ tất cả những tấm lòng sùng kính say sưa của dân khắp nước.

    Vào mùa xuân năm thứ ba ấy, chỉ có Trưng vương là người phải lo nghĩ: Vua Hán Quang Vũ đã hạ lện động binh lớn, đưa tủ thư phong cho viên tướng lão luyện Mã Viện làm Phục ba tướng quân, đem đại quân sang đánh lại nước Việt, quyết đặt lại quận huyện ở đây một lần nữa.

    Buổi chiều mùa xuân năm thứ ba ấy, đứng trên lầu cao thành Mê Linh, nghe tiếng trống đồng ngày hội vọng tới, Trưng Trắc nói với Trưng Nhị:

    - Phải quyết sống mái với giặc thôi!

    Trận huyết chiến sống mái ấy đã xảy ra ở Lãng bạc.

    Hai vạn quân Hán, gồm nghìn đại binh và mười hai nghìn tinh binh của Mã Viện, đã giao chiến dữ dội với dân binh các làng chạ do Trưng vương thống suất, trong một trận đánh tối sầm cả trời đất. Quân Mã Viện đóng sắn trên các triền đất cao giữa vùng Lãng Bạc lầy lội, chuẩn bị tiến công Mê Linh. Giữa lúc ấy thì Trưng vương đem quân tới chận đánh. Hơn một vạn người Việt đã ngã và mất trong trận huyết chiến đó.

    Sau trận đánh lớn ở Lãng Bạc, Trưng vương thu quân về giữ Cấm Khê. Bọn Mã Viện lại kéo đại quân tới. Và một loạt trận huyết chiến nữa lại nổ ra, máu chảy đổ sông Hồng. Hơn hai vạn người Việt nữa lại đã bị mất ở đấy.

    Quyết bảo vệ đất nước và cuộc sống tự do của mình, thà mất hết chứ không quay lại kiếp ngựa trâu, sức lực của người Việt hầu như đã dốc kiệt để sống mái với quân xâm lược theo ý chí của Trưng vương. Những người nữ vương đầu tiên của đất nước, cho đến cùng, vẫn kiên quyết giữ mãi ý chí sống mái với quân thù. Và dòng sông quê hương, sau hết, đã nhận vào lòng nước mắt dạt dào chảy mãi về sau ý chí quý báu chói ngời ấy của Trương vương: Phóng những ngọn lao và bắn đến những mũi tến cuối cùng, Trưng Trắc và Trưng Nhị đã lùi đến bờ sông sâu. Và gieo mình xuống đáy nước.

    Bấy giờ là mùa hè năm bốn mươi ba sau Công nguyên.
    __________________

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • Bà Triệu
    Triệu Thị Trinh nhớ mãi lần chạy giặc hồi còn nhỏ vào trong núi Nưa. Buổi chiều hôm ấy, trời mù ảm đạm. Tiếng ngựa hí, quân reo vừa nghe vọng lại từ mạn xa thì đã thấy khi làng bên phát hỏa và lẫn với tiếng lửa réo ù ù là tiếsng người kêu vật rống kinh hoàng. Tin dữ từ đấy theo với tàn lửa cháy làng bay về: Thứ sử Lữ Đại dẫn đại quân nhà Ngô tiến đánh dư đảng của thái Thú Sĩ Huy, hiên đang cho binh lính làm cỏ đất Cửu Chân. Khu làng đông đúc ba nghìn dân ở bên cạnh dễ không còn được mấy người chạy thoát.

    Vạ lớn ập đến thật bất ngờ! Miền đất Cửu Chân này đang rên xiết dưới ách giặc, thế là một lần nữa lại chịu cảnh binh hỏa tàn phá! Chỉ còn cách mau chạy vào núi hiểm để cứu lấy tính mạng...

    Lần nguy khốn năm ấy, núi Nưa đã cứu thoát những người cùng làng với Triệu Thị Trinh chạy vào núi. Ngọn núi hùng vĩ sừng sững một vùng trời đất, cây cối điệp trùng, suối khe hiểm trở, từ đấy ghi mãi bóng hình của nó trong đầu óc cô gái họ Triệu. Ông già bà cả, cũng như trai gái, và trẻ nhỏ trong làng nữa, ai cũng từ đấy, coi núi Nưu là đất thiêng của dân mình. Những ngày đẹp trời, nhìn lên núi Nưa, thấy rõ từng thớ đá gốc cây; những ngày mưa gió, núi Nưa chỉ còn là một vệt thẩm chông chênh giữa trời ngày nào thì người làng cũng chẳng bao giờ quên để mắt tới ngọn núi thiêng. Thề bồi, phán xử, núi Nưa là nhân chứng. Tế lễ, hội hè, núi Nưa là thần linh...

    Dân làng nghiêng nghé, lắng nghe tiếng cồng vọng rền vang từ trên núi Nưa đưa về. Đám trẻ nhỏ nhảy lên:

    - Cồng bà Triệu đó!

    Lại thêm những tiếng kim thanh nhẹ lanh canh chen lẫn với tiếng cồng đổ dồn.

    - Lệnh của ông Quốc Đạt đó!

    Các cụ già sửa lại vòng khăn trên đầu, khẽ bảo nhau.

    Tất cả kéo nhau ra đầu làng, ngóng về phía núi Nưa. Sương núi tím tím đã từ rừng cây bò lan trên ruộng rẫy, vườn tược. Dựa theo màn sương, những bóng người lô nhô tiến về làng. Giáo mác, tên nỏ, dựng mũi nhọn, rậm rịch trong rừng. Những khuôn mặt lầm lì, mệt mỏi, chỉ có cặp mắt lấp lánh sáng một thứ ánh sáng dữ dội.

    Các dân binh suốt một ngày lên núi Nưa tập trận, luyện võ, giờ đã được cha mẹ, vợ con chực sẵn ở đầu làng, đưa về nhà. Các chú bé đón lấy những binh khí nhớp nháp mồ hôi và nóng hổi hơi tay của cha anh mình, hớn hở chạy tỏa vào trong các ngõ xóm. Mãi sau mới thấy Triệu Thị Trinh và Triệu Quốc Đạt từ ngan Nưa tiến về làng. Hai anh em đi sóng đôi, nhưng chiếc bóng cao lớn của cô gái át hẳng dáng hình mảnh dẻ của người anh. Hai gia nhân, xách một chiếc cồng và một chiếc lệnh nổi hiệu thu quân, đi theo sau bén gót. Chiếc cồng đồng thau nặng trĩu gân guốc của Triệu Thị Trinh cũng vượt hẳn chiếc lệnh mỏng manh của Triệu Quốc Đạt.

    Cô gái họ Triệu đang tuổi bẻ gảy sừng trâu, bước sầm sập lên chiếc thang tre, vừa vào ngăn trong cùng của chiếc nhà sàn rộng thênh thang, chưa kịp rũ chiếc khăn đẫm sương, thì đã nghe tiếng người chị dâu cật vấn anh mình ở gian nhà ngoài:

    - Ông bỏ nhà đi đâu biền biệt suốt ngày?

    Giọng nói chanh chua của người vợ vấp phải sự im lìm cố hữu của người chồng, không vì thế mà bớt gay gắt:

    - Này tôi bảo cho mà biết, đừng có sinh sự! Trên quận trị có người về đấy...

    - Ông có nghe thấy không? Quận trị cho người về thúc cống phẩm đấy.

    Lúc này mới nghe thấy Quốc Đạt chậm rãi:

    - Nó bảo gì?

    - Còn bảo gì? Quan thái thú đã khoán cho huyện này nộp thêm ba trăm con công lớn còn số phu phen tô thuế thường kỳ, thì cứ thế mà làm?

    Không nghe thấy anh mình nói gì thêm, Triệu Thị Trinh vươn người nhìn qua tấm liếp ngăn nhà, trông ra gian ngoài. Triệu Quốc Đạt đang lui hui cúi người trên một chồng lá gồi, chăm chú viết lách. Nhìn cái dáng nhẫn nhục, chịu đựng đủ bề của anh ruột, Triệu Thị Trinh bỗng thấy nao nao trong dạ. Cô gái đi thẳng ra nhà ngoài. Những bước chân rung chuyển sàn nhà của cô gái khiến người chị dâu vừa toan sấn đến bên chồng, vội vã lảng ra bếp lửa đang mù mịt bốc khói. Nhưng vẫn không quên ném lại một cái nguýt lệch nhà!

    Triệu Thị Trinh không nhớ được gì nhiều về cha mình. Chỉ thỉnh thoảng nghe mẹ nói rằng anh Triệu Quốc Đạt giống cha như hệt. Cha con nối thay nhận chức huyện lệnh của nhà Ngô mà chẳng bao giờ thi thố được điều gì giúp dân như thuở xưa, khi chưa có lũ giặc ngoại bang xâm lược, dòng họ này đời đời nối nhau làm tù trưởng đứng đầu các làng chạ quanh miền, Triệu Thị Trinh biết lắm, lũ giặc chưa thể phái hẳn người của chúng xuống cai trị huyện nầy, nên vẫn cứ phải tiện dùng kẻ cầm đầu cũ của người Việt để phục dịch chúng, thúc ép dân lành đấy thôi.

