SẤM TRẠNG TRÌNH - Nguyễn Bỉnh Khiêm

  • anap3

    April 26th 2006, 7:35 am
  • Sấm Trạng Trình --- Mỗi một câu là một lời tiên tri ....
    Cái này được viết cách đây 500 năm và viết theo Hán Việt nên đọc rất khó hiểu ...
    Trong phần đầu có câu **Việt Nam khởi tổ xây nên** . Mà 500 năm về trước thì nước Việt chưa có tên -- Việt Nam . Ông Trạng Trình đã biết trước nước Việt sẽ có tên ... Việt Nam .


    Vận lành mừng gặp tiết lành
    Thấy trong quốc ngữ lập thành nên câu
    Một câu là một nhiệm màu
    Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao
    Trải vì sao mây che Thái Ất
    Thủa cung tay xe nhật phù lên
    Việt Nam khởi tổ xây nên
    Lạc Long ra trị đương quyền một phương
    Thịnh suy bỉ thới lẽ thường
    Một thời lại một nhiễu nhương nên lề
    Ðến Ðinh Hoàng nối ngôi cửu ngủ
    Mở bản đồ rủ áo chấp tay
    Ngự đao phút chốc đổi thay
    Thập bát tử rày quyền đã nổi lên
    Ðông a âm vị nhi thuyền
    Nam phương kỳ mộc bỗng liền lại sinh
    Chấn cung hiện nhật quang minh
    Sóng lay khôn chống trường thành bền cho
    Ðoài cung vẻ rạng trăng thu
    Ra tay mở lấy đế đô vạn toàn
    Sang cửu thiên ám vầng hồng nhật
    Dưới lẫn trên năng vẫn uống quen
    Sửa sang muôn việc cầm quyền
    Ngồi không ai dể khẳng nhìn giúp cho
    Kìa liệt vương khí hư đồ ủng
    Mặc cường hầu ong ỏng tranh khôn
    Trời sinh ra những kẻ gian
    Mặt khôn đổi phép, mặc ngoan tham tài
    Áo vàng ấm áp đà hay
    Khi sui đấp núi khi say xây thành
    Lấy đạt điền làm công thiên hạ
    Ðược mấy năm đất lở giếng mòn
    Con yết ạch ạch tranh khôn
    Vô già mở hội mộng tôn làm chùa
    Cơ trời xem đã mê đồ
    Ðã đô lại muốn mở đô cho người
    Ấy lòng trời xuôi lòng bất nhẫn
    Suốt vạn dân cừu giận oán than
    Dưới trên dốc chí lo toan
    Những đua bán nước bán quan làm giàu
    Thống rủ nhau làm mồi phú quí
    Mấy trung thần có chí an dân
    Ðua nhau làm sự bất nhân
    Ðã tuần bốn bể lại tuần đầu non
    Dư đồ chia xẻ càn khôn
    Mối giềng man mác khiếp mòn lòng nhau
    Vội sang giàu giết người lấy của
    Sự có chăng mặc nọ ai đôi
    Việc làm thất chính tơi bời
    Minh ra bổng lại thất thôi bấy giờ
    Xem tượng trời đã giơ ra trước
    Còn hung hăng bạc ngược quá xưa
    Cuồn phong cả sớm liền trưa
    Ðã đờn cửu khúc còn thơ thi đề
    Ấy Tần Vương ngu mê chẳng biết
    Ðể vạn dân dê lại giết dê
    Luôn năm chật vật đi về
    Âm binh ở giữa nào hề biết đâu
    Thấy nội thành tiếng kêu ong ỏng
    Cũng một lòng trời chống khác nào
    Xem người dường vững chiêm bao
    Nào đâu còn muốn ước ao thái bình
    Một góc thành làm tâm chứng quỷ
    Ðua một lòng ích kỷ hại nhân
    Bốn phương rời rỡ hồng trần
    Làng khua mỏ cá lãng phân điếm tuần
    Tiếc là những xuất dân làm bạo
    Khua dục loài thỏ cáo tranh nhau
    Nhân danh trọn hết đâu đâu
    Bấy giờ thiên hạ âu sầu càng ghê
    Hùm già lạc dấu khôn về
    Mèo non chi chí tìm về cố hương
    Chân dê móng khởi tiêu tường
    Nghi nhau ai dễ sửa sang một mình
    Nội thành ong ỏng hư kinh
    Ðầu khỉ tin sứ chèo thành lại sang
    Bở mồ hôi Bắc giang tái mã
    Giửa hai xuân bỗng phá tổ long
    Quốc trung kinh dụng cáo không
    Giữa năm giả lai kiểm hung mùa màng
    Gà đâu sớm gáy bên tường
    Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
    Thủy binh cờ phất vầng hồng
    Bộ binh tấp nập như ong kéo hàng
    Ðứng hiên ngang đố ai biết trước
    Ấy Bắc binh sang việc gì chăng ?
    Ai còn khoe trí khoe năng
    Cấm kia bắt nọ tưng bừng đôi nơi
    Chưa từng thấy đời này sự lạ
    Bổng khiến người giá họa cho dân
    Muốn bình sao chẳng lấy nhân
    Muốn yên sao chẳng dục dân ruộng cày
    Ðã nên si Hoàn Linh đời Hán
    Ðúc tiền ra bán tước cho dân
    Xun xoe những rắp cậy quân
    Chẳng ngờ thiên đạo xây dần đã công
    Máy hoá công nắm tay dễ ngỏ
    Lòng báo thù ai dễ đã nguôi
    Thung thăng tưởng thấy đạo trời
    Phù Lê diệt Mạc nghỉ dời quân ra
    Cát lầm bốn bể can qua
    Nguyễn thì chẳng được sẽ ra lại về
    Quân hùng binh nhuệ đầy khe
    Kẻ xưng cứu nước kẻ khoe trị đời
    Bấy giờ càng khốn than ôi
    Quỉ ma trật vật biết trời là đâu ?
    Thương những kẻ ăn rau ăn giới
    Gặp nước bung con cái ẩn đâu
    Báo thù ấy chẳng sai đâu
    Tìm non có rẩy chừng sau mới toàn
    Xin những kẻ hai lòng sự chúa
    Thấy đâu hơn thì phụ thửa ân
    Cho nên phải báo trầm luân
    Ai khôn mới được bảo thân đời này
    Nói cho hay khảm cung rồng dấy
    Chí anh hùng xem lấy mới ngoan
    Chử Rằng lục thất nguyệt gian
    Ai mà nghĩ được mới gan anh tài
    Hễ nhân kiến đã dời đất cũ
    Thì phụ nguyên mới chổ binh ra
    Bốn phương chẳng động can qua
    Quần hùng các xứ điều hoà làm tôi
    Bấy giờ mở rộng qui khôi
    Thần châu thu cả mọi nơi vạn toàn
    Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh
    Hoàng phúc xưa đã định tây phong
    Làu làu thế giới sáng trong
    Lồ lộ mặt rồng đầu có chử vương
    Rỏ sinh tài lạ khác thường
    Thuấn Nghiêu là chí Cao Quang là tài
    Xem ý trời có lòng đãi thánh
    Dốc sinh hiền điều đỉnh nội mai
    Chọn đầu thai những vì sao cả
    Dùng ở tay phụ tá vương gia
    Bắc phương chính khí sinh ra
    Có ông Bạch sĩ điều hoà hôm mai
    Song thiên nhật rạng sáng soi
    Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường
    Ðời này thánh kế vị vương
    Ðủ no đạo đức văn chương trong mình
    Uy nghi trạng mạo khác hình
    Thác cư một gốc kim tinh phương đoài
    Cùng nhau khuya sớm dưỡng nuôi
    Chờ cơ sẽ mới ra tài cứu dân
    Binh thơ mấy quyển kinh luân
    Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu
    Ở đâu đó anh hùng hẳn biết
    Xem sắc mây đã biết thành long
    Thánh nhân cư có thụy cung
    Quân thần đã định gìn lòng chớ tham
    Lại dặn đấng tú nam chí cả
    Chớ vội vàng tất tả chạy rong
    Học cho biết lý kiết hung
    Biết phương hướng bội chớ dùng làm chi
    Hễ trời sinh xuống phải thì
    Bất kỳ chi ngộ màng gì tưởng trông
    Kìa những kẻ vội lòng phú quí
    Xem trong mình một thí đều không
    Ví dù có gặp ngư ông
    Lưới chài đâu sẵn nên công mà hòng
    Xin khuyên đấng thời trung quân tử
    Lòng trung nghi ai nhớ cho tinh
    Âm dương cơ ngẩu ngô sinh
    Thái nhâm thái ất trong mình cho hay
    Văn thì luyện nguyên bài quyết thắng
    Khen Tử Phòng cũng đấng Khổng Minh
    Võ thông yên thủy thần kinh
    Ðược vào trận chiến mới càng biến cơ
    Chớ vật vờ quen loài ong kiến
    Biết ray tay miệng biếng nói không
    Ngỏ hay gặp hội mây rồng
    Công danh sáng chói chép trong vân đài
    Bấy giờ phỉ sức chí trai
    Lọ là cho phải ngược xuôi nhọc mình
    Nặng lòng thật có vĩ kinh
    Cao tay mới gẩm biết tình năm nao
    Trên trời có mấy vì sao
    Ðủ nho biền tướng anh hào đôi nơi
    Nước Nam thường có thánh tài
    Ai khôn xem lấy hôm mai mới tường
    So mấy lời để tàng kim quỉ
    Chờ hậu mai có chí sẽ cho