    Chỉ thương cho anh Triệu Quốc Đạt. Thay cha giữ việc cai quản hàng huyện từ ngày em gái mới đứng chưa đến vai anh cho tới bây giờ, khi Triệu Thị Trinh đã lớn vượt anh rồi mà vẫn chẳng thấy anh có được lấy một ngày vui trong cuộc đời làm huyện lệnh. Lại thêm việc chẳng may lấy phải người vợ không ra gì. Chẳng qua là, bởi mẹ lại cũng theo cha sớm mất, chưa kịp chọn lựa nơi gửi gắm cho anh...

    Càng thương anh, Triệu Thị Trinh càng nhớ mẹ, người mẹ giống hệt cô con gái ai cũng bảo vậy. Chính mẹ là người ngày đêm rèn đúc cho con gái, chí quật cường và tài thao lược. Những câu chuyện đời xưa mẹ kể cho con nghe mới cuốn hút lòng người làm sao! Quê mẹ ở tận ngoài Bồ Điền. Chuyện hai năm trăm năm trước ở ngay sát quê mẹ: Năm mẹ con bà Mai Thị Hoa đều cùng là gái cả, mà nổi lên dũng mãnh như tướng nhà trời, theo Hai Bà Trưng đánh cho lũ giặc nhà Hán tả tơi không còn mảnh giáp. Và còn chuyện Trưng nữ vương nữa! Chuyện các nữ tướng của Hai Bà nữa! Cũng đều là phận gái như mẹ con ta cả, nhưng nhờ đánh giặc cứu dân mà tiếng dậy non sông...

    Những lời của mẹ cứ thế rót vào tim óc con gái. Mẹ lại còn một lần vượt đường đất đưa con về tận quê mình. Ông già họ Lý, người cầm đầu đất quê ngoại, nhìn ngắm đứa cháu gái mà hởi lòng hởi dạ. Cô bé mới bắt đầu lớn mà đã có dáng con nhà tướng: Lưng beo, tay vượn và cặp mắt xếch, sáng như sao! Đến lúc được xem đứa cháu nhỏ biểu diễn tài năng võ nghệ, được nghe những lời tâm huyết tự nhiên từ cửa miệng còn thơ ngây, ông già Lý sung sướng đến mức đem cả báu vật gia truyền trao lại cho cháu gái vào lúc Triệu Thị Trinh chia tay ông để trở về núi Nưa. Đó là một thanh đoản kiếm hai lưỡi bằng đồng thau vàng chói. Và điều làm cô gái nhỏ thích thú nhất là hình tượng một vị nữ thủ lĩnh trang nghiêm, xiêm áo chỉnh tề, được tạc rất khéo thành ngay chiếc chuôi kiếm cầm gọn trong tay. "Đấy là tổ mẫu của dòng họ nhà ta" Ông già họ Lý nói với đứa cháu "Để xem về sau cháu có được như bà hay không..."

    Ông già Lý nói thêm:

    - Ngày xưa, khi giặc xâm lăng mới phạm vào đất đai, chính bà là người có công lớn đánh giặc giúp dân giúp nước. Dân chúng muốn ghi ơn, mới theo hình bà mà tạc đúc nên tượng như vậy đấy...

    Chuyến đi thăm quê ngoại năm ấy đã khắc sâu vào tâm khảm Triệu Thị Trinh, cũng như thanh đoản kiếm sáng rực màu đồng thau từ đấy không bao giờ rời người nữ chủ trẻ tuổi. Cô gái họ Triệu càng ham luyện tập võ nghệ, lôi kéo cả người anh vốn tính tình trầm mặc, cũng như cả đinh tráng trong làng theo mình. Chưa ai rõ việc rèn binh luyện võ rồi đây sẽ ứng dụng vào đâu. Nhưng mang máng như sắp có việc lớn đổi đời đến nơi, tất cả đều say theo cái bản năng thượng võ của dân mình, và đều cuốn theo cái vẻ hăm hở sục sôi của người nữ chủ trẻ tuổi.

    Núi Nưa đang ngày ngày ấp ủ trong các vạt cây vách đá và suối khe của mình cả một đạo quân mà sức mạnh lay trời chuyển đất đã bắt đầu được người nữ tướng mười chín tuổi luyện rèn, nhen nhóm.

    Tiếng đồn bà Triệu thu phục được voi dữ cứ như có cánh bay nhanh đi khắp đất Cửu Chân. Người ta kể rằng đấy là một con voi trắng, lớn chưa từng thấy, và chỉ có một ngà. Voi một ngà mà gặp trong rừng thì chỉ có chết. Nhưng nó lại từ ngàn Nưa xốc ra ngoài làng phá vườn chuối kiếm ăn...

    Một đồn mười, mười đồn trăm. Các cụ già đêm đêm ngồi bên bếp lửa, kể dần dần thành vần điệu cho con cháu nghe rằng, hôm ấy, dân làng vội vã nổi cồng Bà Triệu, khua lệnh ông Quốc Đạt, hò la náo động để đuổi voi. Con vật khổng lồ đâm đầu chạy ra sau làng, và sa ngay xuống một bãi lầy. Nó vẫy vùng gầm rống như điên mà không sao nhắc nổi mình lên khỏi lớp bùn dẻo quánh. Các tay cung nỏ thiện xạ trong làng đã lăm lăm những mũi tên độc, toan nhằm chỗ hiểm mà kết liễu đời con vật hung dữ. Nhưng chính Bà Triệu đã ra lệnh bắt sống!

    Những cuộn thừng chão lớn chung đôi chung ba lại, quăng ra, thít dần lấy chân voi. Cả làng tời dần con vậy lên khỏi bãi lầy. Rồi đóng thừng chảo, cứ thế mà cột chéo hai chân nó vào hai gốc đại thụ. Con voi chịu phép đứng cứng tại chỗ, nhưng vẫn làm dữ, không chịu để cho một ai tới gần. Ấy thế mà vừa thấy Bà Triệu tiến đến, chính nó đã quỳ phục ngay xuống...

    Câu chuyện Bà Triệu được voi một ngà lễ sống vừa từ núi Nưa truyền đi, thì đã dội về từ núi Quan Yên lời đồn kinh dị về hòn đá biết nói. Người ta kể rằng có một đêm, núi Quan Yên bỗng sụt lở dữ dội. Rồi một giọng nói ầm vang cất lên, át cả tiếng đá lăn. Giữa đêm đen thanh vắng, khắp quanh núi đều nghe rõ tiếng đá nói thơ. Thơ rằng:

    "Có Bà Triệu tướng

    Vâng lệnh trời ra

    Trị voi một ngà..."

    Những câu chuyện lạ cứ thế mà truyền đi, mỗi ngày, mỗi nơi lại thêm thắt vào những nét mới. Người dân Cửu Chân đêm đêm ngồi bên bếp lửa, nghe kể chuyện mà thấy trong lòng phấp phỏng, rạo rực một niềm vui kính cẩn bồn chồn: Cứu tinh đất nước đã nổi lên rồi đây chăng?

    Trong khi ấy, ngày ngày, Triệu Thị Trinh vẫn ra tầu voi mới dựng sau nhà, chăm sóc con thú rừng đã thuần phục và trở nên ngoan ngoãn một cách không ngờ. Có vẻ như nó cũng chỉ mến riêng cô gái thật! Tung vòi đón lấy những gốc mía mật từ tay người nữ chủ, con vật nheo mắt ăn uống thật hả hê.

    Vừa đăm đăm nhìn con voi cuốn mía, Triệu Thị Trinh vừa miên man suy nghĩ... Đạo dân binh núi Nưa bây giờ đã ngày càng đông thêm người gia nhập. Và càng năng luyện tập thì càng thấy thiếu binh khí. Lâu nay, quận trị Cửu Chân vẫn ráo riết nhắc lệnh cấm rền đúc giáo gươm, khiến những tay thợ giỏi hầu như chỉ còn nước bỏ nghề. Thế rồi, mới đây lại có lệnh cho các làng phải mua nộp tất cả thợ khéo để đưa sang Ngô triều xây dựng kinh đô ở Kiến Nghiệp Thái thú Cửu Chân còn ngăn đe sẽ trị tội cả làng, nếu nơi nào có ý chậm trễ hoặc giấu giếm thợ giở trong dân...

    Đến nước nầy thì không thể nín nhịn được nữa rồi. Nếu không sống mái với giặc thì chúng sẽ chặt hết chân tay rồi làm cỏ cả dân ta mất thôi. Một cơn giận dữ trào lên khiến Triệu Thị Trinh đỏ bừng khuôn mặt, Ta đang cần thợ giỏi để rèn đúc binh khí cho nghĩa quân. Phải mau bàn với anh Quốc Đạt cự lại lệnh giặc, chứ không để chúng lấn lướt mãi nữa...

    Con voi trắng bỗng ngừng nhai nuốt, le lé cặp mắt nhỏ tinh khôn nhìn theo người nữ chủ vừa chợt nghiến răng kèn kẹt, nhanh nhẹn, bước vội về nhà.

    Triệu Thị Trinh toan bước lên thang bỗng dưng dừng lại. Từ trên nhà, vẳng xuống tiếng nói sin sít của vợ Quốc Đạt:

    - ... Ông mà cứ để cho nó lộng hành thế này thì rồi vạ lớn xảy đến lúc nào không biết đó!

    Triệu Thị Trinh kinh ngạc nín thở chờ nghe tiếng anh mình. Nhưng không thấy Quốc Đạt trả lời. Vẫn chỉ có giọng nói khi nãy tiếp tục:

    - Ai đời con gái lớn như thế rồi mà nay cưỡi voi, mai múa võ! Tụ tập đảng chúng trong núi, ông tưởng che được mắt quan thái thú đấy phỏng? Mà người đâu có kẻ lạ đời! Cứ bảo quân Ngô là giặc, chứ thật ra giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng!