    Trước là biết nẽo tôn phò
    Sau là cao chí biết lo mặc lòng
    Xem đoài cung đến thời bất tạo
    Thấy vĩ tinh liệu rạo cho mau
    Nguôi lòng tham tước tham giàu
    Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân
    Trẻ con mang mệnh tướng quân
    Ngỡ oai đã dấy ngỡ nhân đã nhường
    Ai lấy gương vua U thủa trước
    Loạn ru vì tham ngược bất nhân
    Ðoài phương ong khởi lần lần
    Muôn sinh ba cốc cầm binh dấy loàn
    Man mác một đỉnh Hoành Sơn
    Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
    Ấy là những binh thù Thái Thái
    Lòng trời xui ai nấy biết ru ?
    Phá điền dầu khỉ cuối thu
    Tái binh mới động thập thò liền sang
    Lọ chẳng thường trong năm khôn xiết
    Vẽ lại thêm hung kiệt mất mùa
    Lưu tinh hiện trước đôi thu
    Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm
    Xem thấy nhũng sương săm tuyết lạnh
    Loài bất bình tranh mạnh hung hăng
    Thành câu cá, lửa tưng bừng
    Kẻ ngàn Ðông Hải người rừng Bắc Lâm
    Chiến trường chốn chốn cát lầm
    Kẻ nằm đầy đất kẻ trầm đầy sông
    Sang thu chín huyết hồng tứ giả
    Noi đàng dê tranh phá đôi nơi
    Ðua nhau đồ thán quần lê
    Bấy giờ thiên hạ không bề tựa nương
    Kẻ thì phải thủa hung hoang
    Kẻ thì binh hỏa chiến trường chết oan
    Kẻ thì mắc thủa hung tàn
    Kẻ thì bận của bổng toan khốn mình
    Muông vương dựng ổ cắn tranh
    Ðiều thì làm chước xuất binh thủ thành
    Bời bời đua mạnh tranh giành
    Ra đâu đánh đấy dem binh sớm ngày
    Bể thanh cá phải ẩn cây
    Ðất bằng nổi sấm cát bay mịt mù
    Nào ai đã dễ nhìn U
    Thủy chiến bộ chiến mặc dù đòi cơn
    Cây bay lá lửa đôi ngàn
    Một làng còn mấy chim đàn bay ra
    Bốn phương cùng có can qua
    Làm sao cho biết nơi hào bảo thân
    Ðoài phương thực có chân nhân
    Quần tiên khởi nghĩa chẳng phân hại người
    Tìm cho được chốn được nơi
    Thái nguyên một giãi lần chơi trú đình
    Bốn bề núi đá riểu quanh
    Một đường tiểu mạch nương mình dấy an
    Hễ Ðông Nam nhiều phen tàn tạc
    Tránh cho xa kẻo mắc đao binh
    Bắc kinh mới thật đế kinh
    Dấu thân chưa dễ dấu danh được nào
    Chim hồng vỗ cánh bay cao
    Tìm cho được chốn mới vào thần kinh
    Ai dễ cứu con thơ sa giếng
    Ðưa một lòng tranh tiếng dục nhau
    Vạn dân chịu thủa u sầu
    Kể dư đôi ngủ mới hầu khoan cho
    Cấy cày thu đãi thời mùa
    Bấy giờ phá ruộng lọ chờ mượn ai
    Nhân ra cận duyệt viễn lai
    Chẳng phiền binh nhọc chẳng nài lương thêm
    Xem tượng trời biết đường đời trị
    Gẩm về sau họ Lý xưa nên
    Giòng nhà để lấy dấu truyền
    Gẩm xem bốn báu còn in đời đời
    Thần qui cơ nổ ở trời
    Ðể làm thần khí thủa nơi trị trường
    Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh
    Sông Bảo Giang thiên định ai hay
    Lục thất cho biết ngày dài
    Phụ nguyên ấy thực ở đầy tào khê
    Có thầy nhân thập đi về
    Tả phụ hửu trì cây cỏ làm binh
    Giốc hết sức sửa sang vương nghiệp
    Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời
    Ra tay điều chỉnh hộ may
    Bấy giờ mới biết rằng tài yên dân
    Lọ là phải nhọc kéo quân
    Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về
    Năm giáp tý vẽ khuê đã rạng
    Lộ Ngũ tinh trinh tượng thái hanh
    Ân trên vũ khí vân hành
    Kẻ thơ ký tuý kẻ canh xuân đài
    Bản đồ chảng sót cho ai
    Nghìn năm lại lấy hội nơi vẹn toàn
    Vững nền vương cha truyền con nối
    Dõi muôn đời một mối xa thư
    Bể kình tâm lặng bằng tờ