    - Tôi bảo ông là cứ đem nó gả chồng quách đi thì yên chuyện hết!

    Cô gái đứng dưới sàn bỗng đỏ lừng từ đôi má cho đến tận chân tóc. Vừa muốn cười lại vừa bực bội, Triệu Thị Trinh bặm môi rầm rầm bước lên thang. Vợ Quốc Đạt nhác thấy em chồng đã đổi ngay giọng:

    - À, đây rồi! May quá! Tôi vừa nói với anh cô về chuyện hôn nhân trong nhà,... Chẳng là nghe tin ở quận trị có ông quan họ Đào đang muốn tìm thêm người thiếp... Ông ấy vừa có thế lực lại vừa giàu sang, giai nhân, tiền của chật nhà chật cửa. Sánh được với ông ta thì còn gì bằng. Tôi định...

    Người chị dâu đang thao thao bỗng trợn mắt há mồm đứng sững như trời trồng. Bởi vì từ cửa miệng của Triệu Thị Trinh đã bùng ra một tràng sấm sét choáng đầu, choáng tai:

    - Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người!

    Bằng cớ về sự phản bội của mụ chị dâu đã quá rõ ràng, khiến Triệu Thị Trinh uất giận trợn ngược cặp mắt xếch tưởng đến rách cả mí. Vẻ mặt đằng đằng sát khí ấy khiến đứa hầu gái của vợ Quốc Đạt khi hãi rụng rời, vội vã khai hết mọi việc: Mấy hôm trước mượn cớ đi Tư Phố chơi thăm bà con, vợ Quốc Đạt đã cùng đứa hầu gái vào dinh thái thú Cửu Chân, tâu trình việc em chồng là Triệu Thị Trinh xúi bẩy chồng mụ cự lại lệnh nộp thợ khéo, và van xin tên quan cai trị nhà Ngô tha cho chồng mụ. Chính mụ, sau đấy đã rành rẽ bẩm báo đầy đủ ngọn ngành việc Triệu Thị Trinh ngày ngày tụ binh luyện lính trên núi Nưa và đang mở lò rèn đúc binh khí, chờ ngày nổi dậy chống lại Ngô triều. Sự phản bội ghê gớm ấy của vợ Quốc Đạt đã đem lại cho mụ cả một hộp ngọc trai quý là phần thưởng công của thái thú Cửu Chân mà sau đấy, tình cờ nhác thấy bầy trong góc nhà, Triệu Thị Trinh đã sinh nghi, vặn hỏi đứa hầu gái và từ đấy, làm vỡ lỡ câu chuyện.

    Vừa lúc ấy, tin dữ cũng từ Tư Phố báo về: đô úy Cửu Chân đã ra lệnh động binh, sửa soạn tiến quân về tiểu phạt vùng núi Nưa!

    Không thể chần chừ được nữa, Triệu Thị Trinh đem hết sự việc trình với Triệu Quốc Đạt và thúc giục anh phải ra tay hành động ngay. Đau xót vì chuyện vợ con, nhưng không thể tình nhà lên trên phép nước, Triệu Quốc Đạt lầm lì gật đầu cho em trừng trị kẻ phản bội và phát lệnh khởi nghĩa. Rồi ngay sau đó, thôi thúc vì hiệu cồng ầm vang, náo động của em gái, người tù trưởng trầm mặc đó cũng trở nên hoạt bát khác thường, truyền cho nổi cả hiệu lệnh của mình lên.

    Lệnh Ông, cồng Bà, từ núi Nưa bay đi khắp ngả. Những âm thanh rộn rã sục sôi suốt đêm ngày. Dân chúng các làng chạ xa gần nghe tin khởi nghĩa đã bùng nổ ở núi Nưa, lập tức ào ào cuốn về theo như sóng cuồn bể cả.

    Cuộc tế cờ ra quân dấy nghĩa cử hành ngay dưới bóng núi Nưa thiêng liêng. Thần Nưa xưa đã cứu dân một lần thoát nạn giặc Ngô thì bây giờ, xin cũng linh ứng giúp dân ra quân thắng giặc! Dòng máu tươi cúng cho thần theo đúng cổ lệ, chính là từ xác kẻ phản bội vừa ngã gục dưới thanh gươm hai lưới báu vật của giòng họ Bà Triệu.

    Nghĩa quân núi Nưa rầm rộ tiến binh chận giặc. Đô úy Cửu Chân không ngờ rằng sức mạnh của nghĩa quân lại ghê gớm đến thế. Những năm trước, theo Lữ Đạt vào tiễu phạt vùng này, hắn luôn luôn chỉ thấy một cảnh tượng: Hoặc là dân chúng cắm đầu chạy dài vào rừng sâu ẩn tránh, hoặc nếu bị bất ngờ thì dành bó tay chịu nạn chém giết đốt phá. Lần này, nhận lệnh của thái thú Cửu Chân phải đi tiễn phạt một đám giặc cỏ do một người con gái ngỗ ngược cầm đầu, lại được báo trước là sẽ có chính ngay chị dâu của "Nữ tặc tướng" làm nội ứng, đô úy Cửu Chân tiến sát rất ung dung.

    Đoàn quân Ngô triều đổ vào cửa thung lũng núi Nưa thì bỗng nghe dậy lên những tiếng cồng tiếng lệnh dồn dập. Từ phía trước mặt xộc ra một con voi trắng khổng lồ hệt như một trái núi biết chuyển động. Chót vót trên đầu voi là một nữ tướng xếch ngược cặp mắt, chỉ thẳng thanh đoản kiếm vàng chói trong tay về phía trước. Một nam tướng nữa cũng vùn vụt cưỡi ngựa xông lên. Rồi từ ba bề bốn bên, tiếng reo hò như sấm động: Dân binh các ngả ùn ùn đổ ra, giáo mác, gươm đao, rìu búa vung lên sáng lóa.

    Từ trên đầu voi dữ, Triệu Thị Trinh quát lớn, giục con vật vào trận. Vừa thấy con thú kinh khủng huỳnh huỵch xông tới, chiến mã của đô úy Cửu Chân đã bất ngờ chồm dựng, hí lên những tiếng kinh hoàng, rồi ngoắt người phóng chạy. Viên tướng nhà Ngô bị hất tung từ trên mình ngựa xuống đất, chưa kịp nhổm dậy, đã dập nát người dưới một bàn chân voi nặng nề nện xuống. Đám quân sĩ Ngô triều tan vỡ khắp ngả, trở thành những thân chuối, cành khô, để cho những ngọn binh khí căm thù của nghĩa quân đánh gục.

    Triệu Thị Trinh ra lệnh nổi cồng thu quân khi thấy cánh quân tiễu phạt của Ngô triều chỉ còn là những đống xác nằm ngổn ngang trên chiến địa. Tiếng cồng vừa bặt giọng ngân thì quân sĩ cũng khiêng Triệu Quốc Đạt từ cửa trận trở về: Một mũi tên bắn lén đã lút ngực người tù trưởng lần đầu xung trận.

    - Tiến lên, nhằm thẳng thành Tư Phố, phá nát quân trị giặc Ngô!

    Triệu Thị Trinh vừa trèo lên đầu voi, vừa hạ lệnh nổi hiệu cồng xuất quân.

    Hàng quân điệp trùng khắp ngả ngước mắt ngưỡng mộ nhìn người nữ chủ tướng, giờ đây đã thay hẳn anh trai, cầm đầu cuộc khởi nghĩa long trời lở đất của dân Cửu Chân.

    Con voi trắng một ngà quỳ xuống đón người nữ chủ, rồi chồm dậy, tung vòi rống lên một tiếng lớn đỉnh đạt cất bước. Bóng voi khổng lồ lộ dẫn đầu đoàn quân dài dặc. Phía trước là quận trị Tư Phố của quân Ngô. Trong trận này, nghĩa quân sẽ theo người nữ chủ tướng phá tan thành giặc, trả thù cho tù trưởng Triệu Quốc Đạt, trả thù cho dân nước. Trên bành voi cao, Triệu Thị Trinh xốc lại chiếc áo giáp đồng thau vàng chói đang rung lên bần bật, chiếc trâm vàng lóng lánh ánh nắng trên đầu, và đôi guốc ngà dưới chân, bồn chồn chờ giờ xung trận.

    Dân chúng các làng ven đường đổ ra ngóng theo đoàn quân đang trẩy. Chỉ còn người già yếu và trẻ con ở lại trong làng. Tất cả đàn ông, trai tráng đều đã theo quân lên đường.

    Chẳng bao lâu đã có tin vui báo về: Thành Tư Phố bị hạ! Nghĩa quân đang tràn ra các huyện miền ngoài, tiến đánh quận Giao Chỉ...

    Đám trẻ nhỏ mải chơi ở bãi đất đầu làng. Những đứa con trai tóc cắt sát da đầu, mình trần, đóng khố. Những đứa con gái tóc xõa chấm vai, cũng cởi trần, mặc những chiếc váy ngắn. Một đứa xòe ngửa bàn tay để cho cả đám, chân mỗi đứa một đầu ngón tay trỏ nhỏ xíu vào đó. Tiếng hát ngộ nghĩnh cất lên:

    "Này có này cấu

    Này đấu nay thưng

    Lưng sào cánh ná

    Này là này lao

    Nghe cồng Bà rao

    Nghe lệnh Ông gióng

    Nghe voi rông rống

    Chong chóng chạy về…

    Tiếng hát đồng dao ngây thơ sôi nổi với lại những ngày vừa mới rồi, khi mọi người mọi ngả rầm rập đi theo Bà Triệu dấy nghĩa. Đoàn quân giờ đã đánh giặc mãi xa tận phía ngoài rồi!" Những người mẹ ngồi trên nhà sàn, ẵm đứa con nhỏ trong lòng, nghe vọng lên tiếng hát, chợt sáng bừng cặp mắt, nghĩ tới những người thân của mình đang theo Bà Triệu chinh chiến nơi xa...

    Trên bãi đất trước làng, câu đồng dao đã hát xong và bắt đầu chuyển đoạn. Thằng bé đang xòe ngửa bàn tay bất thần nắm chặt lại, hét lớn:

    - Hẹ, he, chạy này!

    Đám trẻ đua nhau rút nhanh ngón tay, phá ùa ra các ngả, vừa chạy vừa cười sằng sặc, làm những chú nhỏ nằm trong lòng mẹ giật mình, ậm ạch muốn khóc. Người mẹ vội ôm chặt lấy con, vừa âu yếm nựng nịu, vừa a ời ru:

    Ru con con ngủ cho lành

    Để mẹ gánh nước rửa bành con voi,

    Muốn coi lên núi mà coi

    Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng…

    Người mẹ kể lại thật tự nhiên những chuyện mẹ đã dự vào. Chú nhỏ lim dim mắt uống lấy những lời ru hào hùng rồi ngủ thiếp. Chú còn chưa đến tuổi mơ lại những điều mẹ ru về Bà Triệu, nhưng chỉ nay mai, lời ru của mẹ sẽ đưa chúng, đang thoăn thoắt dệt những khổ vải trúc sơ cho thôn làng, nghe tiếng ru thân thuộc, bất giác ngửng đầu nhìn đăm đăm lên ngàn Nưa. Dãy núi sừng sững như muốn nhích gần lại với những tiếng ru hời. Các cô gái lại cúi đầu, đưa tay dệt thoăn thoát...

    Trong lúc đó, ở quân doanh Bồ Điền, Bà Triệu đang cùng các thủ lĩnh nghĩa quân bàn kế đánh chận quân giặc.

    Sau khi hạ được quận trị Cửa Chân, nghĩa quân đã thừa thắng đánh rộng ra các nơi. Bắc, Nam, Đông, Tây, nhân đà ấy, ầm ầm nổi lên chống giặc. Quân khởi nghĩa rời đại doanh về Bồ Điền là vì thế: Cho tiện việc điều bát, chỉ huy.

    Bồ Điền chẳng phải đâu xa lạ. Chốn quê mẹ mà một lần được về thăm vẫn còn ghi nhớ mãi, cô gái Triệu Thị Trinh giờ đã trưởng thành, giữ ngôi chủ tướng nghĩa quân, mang thanh gươm báu về lại quên ngoại, không còn được gặp ông già họ Lý nữa, nhưng lại nhận được ba người em họ của mình vào quân ngũ. Đó là ba thanh niên dũng tướng: Lý Hoằng, Lý Mỹ con đẻ của ông già Lý, cùng với Lý Thành, con nuôi. Và bây giờ thì họ đang cùng người nữ chủ tướng bàn tính công việc đón đánh cánh quân mới từ bên Ngô Triều kéo sang, do tên đại tướng Lục Dận cầm đầu.

    Cuộc họp bàn vừa xong thì cũng vừa có tin báo về: Lục Dận đem đại quân theo đường nhánh sông Mã đang tiến thẳng đến Bồ Điền, nội nhật ngày mai sẽ tới nơi! Lập tức quân lệnh truyền ra: Tất cả tướng sĩ kéo gọn lên phục trên dãy núi sau quân doanh. Dân chúng vùng Bồ Điền làm gấp lương ăn nguội cho quân binh từ trong đêm, đến sáng thì tắt hết bếp lửa, đợi chiều tối mới động bếp, làm đại tiệc mừng thắng trận.

    Quân lệnh được răm rắp thi hành. Nghĩa quân ăn cơm nắm và bánh trái, phục trên núi được nửa buổi thì thấy từ xa lốc bụi và tiếng ồn ào trẩy quân cuồn cuộn dồn đến. Quân thù quả đã dùng đường nhánh sông Mã tiến dần vào tử địa.

    Lập tức tiếng cồng Bà Triệu gầm lên. Người nữ tướng họ Triệu vụt hiện ra trên đỉnh đá, vẫy kiếm thét lệnh tấn công. Nghĩa quân từ các sườn núi hò reo vang dội, tháo nhanh các bẫy đá, trút vội những kè đất, vần gấp những chồng gỗ, lăn cả xuống chân núi. Một dòng thác đất đá cây cối từ các triều núi cao ầm ầm trôi xuống chôn vùi lũ giặc tham tàn.

    Chiều tối hôm ấy, quanh danh Bồ Điền đỏ lửa mừng đại thắng giặc Lục Dận đến tận khuya.

    Người nghĩa quân ấy, khư khư ôm chiếc cồng Bà Triệu trong tay, giấu thanh đoản kiếm hai lưỡi ở trong bọc, lần đường từ Bồ Điền về khu làng dưới chân núi Nưa. Bụi đường trường phủ trắng xóa từ đầu đến chân người chiến sĩ, đọng với máu khô thành một vệt đen thắm trên vết thương bị chém sả ở bả vai.

    Ngồi xếp bằng trên chiếc nhà sàn đầu làng, người ấy kể:

    - Lục Dận là tên tướng giặc quỷ quyệt chưa từng thấy. Giao chiến mãi với Bà Triệu mà vẫn không thắng nổi, hắn xoay sanh kế phủ dụ, mua chuộc, phong cho bà làm Lê Hải Bà Vương, Nhưng Bà Triệu có bao giờ thèm chịu nhận chức tước của giặc!

    Lại tiếp tục giao chiến nữa. Giặc Ngô rất hoảng sợ khi phải đương đầu với Bà Triệu. Đêm đêm, những tên lính mỏi mệt chống giáo ở cửa lều trận, than thở với nhau: "Hoành qua đương hồ dị, đối diện Bà vương nan!" Nát óc tính toán, cuối cùng tên tướng Lục Dận phải bày trò ô nhục kế: Biết Bà Triệu là nữ tướng, nó sai quân sĩ nhất loạt trần truồng tới đánh. Trước cảnh tượng ghê tởm đó, Bà Triệu phải nhắm mắt lánh mình lên núi Tùng rồi biến đi mất vì ái khiết úy ô chứ không vì kém tài quân giặc. Chính Bà đã truyền phải mang chiếc cổng và thanh đoản kiếm này về núi Nưa cất giấu, để chờ ngày lại đem dùng đánh giặc,...

    Nhiều cụ già trong làng sau đây kể tiếp:

    - Ba anh em họ Lý thay quyền Bà Triệu cự lại giặc Ngô. Họ còn đánh tiếp hàng chục trận nữa, chiến đấu cho đến khi kiệt sức mới ngã chết trước quân doanh Bồ Điền. Con voi trắng một ngà của Bà Triệu thì sau đấy cứ phủ phục gần núi Tùng, hướng mãi về nơi hóa của Bà Triệu, không chịu ăn uống gì, cho đến khi lả đi. Còn người nghĩa quân được Bà Triệu giao cho sứ mạng đem chiếc cồng và thanh đoản kiếm về núi Nưa, sau đấy cũng rời làng, lên núi, mang theo các báu vật, và không thấy về nữa.

    Họ vẫn ở cả trên núi, cùng với ngàn Nưa, gìn giữ mãi ý chí của Bà Triệu...

  • anap3

    khoảng 1 10 năm trước
  • Mai Thúc Loan
    Xa xôi vạn dặm về phương Bắc là kinh thành Trường An của nhà Đường. Giữa hoàng cung thâm nghiêm có tòa Phù Lệ cung ngói vàng ngói bạc ẩn hiện qua những lùm cây quả quý hiếm cùa phương Nam. Những giống thảo mộc kỳ la đối với người Bắc phương nàyï, là do An Nam độ hộ phủ đôn đốc dân phu, lính tráng, đêm ngày lần đường chuyển về. Những người mắc nạn lao dịch chuyên chở ấy, vất vả cực nhọc vì đủ thứ cỏ cây cồng kềnh phải mang theo, ngày đêm hối nhau lê bước trên các ngả đường cái quan hun hút dẩn về kinh đô, vậy mà tòa Phù lệ cung nguy nga vẫn luôn luôn thiếu cây gây đẹp. Bởi giống thảo mộc phương Nam không quen với khí hậu phương Bắc nên thật chóng héo tàn. Cho nên cứ phải không ngớt thay cây.