    Trăng thanh ai chẳng ơn nhờ gió xuân
    Âu vàng khỏe đặt vững chân
    Càng bền thế nước vạn xuân lâu dài
    Vừa năm nhâm tý xuân đầu
    Thanh nhàn ngồi tựa hương câu nghĩ đời
    Quyển vàng mở thấy sấm trời
    Từ Ðinh đổi đời chí lục thất gian
    Một thời có một tôi ngoan
    Giúp trong việc nước gặp an thái bình
    Luận chung một tập kim thời
    Tướng quyền tử sĩ nam nhi học đòi
    Trượng phu có chí thời coi
    Những câu nhiệm nhặt đáng đôi nhành vàng
    Tài nầy nên đấng vẻ vang
    Biết chừng đời trị biết đường đời suy
    Kể từ nhân đoản mà đi
    Số chưa gặp thì biết hoà chép ra
    Tiếc thay hiền sĩ bao già
    Ước bằng Bành Tổ ắt là Thái Công
    Thử cho tay giúp ra dùng
    Tài này so cùng tài trước xem sao
    Trên trời kể chín tầng cao
    Tay nghe bằng một ti hào biết hay
    Hiềm vì sinh phải thời này
    Rấp thù mở nước tiếc thay chưng đời
    Hợp đà thay thánh nghìn tài
    Giáng sinh rủi kiếp quỉ ma nhà trời
    Nói ra thì lậu sự đời
    Trái tai phải lụy tài trai khôn luần
    Nói ra am chúa bội quân
    Ðương thời đời trị xoay vần được đâu
    Chờ cho nhân đoản hết sau
    Ðến chừng đời ấy thấy âu nhiễu nàn
    Trời xui những kẻ ắt gian
    Kiếp độc đạo thiết làm loàn có hay
    Vua nào tôi ấy đã bày
    Trên đầu bất chính dưới nay dấy loàn
    Ðua nhau bội bạn nghịch vi
    Ích gia phi kỷ dân thì khốn thay
    Tiếc tài gẩm được thời hay
    Ðã sao như vậy ra tay sẽ dùng
    Tài trai có chí anh hùng
    Muốn làm tướng súy lập công xưng đời
    Khá xem nhiệm nhặt tội trời
    Cơ mưu nhiệm nhặt mấy trai anh hùng
    Ði tìm cho đến đế cung
    Rấp phù xuất lực đế cung được toàn
    Bảo nhau cương kỷ cho tường
    Bốn phương cũng được cho yên trong ngoài
    Chờ cho động đất chuyển trời
    Bấy giờ thánh sẽ nên tay anh hùng
    Còn bên thì náu chưa xong
    Nhân lực cướp lấy thiên công những là
    Ðời ấy những quỉ cùng ma
    Chảng còn ở thật người ta đâu là
    Trời cao đất rộng bao xa
    Làm sao cho biết cửa nhà đế vương
    Dù trai ai chửa biết tường
    Nhất thổ thời sĩ Khảm Phương thuở này
    Ý ra lục thất gian nay
    Thời vận đã định thời nầy hưng vương
    Trí xem nhiệm nhặt cho tường
    Bảo Giang thánh xuất trung ương thuở nầy
    Vua ngự thạch bàn xa thay
    Ðại ngàn vắng vẻ những cây cùng rừng
    Gà kêu vượn hót vang lừng
    Ðường đi thỏ thẻ dặm chưn khôn dò
    Nhân dân vắng mạt bằng tờ
    Sơn lâm vào ở đổ nhờ khôn thay
    Vua còn cuốc nguyệt cày mây
    Phong điều vũ thuận thú rày an dân
    Phong đăng hoà cốc chứa chang
    Vua ở trên ngàn có ngũ sắc mây
    Chính cung phương khảm vần mây
    Thực thay thiên tử là nay trị đời
    Anh hùng trí lượng thời coi
    Công danh chẳng ngại tìm đòi ra đi
    Tìm lên đến thạch bàn khê
    Có đất sinh thánh bên kia cuối làng
    Nhìn đi nhìn lại cho tường
    Dường như chửa có sinh vương đâu là
    Chảng tìm thì đến bình gia
    Thánh chưa sinh thánh báo ca địa bình
    Nhìn xem phong cảnh cũng xinh
    Tả long triều lại có thành đợt vây
    Hửu hổ uấn khúc giang này
    Minh Ðường thất diệu trước bày mặt tai
    Ở xa thấy một con voi
    Cúi đầu quen bụi trông vời hồ sâu
    Ấy điềm thiên tử về chầu
    Tượng trưng đế thánh tô lâu trị đời
    Song thiên nhật nguyệt sáng soi
    Sinh đặng chúa ấy là ngôi chẳng cầu
    Ðến đời thịnh vượng còn lâu
    Ðành đến tam hợp chia nhau sẽ làm
    Khuyên cho Ðông Bắc Tây Nam
    Muốn làm tướng súy thì xem trông này