    Ở Trường An, vua Đường có một nàng ái phi, nhan sắc thật là kim sa cá lặn, mà tính tình thì cũng thật nắng mưa nóng lạnh thất thường. Lầu son gác tía mọc san sát ở khắp nơi, nhưng chỉ riêng có tòa Phù lệ cung là được gót sen nàng tìm đến. Bởi chỉ ở đó có thứ cây, đúng hơn là thứ quả mà nàng quý phi của vua Đường hằng khao khát khôn nguôi. Ôi, cái thứ quả xinh xắn như trái trứng gà đỏ rực ấy, lớp cùi mọng nước trắng trong, giòn dai mà mềm mại, thơm tho thanh khiết, chua đấy mà ngọt đấy, thật kỳ lạ! Nhưng nếu người đẹp của vua Đường thường ứa nước miếng mỗi khi nghĩ đến thứ quả tuyệt diệu nọ, thì vua Đường đã cao tuổi, lại chỉ thích thú khi lim dim nhìn ngắm những ngón tay nuột nà lần bóc lớp cùi ngà ngọc, vẫn vơ so sánh khuôn miệng của mỹ nữ và vị ngọt của trái cây kỳ thú kia, chẳng biết thứ nào hơn thứ nào...

    Tóm lại, đây là một thứ quả mà những người đang nắm giữ trong tay cả một nước Trung Hoa trung cổ, đã mênh mông đông đúc, lại còn cộng thêm cả những miền đất đai đô hộ trù phú, chạy suốt từ An Bắc, An Đông, An Tây đến An Nam hằng ước muốn. Và, chính từ nỗi thèm khát thứ quả lạ ấy đã nấy sinh một cái tên gọi rất đổi hoa mỹ là lệ chi.

    Quả "Lệ chi" đó, ai cũng biết là chỉ có ở An Nam. Và ở An Nam thì ngon nhất lại là "Lệ chi" của Hoan Châu, mà người dân ở đấy vẫn chỉ quen gọi nôm na là quả vải.

    Từ thuở còn nhỏ, Mai Thúc Loan đã được nghe kể như thế về những quả vải ở quê hương mình. Thứ trái cây dân dã, khiêm tốn và vô tội ấy, ngờ đâu lại trở thành tai vạ cho đất Hoan Châu! Liệt quả vải vào hàng cống phẩm đặc biệt, Phủ đô hộ An Nam đã đặt hẳn một chức Tu quan để chuyên lo việc đốc thúc dân chúng trong miền cung tiến vải quả và vải cây. Một cây vải về được đến Phù Lệ cung ở Trường An là cả trăm cây chết hỏng dọc đường. Một chục quả dâng được tới tay vợ chồng vua Đường là nghìn vạn quả vải rải ra từ châu tới phủ và triều đình đô hộ.

    "Sâu quả vải vì ai vạch lá

    Ngựa hồng trần kể đã héo hon"

    Câu hát thở than vụng trộm của dân làng, Mai Thúc Loan nghe một lần rồi không để lọt đi nữa. Chú bé chỉ còn ngờ ngợ một điều và thì thào hỏi ngay me:

    - Tại sao ngựa hồng trần lại phải héo hon, hả mẹ?

    Người mẹ trẻ giật mình ôm lấy con trong gian nhà dột nát vắng vẻ ở nơi chân núi ven làng:

    - Đấy là ngựa chạy trạm phi đến kiệt sức để kịp chuyến vải tươi về Trường An. Nhưng con đừng nhắc đến chuyện ấy kẻo mất đầu, nghe con!

    Người mẹ đẩy con ra, nhìn ngắm hồi lâu rồi lại tần ngần ôm lấy con. Đứa bé vẫn thỉnh thoảng lại hỏi những câu làm người mẹ giật mình:

    - Người ở động Bằng Sơn xuống biển tìm mua muối. Họ nói ở trên núi, quan đô hộ định giá một đầu muối ngang một con trâu. Sao bắt người ta mua đắt quá vậy mẹ?

    Người mẹ chỉ còn biết sợ hãi ngăn con trai không được nhắc đến những chuyện tầy trời như thế nữa, mà không có cách nào giảng giải cho đứa trẻ thật đã sớm nhận ra nỗi khổ cực của kẻ mất nước là như thế nào. Nhưng rồi bà cũng không tránh nổi một câu hỏi tự nhiên khác, vào một ngày mà cả hai mẹ con hẳn sẽ không bao giờ có thể quên được...

    Hôm ấy, người mẹ vào rừng trở về muộn. Khi gánh gánh củi nặng oằn vai về tới nhà thì trời đã chạng vạng. Người mẹ chờ đứa con reo hò vồ vập mừng đón như thường ngày, nhưng chỉ thấy Mai Thúc Loan ngồi lặng lẽ ở bậu cửa, khuôn mặt đen xạm tối sẩm trong bóng chiều và quanh mắt còn rõ ngấn nước. Biết có chuyện khác thường mới làm cho đứa bé hiếu động và rắn rỏi phải khổ sở đến thế kia, người mẹ vội vã quẳng gánh ôm lấy con. Nhưng bà chưa kịp cất tiếng hỏi thì đứa bé đã đẩy mẹ ra. Và kỳ lạ hơn nữa là câu hỏi đột ngột:

    - Mẹ! Bố con đâu? Tại sao chúng nó chửi con là thằng không cha?

    Đến lượt người mẹ rụng rời ngồi xệp xuống cạnh con. Những giọt nước mắt bỗng trào ra trong khi đứa bé chằm chằm nhìn vào cặp mắt bà mẹ chờ câu trả lời. Nhưng người me lại chỉ thấy mù mờ qua làn nước mắt, hiện dần lên một vùng biển xa xôi với những cánh đồng muối chói chang đang ngùn ngụt bốc hơi trước cơn gió nam cào của nơi quê cũ, đã từ lâu chìm sâu trong ký ức mẹ...

    Miền đồng muối ấy, khi chưa thành ruộng, mới chỉ có một gò đất cao, chính là nơi tổ tiên của mẹ tìm đến cắm đất dựng nhà. Đời này qua đời khác, một làng muối đã dần dần mọc lên, đều do con cháu của người đầu tiên khai phá đất biển trộn vị mặn của mồ hôi người với sức mặn của biển mà dựng nên. Đấy là nơi mà đầu muối làm ra đã bị lũ quan đô hộ cướp lên núi rừng, đổi không lấy bò trâu hàng đàn, trong khi người làm ra muối vẫn trần trụi trước nắng gió ác nghiệt, vật lộn với biển cát kiếm sống.

    Cả làng chỉ có một họ, là họ Mai của cụ tổ. Tên làng cũng được gọi nôm na là Gò họ Mai, cho đến khi có kẻ sính thứ chữ lạ lẫm của nhà Đường mà cầu kỳ gọi là Mai Phụ. Và mẹ cũng chỉ qua được một tuổi con gái ngắn ngủi giữa những người cùng họ cùng làng ấy, rồi phải rời bỏ ngay làng quê. Mẹ sẽ mãi mãi chỉ trở về làng được trong giấc mơ buồn: Một chuyện bất hạnh với đời người con gái đã không cho mẹ còn mặt mũi nào ở lại làng được nữa. Mẹ đã một mình, mang hình hài Thúc Loan trong dạ ra đi. Trăm dặm đường dài đã bỏ lại phía sau, chân mẹ mới dừng lại. Mẹ trở thành dân ngụ cư ở làng Ngọc Trừng từ đấy.

    Người mẹ trẻ nhẫn nại chịu đựng nhục nhằn vất vả để chờ ngày sinh con ở nơi quê mới. Và một đứa trẻ bụ bẫm, cúng cát, nước da đen như đồng hun ra đời, đã xóa quang nỗi khổ đau của mẹ. Niềm vui của người từ đấy phơi phới lên theo sức lớn nhanh như thổi của đứa con. Mẹ cặm cụi làm để nuôi mình, nuôi con, và chắc sẽ trọn vẹn nỗi vui bình dị, nếu thỉnh thoảng không có những câu hỏi đáng sợ của đứa trẻ sớm khôn. Và nếu không có câu hỏi bất ngờ như chiều nay...

    Người mẹ, nước mắt lưng tròng, tránh cái nhìn chờ đợi của đứa con. Và lúng túng lặng im.

    Mẹ lấy tên làng mình và họ mình đặt cho Thúc Loan. Chú bé họ Mai phân biệt hẳn với những đứa trẻ cùng tuổi trong làng bởi vóc dáng bậm bạp ẩn tàng một sức khỏe phi thường, bởi sự tinh khôn sáng ý kỳ lạ, và còn bởi màu da đen sạm đặc biệt của chú. Sức khỏe và trí khôn khiến cho chúng bạn Thúc Loan phải nể sợ bao nhiêu, thì màu da đen lại giúp bọn chúng tìm ngay ra chỗ yếu của chú để trả miếng mỗi khi xảy ra xô xát, hơn thua. Và bây giờ thì lại thêm cả chuyện con không cha mà chẳng biết kẻ độc miệng nào đã khơi ra cho lũ trẻ. Chỉ biết từ đấy, Mai Thúc Loan bỗng đổi hẳn tính tình. Chú bé hồn nhiên, tinh nghịch trở nên già dặn trước tuổi. Xa dần các trò chơi vô bổ, Mai Thúc Loan lặng lẽ theo bên mẹ như bóng với hình, làm lụng cất nhắc giúp mẹ đủ việc. Ngày mùa, chú cùng mẹ đi làm mướn, gánh gồng gặt hái cho các nhà hào phú trong làng. Buổi giáp hạt, chú bé theo mẹ vào rừng kiếm củi, chạy chợ. Người mẹ còn bao nhiêu tình cảm đã trút hết vào lòng yêu con, bây giờ lại càng thương con đến xót ruột cháy lòng. Thằng bé đen đủi này của mẹ, ai đổi vàng mười cũng chẳng được.

    Vậy mà người mẹ chẳng ở với con được lâu. Tai nạn khủng khiếp xảy ra nhanh như chớp. Giữa buổi kiếm củi trưa hè, Mai Thúc Loan cùng mẹ nghỉ tay lần nắm cơm trong bọc chia nhau ăn rồi chú bé để mẹ ngồi nghỉ ở gốc cây giữa rừng, một mình lần đường xuống suối kiếm nước uống. Đúng lúc ấy, chợt có tiếng mẹ kêu thét và tiếng hổ gầm dữ dội. Giật bắn người, chú bé lập tức xé rừng phóng ngược trở lại như bay. Nhưng không kịp nữa rồi! Trước mắt chú bé là một cảnh tượng thê thảm: Người mẹ đã ngã gục bên vũng mái và một con hổ vằn đang gầm dừ quần đảo cắn xé man rợ. Thét lên một tiếng long óc, Mai Thúc Loan vồ ngay lấy chiếc đòn xóc, lao vào cọp dữ. Một đòn sấm sét bất ngờ nện như trời gián trúng lưng cọp. Cùng với tiếng hò la, phèng la ầm ĩ của nhiều người, khiến thú dữ đau đớn hoảng hốt, gầm lên một tiếng rồi cuống cuồn bỏ mối, đâm bổ vào rừng sâu. Mai Thúc Loan vội vã vực mẹ dậy, xốc lên vai, hộc tốc chạy một mạch về làng. Nhưng người mẹ ngoắc ngoải đã chết ngay trên lưng con, trước khi về tới nhà.

    Khóc mẹ hết nước mắt, Mai Thúc Loan lùi lũi đem xác mẹ đi chôn ở ngay sau nhà. Từ đó, chú bé mồ côi lầm lì sống cuộc đời độc thân, cày thuê ở mướn cho khắp các hộ trong làng làm kế sinh nhai.

    Mai Thúc Loan vươn mình đứng dậy, dang rộng cánh tay nâng cả chồng mấy chiếc mâm đồng lớn, bước rảo về phía dãy nhà kho. Khu vườn hoang dùng làm nơi dựng lò đúc đồng của chủ nhà vẫn còn ngổn ngang những khuôn, giá, gáo, nồi, chờ chú bé đi ở thuê quay về thu dọn. Từ ít lâu nay, Mai Thúc Loan đến làm mướn cho một nhà giàu, có lò đúc mâm đồng ở trong làng. Những chiếc mâm đồng cỡ lớn ngót sải tay, nổi tiếng khắp miền, đúc ra ở đây, đã được đem đi đổi chác bán mua tới tận Lâm Ấp ở phía Nam, Chân Lạp ở phía Tây.

    Thúc Loan tất bật vất vả và phục dịch cả một hiệp thợ đúc mà vẫn thấy hào hứng. Cái nghề đúc đồng đầy bí ẩn, với hàng trăm loại công việc kỳ thú, có sức hấp dẫn lớn đối với chú bé đang tuổi lớn khôn. Và những bác thợ tài hoa, vui tính, thấy chú bé háo hức với nghề thì cũng không đến nỗi quá khắt khe, nghiệt ngã trong việc đối xử. Từ chân sai vặt. Thúc Loan đã dần dần học được những bí quyết nhập môn của nghề đúc đồng mà sản phẩm kết thúc một mẻ đúc thành công hiện đang nằm trong tay người thợ học việc để chuyển vào dãy nhà kho kia.

    Mai Thúc Loang thoăn thoát bước dọc theo vách tường sau khu nhà ngang của tòa dinh cơ đồ sộ. Một giọng sang sảng giảng sách từ trong nhà vọng ra, khiến bước chân chú bé làm thuê cứ chậm dần rồi dừng hẳn lại. Đội chồng mâm nặng lên đầu, Mai Thúc Loan lặng lẽ đứng nấp ở đầu hồi nhà, lắng nghe. Lại thêm những chuyện cổ kim trong sách vở lạ lùng và thú vị mà chú bé nhà nghèo thích mê đi, nhưng không được quyền học hỏi. Chỉ còn cách, như đã nhiều phen rồi, lặng lẽ lần đến sau nhà giảng, nghe trộm. Và trí óc thông sáng của Thúc Loan đã nhanh chóng thấm lấy không sót một điều nào học hỏi được của thầy.

    Mai Thúc Loan đội chồng mâm đồng, ngây người lắng nghe tiếng giảng sách cho đến khi có tiếng bác thợ cả quát gọi ở ngoài vườn. Thì ra chú bé mải học đã quên mất cả việc tới kho. Và lúc ấy mới chợt nhận ra cả đỉnh đầu và gót chân mình đều đã tê dại mời rời.

    Đàn voi thồ của lái buôn Chân Lạp từ Văn Đan đến Hoan Châu cất hàng ghé qua làng đúc đồng mua mâm. Khách buôn chọn hàng rất kỹ, và sau khi mua xong, cứ lắc đầu hoài vì chủ nhà không còn chiếc mâm nào có đúc nổi một bông hoa lạ kèm với một chữ Mai bay bướm mà họ rất chuộng nữa.

    Khách hàng tiếc rẻ ra đi rồi, chủ nhà khi ấy mới ngây người nhớ đến Mai Thúc Loan. Quả là có một lần, giữa chồng mâm đúc đem bán, chủ nhà thấy có một chiếc mâm như khách xa vừa mô tả. Ấy là do Mai Thúc Loan, không hiểu sao, đã dám tiện tay vẽ ngay chữ đầu họ mình cùng với bông hoa trùng tên vào lòng khuôn trước khi đổ đồng. Chiếc mâm đúc xong, vàng chóe, lồ lộ nguyên hình những đường vân lạ mà chủ nhà vừa chợt nhận ra, đã nổi ngay cơn lôi đình, bắt lỗi chú bé đi ở thuê và lập tức đuổi đi mặc những lời can ngăn của cả hiệp thợ đúc, lúc này đã coi Thúc Loan như bè bạn trong nghề.

    Nhưng chủ nhà biết rằng bây giờ dù có muốn tìm Mai Thúc Loan trở về thì cũng không được nữa. Chú bé đã nhập bọn với một phường săn ở trong miền. Và nghề làm ăn mới này, với những thử thách sôi động, căng thẳng, đã tron vẹn cuốn hút chú thiếu niên đang thừa ứ sức khỏe và tinh nhanh để sắp trở thành một chàng trai tráng kiệt.

    Theo phường săn ngang dọc, luồn lách hết cánh rừng này sang cánh rừng khóc, Mai Thúc Loan đã rất nhanh chóng nắm được những miếng nghề bí hiểm. Trải nhiều phen đương đầu với đủ loại thú rừng, vấp phải những mánh khóe tinh ranh, quỷ quyệt và cả sức mạnh khủng khiếp, dữ dội của chúng, Mai Thúc Loan cũng biết được rất nhanh các cách chế ngự khắp bầy lũ, bằng ngay trí lực, nghị lược và sức lực của con người. Còn phường săn thì từ chỗ kinh ngạc về khả năng kỳ lạ ấy, đã dần đà tỏ ý kiêng nể con người nhỏ tuổi đáng gờm đó.

    Duy có một điều vẫn còn làm các bạn phường ngạc nhiên, ấy là việc chú thiếu niên dường như có máu khắc kỵ quá đỗi với chúa rừng. Nghe tin ở đâu có cọp về hay chỉ vừa lần ra được dấu cọp, là lập tức Thúc Loan không còn thể nào rời ra được nữa. Bất kể ngày đêm, mưa nắng, người thợ săn trẻ, tuổi ấy nghiêm chặt hàm rằng, mắt long sòng sọc, lầm lũi sục sạo, bám riết chúa sơn lâm. Nhiều lần tai họa hiểm nghèo đã xảy ra: Thú dữ bất ngờ vồ chụp hoặc cùng đường, giương nanh vuốt xông đến cắn xé, và có lần, trước khi bị hạ sát, một con cọp vằn khổng lồ còn cào nát cả một bên vai người thợ săn nhỏ tuổi. Nhưng bao giờ cũng thế, Mai Thúc Loan chỉ quay trở về khi đã tự tay giết tươi chúa rừng!

    Trong phường săn, duy có hai anh em họ Nguyễn làm trùm phường là biết được nguyên ủy mối thù ghê gớm của Mai Thúc Loan đối với cọp dự.

    Tiếng trống đồng rung lên dồn dập. Hội vật đang ở vào thời điểm gay go nhất. Ông độ già của làng, mấy năm liền giữ giải, ở kỳ hội làng năm nay cũng mới chỉ gặp toàn những đối thủ vào loại học trò, đàn em. Xem chừng giải thưởng của làng tấm vải quý bằng tơ chuối trong suốt, mỏng manh như cánh ve sầu, may áo mặc mùa hè thì không gì bằng lại về tay người cũ mất thôi dân chúng dự hội, ai cũng nghĩ vậy. Và ông đô, ngồi xếp chân bằng tròn, ung dung nhai trầu chờ người phá giải, cũng nghĩ như vậy. Nhưng giữa lúc ông già đầu làng, thân đứng ra cầm trịch cuộc đấu, sắp đánh trống hạ giải thì bỗng thấy từ rừng xa chạy về một bóng người trần trụi, rẽ vạt đám đông nhảy vào sới vật: Mai Thúc Loan!