    Thiên sinh thiên tử ư hỏa thôn
    Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn
    Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
    Hậu sinh thiên tử Bảo Giang môn
    Kìa cơn gió thổi lá rung cây
    Rung Bắc sang Nam Ðông tới Tây
    Tan tác kiến kiều an đất nước
    Xác xơ cổ thụ sạch am mây
    Sơn lâm nổi sóng mù thao cát
    Hưng địa tràng giang hóa nước đầy
    Một gió một yên ai sùng bái
    Cha con người Vĩnh Bảo cho hay
    Con mùng búng tít con quay
    Vù vù chong chóng gió bay trên đài
    Nhà cha cửa đóng then cài
    Ầm ầm sấm động hỏi người đông lân
    Tiếc tám lạng thương nửa cân
    Biết rằng ai có du phần như ai
    Bắt tay nằm nghỉ dông dài
    Thương người có một lo hai phận mình
    Canh niên tân phá
    Tuất hợi phục sinh
    Nhị Ngũ dư bình
    Long hổ xà đầu khởi chiến tranh
    Can qua tứ xứ loạn đao binh
    Mã đề dương cước anh hùng tận
    Thân dậu niên lai kiến thái bình
    Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu
    Có một đàn xà đánh lộn nhau
    Vượn nọ leo cành cho sỉ bóng
    Lợn kia làm quái phải sai đầu
    Chuột nọ lăm le mong cản tổ
    Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu
    Hùm ở trên rừng gầm mới dậy
    Tìm về quê củ bắt ngựa tàu
    Cửu cửu kiền khôn dĩ định
    Thanh minh thời tiết hoa tàn
    Trực đáo dương đầu mã vĩ
    Hồ binh bát vạn nhập trường an
    Bảo Giang thiên tử xuất
    Bất chiến tự nhiên thành
    Lê dân bảo bảo noản
    Tứ hải lạc âu ca
    Dục đức thánh nhân hương
    Qua kiều cư Bắc phương
    Danh vi Nguyễn gia tử
    Kim tịch sinh ngưu lang
    Thượng đại nhân bất nhân
    Thánh ất dĩ vong ân
    Bạch hổ kim đai ấn
    Thất thập cổ lai xuân
    Bắc hữu kim thành tráng
    Nam tạc ngọc bích thành
    Hỏa thôn đa khuyển phệ
    Mục giả dục nhân canh
    Phú quí hồng trần mộng
    Bần cùng bạch phát sinh
    Anh hùng vương kiếm kích
    Manh cổ đổ thái bình
    Nam Việt hửu Ngưu tinh
    Quá thất thân thủy sinh
    Ðiạ giới sĩ vị bạch
    Thủy trầm nhi bắc kinh
    Kỷ mã xu dương tẩu
    Phù kê thăng đại minh
    Trư thử giai phong khởi
    Thìn mão xuất thái bình
    Phân phân tùng Bắc khởi
    Nhiểu nhiểu xuất Ðông chinh
    Bảo sơn thiên tử xuất
    Bất chiến tự nhiên thành
    Thủy trung tàng bảo cái
    Hứa cập thánh nhân hương
    Mộc hạ châm châm khẩu
    Danh thế xuất nan lương
    Danh vi Nguyễn gia tử
    Tinh bản tại ngưu lang
    Mại dử lê viện dưỡng
    Khởi nguyệt bộ đại giang
    Hoặc kiều tam lộng ngạn
    Hoặc ngụ kim lăng cương
    Thiên dử thần thực thụy
    Thụy trình ngũ sắc quang
    Kim kê khai lựu điệp
    Hoàng cái xuất quí phương
    Nhân nghĩa thùy vi địch
    Ðạo đức thực dữ đương
    Tộ truyền nhị thập ngủ
    Vận khải ngủ viên trường
    Vận đáo dương hầu ách
    Chấn đoài cương bất trường
    Quần gian đạo danh tự
    Bách tính khổ tai ương
    Can qua tranh đấu khởi
    Phạm địch tánh hung hoang
    Ma vương sát đại quỉ
    Hoàng thiên tru ma vương
    Kiền khôn phú tai vô lương
    Ðào viên đỉnh phát quần dương tranh hùng
    Cơ nhị ngủ thư hùng vị quyết
    Ðảo Hoàn Sơn tam liệt ngũ phân
    Ta hồ vô phụ vô quân
    Ðào viên tán lạc ngô dân thủ thành
    Ðoài phương phước điạ giáng linh
    Cửu trùng thụy ứng long thành ngủ vân
    Phá điền thiên tử giáng trần
    Dũng sĩ nhược hai mưu thần như lâm
    Trần công nai thị phúc tâm
    Giang hồ tử sĩ đào tiềm xuất du
    Tướng thần hệ xuất y chu
    Thứ kỵ phục kiến Ðường ngu thi hành
    Hiệu xưng thiên hạ thái bình
    Ðông Tây vô sự Nam thành quốc gia .


    --- Nguyễn Bỉnh Khiêm ---

  • Hannah85

    May 4th 2006, 6:35 pm
  • Lời sấm này nhiều câu rất đúng ;)

  • Amar

    May 4th 2006, 6:48 pm
  • Có nhiều câu Hán Việt mình không hiểu rõ cho lắm, anap3 biết những câu nào ứng nghiệm với những trường hợp nào không Confused ???

  • bamboo

    May 5th 2006, 7:45 pm
  • Dài quá,không đọc nổi.Ai thấy đúng chỗ nào thì nói ra nghe thử đi.

  • haiquan125

    May 8th 2006, 7:50 am
  • hiểu được hết chỗ này chết liền đó nghen

  • khanh_nz

    May 12th 2006, 8:23 pm
  • Sau bài Sấm này, mới mở ra thời kì Đàng trong - Đàng ngoài do chúa Nguyễn Hoàng vào Nam phai khẩn đất hoang

  • kiemsy

    May 24th 2006, 1:06 pm
  • Nhân nói về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, kiemsy có sưu tập được bài này trên net (hoàn toàn không có chữ nào ks viết cả) để các bạn cùng đọc nhé

    Giai thoại Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

    Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm tân hợi 1491, thuộc đời vua Lê Thánh Tông Hồng Ðức thứ 22 tại thôn Trung An, làng Cổ An, huyện Vĩnh Bảo Hải Dương. Thân phụ cụ Văn Ðình, thân mẫu Nhữ Thị Thục, người đất Tiên Minh, làng An Tử hạ. Ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Nhữ Văn Lan, đã làm rạng rỡ dòng họ và quê hương với bảng vàng tiến sĩ, khoa thi năm Quí mùi, niên hiệu Quang Thuận, đời Lê Thánh Tông, được nhà Vua tin dùng, phong chức Thượng thư bộ Hộ.

    Theo tài liệu để lại bà Nhữ Thị Thục là bậc nữ lưu tài hoa vào bậc nhất chốn kinh kỳ thời bấy giờ. Con gái Hộ bộ thượng thư Nhữ văn Lân, được phong là Từ thục phu nhân. Bà giỏi văn chương và tài học về Lý số. Biết trước những gì có thể xảy ra và mộng lớn con cái nên danh phận không thể chờ thời. Như Nguyễn Du đã viết sau nầy “xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” .Trạng Trình có người em cũng tài giỏi về lý số, người đời gọi là Trạng Bùng Phùng Khắc Khoang cùng mẹ khác cha. Nguyễn Bỉnh Khiêm huý là Văn Đạt, tự Hanh Phủ, người làng Trình Tuyền (Trung An), huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng.

    Nguyễn Bỉnh Khiêm,lúc trẻ ông học với Lương Ðắc Bằng được truyền cho quyển “Thái ất thần kinh” từ đó ông tinh thông về Lý học,Tướng số học giỏi, nghiên cứu về lý số với thiên tài “thần thông” có khả năng siêu quần, quán chúng về thấu thị, thần giao cách cảm, ông biết nhà Lê Trung Hưng, nên chờ đúng số mệnh năm 44 tuổi dự thi đỗ Giải Nguyên, đời nhà Mạc (1527-1592), làm việc bên cạnh Tả thị Lang, Ðông Các Ðại Học Sĩ, làm quan được 8 năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần vua nghe không. Ông cáo quan năm 1542 về vườn, lập Bạch Vân am và hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học cạnh sông Hàn giang còn có tên Tuyết giang nên học trò gọi ông “Tuyết giang Phu tử “ thơ mang triết lý của Thái Ất là nguồn tri thức hữu thể, về đời sống nhân sinh với càng khôn trong vũ trụ. Thái Ất còn gọi là Lý Thiên, Lý Địa và Lý Nhân

    Ngư ông bất ngộ Ðào Nguyên khách

    Khởi thức hưng vong thế cổ kim

    hay

    Nhàn trung hoa thảo túc Cung xuân
    Tà dương độc lập đô vô sự

    Dù Nguyễn Bỉnh Khiên không còn làm quan, nhưng vua Mạc Phúc Hải phong cho ông tước Trình Nguyên Hầu vào năm Giáp thìn (1544), ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn nghành lý học, giống như (Trình Y Xuyên,Trình Minh Ðạo bên Trung Hoa). Sau đó được thăng chức Thượng thư bộ Lại, tước hiệu Trình quốc Công. Từ đó người đời gọi ông là Trạng Trình. Nhờ học phương pháp tính theo Thái ất, tiên đoán được biến cố trước và sau 500 năm. Người Trung Hoa khen Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “An Nam lý học hữu Trình Tuyền”

    Tục truyền rằng Năm Bính ngọ (1546) Mạc Phúc Hải mất truyền ngôi lại cho con Mạc Phúc Nguyên mãi đến năm mậu thân (1548) vua Trang Tông mất, Trịnh Kiểm lập Thái tử tên Duy Huyên lên ngôi tức Trung Tông được 8 năm thì mất không có con nối nghiệp. Trinh Kiểm muốn làm vua nhưng còn sợ dư luận, nên sai người đến Hải Dương hỏi ý khiến Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. ông không nói gì chỉ bảo người giúp việc ngụ ý :

    “năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ, gữi chùa thờ Phật thì ăn oản.. “ Sau đó Trịnh Kiểm tìm con cháu họ Lê, lên làm vua.