    Dân làng ồ cả lên một lượt. Chàng thanh niên đen trùi trũi, lực lưỡng như con trâu mộng, đứng sừng sững giữa bãi tựa trời trồng. Ông đô già không dám coi thường địch thủ nữa, vờn múa thăm dò xung quanh, vặn tay giậm chân, gân cốt nổi lên cuồn cuộn. Cả đám hội nín thở theo dõi keo vật hiếm có. Trống đồng thúc liên hồi. Mai Thúc Loan đã mấy lần phá các miếng đánh hóc hiểm của ông đô già. Và cặp mắt thợ săn của chàng trai đảo lộn tìm chỗ sơ hở của tay vật lão luyện. Đây rồi! Nhanh như chớp, Mai Thúc Loan lăn xả vào đối thủ, nhân một thế đứng xảy chân của ông đô mà vận người nghiêng vai, dùng sức mạnh toàn thân, vật đô lão vô địch.

    Tiếng hò reo vang như sấm động cùng với tiếng trống đồng đổ dồn. Mai Thúc Loan cúi người đỡ ông già đậy. Chàng trai thắng cuộc sải chân vươn người đi nhận giải. Nhưng mọi người đều nhạc nhiên và thán phục thấy Mai Thúc Loan quay lại, trao tấm vải quý cho ông đô già. Và nở nụ cười hiền lành, chàng trai xoa bộ ngực nở nang của mình mà nói rằng sức trẻ chẳng cần đến thứ áo vải tơ làm gì.

    Ngay trong hôm mở hội vật ấy, Mai Thúc Loan được mọi người cử ra làm chức đầu phu của làng.

    Chàng trai nghèo tốt bụng, tài trí, sức lực, vượt qua một tuổi thơ đầy sóng gió, giờ đây bắt đầu ra cáng đáng việc làng.

    Công việc không đơn giản. Đất Hoàn Châu địa đầu này luôn năm bị giặc Chà Và, Côn Lôn cướp phá. Người Chân Lạp và Lâm Ấp cũng qua lại mua bán rầm rập. Và đè nặng trên tất cả là lũ quan quân đô hộ nhà Đường. Chiếm đất cướp ruộng đã là việc thường, mà tô thuế lại càng tham bạo. Còn nạn cống nạp thì không còn hạn độ gì nữa.

    Mùa cống vải đã đến. Quan binh, lính tráng nhà Đường rầm rập kép đến các làng chạ, tha hồ làm tình làm tội dân lành. Thôi thì đủ các ngón ăn sống nuốt tươi, kén chọn lọc lừa, hoạnh học bắt bẻ. Xóm thôn xáo xác náo động cả lên vì những tiếng quát tháo chửi rủa và thở than kêu khóc.

    Chức đầu phu làng Ngọc Trừng là Mai Thúc Loan được lệnh phải dẫn một đoàn tráng đinh gánh những gánh vải mà bọn đô hộ đã lựa tuyển xong trong các vườn làng để mang đi nộp quan. Nhìn cảnh ngang ngược bạo tàn của giặc Đường và niềm khổ cực của dân lành, một nỗi đau uất bỗng nẩy lên dữ dội trong lòng chàng trai, hệt như nỗi đau chứng kiến cảnh cọp dữ cắn xé mẹ ngày nào. Bậm môi nghiến răng trong khi lòng đã giận sôi sùng sục, Mai Thúc Loan đi cùng đoàn dân phu giữa đường cái quan mà như thấy mình đang băng người giữa gai góc của rừng rậm, lúc sắp vào cuộc quần đảo với thú dữ thuở còn đi theo phường săn của anh em họ Nguyễn. Nhưng con thú đang cắn xé xứ sở và dân làng bây giờ, Mai Thúc Loan còn chưa biết hết được sức nó để mà lượng sức mình. Cho nên còn phải chịu để nó dắt theo vài vòng nữa, như ở trên sới vật, phải bám theo địch thủ để dò miếng của nó trong thế bá tay tư...

    Mùa vải năm Nhâm Tuất đến với cái nóng chưa từng thấy. Và cũng chưa từng thấy mùa vải nào tốt đến như thế. Các vường vải Hoan Châu đỏ ối những chùm quả lúc lỉu. Nhưng lũ quan quân nhà Đường càng hể hả chiếm vải bao nhiêu thì những người dân mất vải càng căm uất bấy nhiều.

    Đoàn dân phu gánh vải nộp lên Châu Trị do chức đầu phu Mai Thúc Loan dẫn đi, năm nay phải tha những gánh quả oằn vai. Mặt trời mùa hạ rang cháy con đường cái quan lầm bụi. Đoàn người gánh vải tưới mồ hôi trên đường mà đi.

    Gần trưa, một chiếc quán hoang bên đường, Mai Thúc Loan cho mọi người ghé chân nghỉ lại. Dồn những gánh vải vào chật một bên quán, những người dân phu chen chúc nhau tìm chỗ đứng ngồi, và vừa quạt thốc tháo, vừa hổn hển. Bấy giờ cái khát cháy cổ mới dội lên mà nhìn quanh quất, chẳng tìm ra một khe nước nhỏ nào. Một người phu đã có tuổi, chợt trông thấy ló ra qua mắt nan đan sọt một quả vải đỏ hồng. Liếm cặp môi khô, người đó đảo mắt nhìn quanh rồi thò tay bứt vội lấy trái cây mọng nước, thủ vào bọc. Lần tay bóc nhanh quả vải, người phu vừa toan đưa vào miệng thì chát, một sống mã tấu đã giáng ngay vào cánh tay. Quả vải quăng ra giữa quán và người phu nhăn nhó ôm lấy vết thương. Một tên lính Đường đi áp tải đã tách khỏi bọn, nhón chân đến rình sau lưng người phu khốn khổ. Và bây giờ thì lăm lăm cây mã tấu chỉ vào mặt người phu, nó ngoạc mồm chửi mắng om sòm.

    Những đứa đồng bọn của tên lính Đường chứng kiến cảnh ấy, vừa ngửa cổ tu nước trong các bình vò mang theo, vừa phá ra cười sằng sặc. Thấy trò ác độc của mình được tán thưởng, tên giặc cầm mã tấu càng hăng hái làm già. Mắm môi mắm lợi, nó lại giơ sống dao, toan đánh tiếp đòn nữa vào người phu. Nhưng cây dao chưa kịp hạ xuống thì một cánh tay cứng như sắt đã vung tới, gạt rung, và tiếp ngay đó là một trái đấm như búa bổ nện thẳng vào mặt kẻ hung đồ. Ngã bất ngửa về phía sau, cây mã tấu văng ra một phía, máu mồm máu mũi đổ ròng ròng, tên lính Đường rống lên như lợn bị cắt tiết.

    Sự việc xảy ra nhanh như chớp. Mai Thúc Loan không nén nhịn nỗi nữa, đã phải ra tay. Trợn ngược cặp mắt trên khuôn mặt xạm đen dữ dội, chàng trai trừng trừng nhìn bọn lính Đường đang hò hét vung đao kiếm xô tới. Nhưng những người dân phu cũng đã lập tức đứng về phía thủ lĩnh của mình. Rút nhanh những chiếc đòn càn làm vũ khí xung trận, tất cả đều hè nhau cùng Mai Thúc Loan xông vào đám giặc. Cuộc loạn đả ác liệt kết thúc, thật chóng vánh: Lũ lính Đường vỡ đầu toạc trán, nằm ngổn ngang trong quán, giữa đường chỉ còn mấy tên sống sót cắm đầu chạy thục mạng.

    Ngày còn đi kiếm củi với mẹ cũng như khi đi theo phường săn của anh em họ Nguyễn, Mai Thúc Loan đã nhiền lần tìm đến thung lũng Rú Đụn cách làng chỉ bốn dặm đường rừng. Một trái núi cao lớn, vuông vức như một đụn thóc khổng lồ, từ trong dãy núi Đại Hoạch chạy ra, đột khởi hùng vĩ giữa một vùng núi rừng trùng điệp, giấu trong lòng nó một thung lũng rộng hàng chục mẫu đất. Dòng sông Cương ở phía Bắc, sông Lam ở phía Nam, bao bọc quanh núi như một con hào thiên tạo lợi hại. Quả là một nơi dụng võ không đâu sánh bằng Mai Thúc Loan đã từng đứng ngây người trên núi, nhìn sang khe Bò Đái từ ngọn Cô Sơn bên kia bờ sông Làm rót nước ầm ầm xuống vực mà nghĩ ngợi tính toán như vậy.

    Bây giờ thì chàng trai lại đứng yên lặng trên Rú Đụn, nhưng không phải chỉ để mở một thế trận tưởng tượng giữa một vùng hoang sơ như ngày nào, mà là để xem xét lại công sức của mình và những người đi theo mình đã đổ ra ở đây từ ít lâu nay:

    Ẩn mình dưới thung lũng một dãy kho đụn đã dựng xong. Đấy là nơi chất chứa quân lương từ khắp miền gần xa gửi về. Áp chân núi, những cột khói xám cuồn cuộn vào khe đá, vòm cây: Các lò đúc vũ khí của nghĩa quân đang nổi lửa. Và xa xa, phía ngoài cửa thung, những mái đồn trại mọc lên như bát úp: Những người đã thề quyên sinh tử vì nghĩa lớn cùng Mai Thúc Loan đang tụ hội ở đó.