    Dù Trạng Trình ở ẩn, vua Mạc cũng như các chúa Trịnh, Nguyễn có việc hệ trọng vẫn cho người đến hỏi ý ông. Ông thường kín đáo khuyên Vua cố gắng tránh chiến tranh để nhân dân khỏi chết chóc. Trong năm Quang Thiêu (Lê Chiêu Tôn) có việc biến loạn, Nguyễn Bỉnh Khiêm không muốn tiếng tăm với đời lúc bấy giờ Trịnh Tuy, Mạc Ðăng Dung cũng cố ý muốn tranh quyền, đánh nhau mấy năm dài. Ông tính số Thái Ất, biết có nhà Lê lại khôi phục được làm bài thơ

    Non sông nào phải buổi bình thời

    Thú đánh nhau chi khéo nực cười

    Cá vực, chim rừng, ai khiến đuổỉ

    Núi xương sông tuyết, thảm đầy vơi

    Ng ựa phi chắc có hồi quay cổ (1)

    Thú dữ nên phòng lúc cắn người (2)

    Ngán ngẫm việc đời chi nói nữa

    Bên đầm say hát, nhởn nhơ chơi



    Hoành sơn nhất đái

    Sau khi nhà Lê bị Mạc Đăng Dung (1483-1541) chiếm ngôi, con của vị tướng triều Lê là Nguyễn Hoàng Dụ trốn sang Lào, được vua Lào cho nương náu ở xứ Cẩm Châu, trấn Nam Phủ, tỉnh Thanh Hoá. Năm Quý Tỵ (1532) Nguyễn Kim lập con út vua Chiêu Tông lên làm vua, gọi là Trang Tông.

    Để mưu đồ đại sự, Nguyễn Kim (1467-1545) thu nạp kiện tướng ở tỉnh Thanh Hoá là Trịnh Kiểm, sau là rể của Nguyễn Kim. Năm Canh Tý (1540), Nguyễn Kim đem quân đánh chiếm Nghệ An và thu phục luôn cả Thanh Hoá. Nhưng bỗng dưng Nguyễn Kim chết vì ngộ độc (1545), mọi bình quyền về tay Trịnh Kiểm. Việt Nam lúc bấy giờ bị chia đôi: từ Sơn Nam trở ra thuộc nhà Mạc, gọi là Bắc Triều. Từ Thanh Hoá trở vào là khu vực của nhà Lê hay gọi là Nam Triều.

    Nguyễn Kim mất, để lại hai người con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng (1525-1613) cả hai tuy còn ít tuổi nhưng đã bộc lộ tài năng xuất sắc hơn người. Trịnh Kiểm không khỏi lo sợ cả hai sau này có thể tranh giành địa vị với mình, nên đã ngấm ngầm ngăn trở, và vì thế Nguyễn Uông chỉ mắc một lỗi nhỏ, Trịnh Kiểm cũng buộc Nguyễn Uông phải chịu phép gia hình. Nguyễn Hoàng thấy anh bị hại, sợ đến lượt mình, liền cử người kín đáo lên hỏi Trạng Trình. Trạng không trả lời cụ thể, chỉ đứng ngắm đàn kiến bò trên hòn non bộ trước sân nhà và thốt lên một câu:

    “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”

    Nghĩa là từ núi đèo ngang ở Quảng Bình kia có thể yên thân được muôn đời . Từ câu nói đó, Nguyễn Hoàng nghiệm ra rằng trạng Trình đã bày cho kế đi vào phương Nam lập nghiệp. Từ năm 1558 Nguyễn Hoàng vội vàng đến nói riêng với chị là bà Ngọc Bảo xin Trịnh Kiểm cho vào trấn phiá Nam, năm mậu ngọ (1558) đời vua Anh Tông Trịnh Kiểm tâu vua cho Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hoá, phía Nam dãy Hoành Sơn. Nhờ thế mà lập nên cơ nghiệp của họ Nguyễn ở Đàng Trong, truyền nối lâu dài.

    Nguyễn Hoàng là người khôn ngoan, có lòng nhân đức, thu dụng hào kiệt giúp dân cho nên được lòng dân kính phục. Trấn giữ đất Thuận Hóa, mở đầu cho triều đình nhà Nguyễn từ từ khai phá cho đến vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày nay.