    Chẳng mấy ai ngờ được tình thế lại xoay chuyển nhanh đến như vậy. Đánh tan được lũ quan quân cướp vải của giặc Đường trong một cơn phẫn nộ bất ngờ Mai Thúc Loan lập tức thổi bùng khí thế của vụ bạo động thành một cuộc dấy nghĩa. Đem ngay một gánh vải tiến cống chia cho cả đoàn dân phu làm việc khao quân, rồi đó, dẫn nhóm người khởi nghĩa trở về làng, trả lại số của đã mất cho xóm thôn, Mai Thúc Loan đã được khắp làng trọng vọng như một anh hùng. Cuộc đổi đời được quyết định từ đấy. Và lập tức ùn ùn dồn tới tay vị thủ lĩnh trẻ tuổi cả một loạt công việc trọng đại: Phải cấp tốc tìm nơi thủ hiểm đề phòng quân Đường kéo đến trả thù, phải mau chiêu mộ lực lượng để đối phó với giặc, phải tích trữ lương thảo, rèn đúc vũ khí để tính kế lâu dài...

    Mai Thúc Loan xắn tay áo nhận lĩnh trách nhiệm dân trao, và nhớ ngay đến Rú Đụn vào lúc ấy. Đã sẵn đội nghĩa binh thân cận là những người trong đoàn dân phu vừa theo mình đánh giặc trận đầu, Mai Thúc Loan lập tức tính thêm đến một lực lượng đã dày dạn nắng mưa hiểm nghèo là phường thợ săn của anh em họ Nguyễn ở trong miền. Một lời mời gọi tham gia việc nghĩa đã khiến tụ hội ngay về cả trăm con người tài trí này dưới cờ của Mai Thúc Loan. Rồi đó, hiệp thợ đúc đã từng là chỗ quen thuộc từ ngày nào, cũng trở thành ngay lực lượng tạo rèn giáo mác gươm đao cho nghĩa quân của ông tướng Đen như danh xưng thân thuộc đã bắt đầu được truyền tụng trong miền. Và Ông tướng Đen đã kéo ngay tất cả lực lượng mới nhóm họp của mình đi xây dựng Rú Đụn thành một căn cứ lợi hại theo điều đã mơ ước từ xưa của mình. Để rồi từ đấy tấp nập đón nhận thêm đủ các hạng người ứng nghĩa dồn dập gần xa tìm về.

    Lực lượng vừa đủ mạnh, viên tướng trẻ đã sớm tỏ cho mọi người thấy tài ba và chí lớn của mình. Không để cho giặc kịp rảnh tay đối với phó, Mai Thúc Loan quyết định ra quân trước, đánh thẳng vào châu trị, mở địa bàn Hoan Châu cho cuộc khởi nghĩa nhân dân!

    San phẳng tòa châu trị, đánh đuổi bọn quan quân đô hộ Hoan Châu ôm đầu chạy biệt, tiếng tăm Mai Thúc Loan nổi dậy như sóng cồn. Tờ hịch của Mai Thúc Loan kể tội giặc Đường và kêu gọi người Việt đứng dậy lấy lại non sông, truyền đi bốn phương, làm dấy lên một cơn bão táp khởi nghĩa thật dữ dội. Tin tức thắng giặc từ khắp nơi bay về Rú Đụn. Lương thực, tiền của cùng với nghĩa quyên tứ xứ kéo đến như nước chảy.

    Căn cứ Hùng Sơn không đủ chứa đựng những lực lượng ngày càng hùng hậu như thế nữa, trong khi từ hai dặm xa xa, ngọn Vệ Sơn um tùm rậm rạp bên một khúc sông Lam sâu hiểm lại làm nảy ra trong đầu óc vị chủ tướng nghĩa quân ngày ngày vẫn lên Rú Đụn ngắm xem địa thế quanh miền những ý định mới. Cân nhắc hồi lâu, Mai Thúc Loan quyết định chọn Vệ Sơn để lập thêm một đại doanh nữa. Ông tướng Đen thân đứng ra chỉ huy việc cắm đất, xây phủ điện, dựng tầu voi, đắp chiến lũy ở Vê Sơn với quy mô của một kinh thành có sức trường cửu đến muôn đời.

    Thành Vạn An đã xây dựng xong. Người, của, từ thiên hạ tiếp tục dồn về. Nhưng Mai Thúc Loan vẫn bận lòng tính toán đến một lực lượng đủ để làm nên việc lớn nhất: Quét sạch giặc Đường ra khỏi bờ cõi. Bộ óc của vị thủ lĩnh nghĩa quân bấy nay vẫn nghĩ đến các nước Chân Lạp, Lâm Ấp láng giềng. Cùng là anh em bầu bạn trên một dải đất chung, Hoàn Châu từ lâu vẫn đón tiếp Chân Lạp, Lâm Ấp trong việc đổi trao, mua bán, tại sao lại không thể tiếp nhận luôn sức mạnh của nhau trong việc nghĩa lớn: Chống kẻ thù chung?

    Từ Hoan Châu, hai phái bộ lập tức được phải đi hai ngả: Vượt đèo Ngang về Nam và qua Vụ Ôn sang Tây, tìm đến quốc đô Lâm ấp và Chân Lạp, trao như kết nghĩa của Ông tướng Đen cho quốc vương các nước láng giềng, chẳng có gì ngăn cách những người thân thuộc giúp nhau vì đại nghĩa: đi cùng với các phái bộ trở về Hoan Châu là sứ giả của Lâm Ấp và Chấn Lạp. Các nước láng giềng sẵn sàng cùng Mai Thúc Loan liên kết chống giặc Đường.

    Sau lễ hoan tiếp các sứ giả Lâm Ấp và Chân Lạp ít lâu thì thấy một cụ già khoác chiếc áo thung xanh của đạo sĩ, chống gậy nhập vào đoàn người viễn phương tìm đến gặp Mai Thúc Loan, chàng trai trẻ lúc này đang choàng lên người tấm chiến bào võ tướng, khuôn mặt càng đen sạm vì nắng gió, chống gươm cùng tả hữu bàn việc xuất quân tiến đánh Phủ đô hộ ở ngài Giao Châu. Ông già đạo sĩ làm lễ bái yết viên tướng trẻ, đoạn vuốt bộ râu dài bạc trắng như cước, gật gù nhìn ngắm Mai Thúc Loan hồi lâu rồi thủng thẳng buông một câu nói chữ:

    - Địa dự thiên lý dĩ túc vương giã!

    Câu nói kỳ lạ ấy lập tức truyền lan ngay trong hàng ngũ tướng sĩ bạt ngàn trùng điệp của Ông tướng Đen. Tiếng bàn tán nổi lên khắp ngả: Mảnh đất nghìn dặm đã đủ để làm vua huống hồ đất ta vạn dặm rộng dài, tại sao không tôn phù chủ trương lên ngôi hoàng đế cho sáng rõ chủ quyền của người Việt trên Đất Việt?

    Tiếng reo hò hưởng ứng nối nhau vang dội khắp đất trời.

    Ông vua Đen của chúng ta! Vua Đen họ Mai của chúng ta! Mai Hắc Đế của chúng ta!

    Những tiếng gọi thân yêu ấy vọng lên khắp đất Hoan Châu vào lúc người anh hùng trẻ tuổi của nhân dân đã từ Hoan Châu đưa đại quân ra Bắc tấn công phủ đô hộ, quyết đánh trốc tận rễ nền thống trị của nhà Đường trên đất Việt.

    Chẳng bao lâu đã có tin vui thắng trận tuyền về: Mai Hắc Đế chiếm được phủ thành Tổng Bình. đuổi tên trùm đô hộ Quang Sở Khách chạy tháo về nước, lấy lại cả giang sơn của người Việt về cho người Việt!

    Niền hân hoan tuôn tràn tới tận các hang cùng ngõ hẻm. Đền thờ sống Mai Hắc Đế được dựng lên ở khắp nơi, khói hương nghi ngút. Và cá cụ già ngồi bên bếp lửa, lim dim mắt ôn lại chuyện cũ:

    Nhớ khi nội thuộc Đường triều

    Giang sơn cố quốc nhiều điều ghê gai"...

    Câu chuyện vợ chồng vua Đường với tòa Phù lê cung và quả lệ chi kỳ ảo, nỗi khổ cống vải quả, vải cây, cùng với lũ quan quân đô hộ nhà Đường nhân đấy cũng được các cụ già kể cho con cháu nghe như một kỷ niệm buồn đã chìm vào quá khứ. Để cho sảng khoái cất lên lời thơ ca ngợi anh hùng trẻ tuổi của nhân dân, ai cũng ngân vang:

    "Hùng cứ Châu Hoan đất một vùng

    Vạn An thành lũy khói hương xông

    Bốn phương Mai Đế lừng uy đức

    Trăm trận Lý Đường phục võ công

    Lam thủy trăng in tăm ngạc lặn

    Hùng sơn gió lặng khói lang không..."

    Người người nghe thơ, làm thơ và trông ngóng một mùa vải mới. Trải bao đời rồi, bây giờ mới sắp có một mùa vải yên lành của người trồng cây gây quả. Thắng giặc rồi ta sẽ còn gây những mùa quả ngọt ngon cho muôn đời. Lời thơ lại cất lên:

    "Đường đi cống vải từ đây dứt

    Dân nước đời đời hưởng phúc chung".


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group