    Ngoài ra rất nhiều lời sấm được lưu truyền qua dân gian nhiều lời bàn diễn giải khác nhau câu : ” Cẩu vĩ trư đầu, xuất thánh nhân ” ứng nghiệm vào việc vua Gia Long lên ngôi từ (1802-1819) thống nhất sơn hà vào năm Nhâm tuất ngày 02-05-1802. trải qua 13 triều đại .Hoàng đế cuối cùng Bảo Ðại trị vì từ 1929 và thoái vị năm 1945 .

    Tương truyền Trạng Trình nói trước nhà Mạc suy vong, tuy nhiên con cháu họ Mạc về đất Cao bằng tuy nhỏ nhưng được 3 đời là Mạc Kính Cung, Mạc Kinh Khoan và Mạc Kinh Vũ . Dòng dõi họ Mạc bị bắt, bị giết nhiều người đổi họ lưu lạc khắp nơi để mưu cầu sự sống

    Trạng Trình có 3 người vợ và 12 người con (7 trai 5 gái) các con trai đều có chức tước sau nầy. Ông mất ngày 28 tháng 11 năm đinh dậu, niên hiệu Diên Thành thứ 8 nhà Mạc (1585) hưởng thọ 94 tuổi. Trước khi chết, Trạng có ghi vào gia phả và dặn con cháu rằng:

    "Bình sinh ta có tấm bia đá sẵn và đã sơn kia. Khi ta mất rồi, hễ hạ quan tài xuống phải để tấm bia đá ấy lên nắp rồi lấp đất. Chờ khi nào có khách tới viếng mộ và nói rằng: "Thánh nhân mắt mù" thì phải lập tức mời người ấy vào nhà, yêu cầu họ đổi hướng lại ngôi mộ cho ta. Nếu trái lời ta, dòng dõi về sau sẽ suy đồi lụn bại đấy".
    Con cháu nghe lời, làm y như đã dặn. Nhưng chờ mãi đến năm mươi năm sau, mới có người khách đến nhìn mộ cụ một lúc rồi nói:

    "Cái huyệt ở đằng chân sờ sờ thế kia mà không biết, lại tự đem để mả thế này. Vậy mà thánh nhân gì chớ, hoạ chăng là thánh nhân mắt mù".
    Người trong họ nghe được, chạy về báo với trưởng tộc. Ông này vội vàng ra đón người khách Tầu kia về nhà, xin để xoay ngôi mộ kia lại. Ra đó là một nhà phong thuỷ (Feng Shui) trứ danh ở phương Bắc. Ông ta sang là để đi tìm xem di tích của Trạng, bấy lâu ông ta đã nghe tiếng đồn.

    Khi nghe vị trưởng tộc nói, ông ta sẵn lòng làm ngay, và tự đắc cho rằng mình giỏi hơn Trạng Trình. Ông ta bảo: Không cần phải đem đi đâu xa cả, chỉ đào lên rồi xoay lại, nhích đi một chút là được. Ông trưởng tộc bèn tụ họp con cháu lại, đưa thầy địa lý Tầu ra đổi lại ngôi mộ. Lúc đào đến tấm bia đá, ông ta làm lạ bảo đem rửa sạch xem những gì trên đó. Khi tấm bia được rửa sạch, mới thấy mấy câu thơ hiện ra: tạm dịch nghĩa:

    Ngày nay mạch lộn xuống chân

    Năm mươi năm trước mạch dâng đằng đầu.

    Biết gì nhữg kẻ sinh sau ?

    Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ ?

    Đọc tới đâu vị khách Tầu đổ mồ hôi hột đến đó, ra Trạng Trình mà ông ta nghe đồn là giỏi thật. So với Trạng, có lẽ ông còn thua xa.

    Năm 1930 Việt Nam Quốc Dân Ðảng lãnh tụ Nguyễn Thái Học (1901-1930) lãnh đạo cuộc tổng khởi nghiã ngày 10.2.1930 đánh Tây ở các tỉnh : Yên Bái, Hưng Hoá, Lâm Thao, Hải Dương, Kiến An. Thất bại bị Pháp đìên cuồng ném bom tàn phá làng Bảo an để trả thù. Có lời đồn Trạng Trình đã tiên đoán :



    Kìa kìa gió thổi lá rung cây

    Rung Bắc rung Nam rung tới Tây

    Tan tác kiến kiều an đất nước

    Xác xơ cổ thụ sạch am cây

    Lâm giang nổi gió mù thao cát

    Hưng địa tràn dâng hóa nước đầy

    Một ngựa một yên ai sùng bái

    Nhắn tin nhà vĩnh bảo cho hay „



    Thoát nạn sập nhà

    Trước lúc mất, Trạng có giao cho con cháu một ống tre sơn son thếp vàng, bịt kín hai đầu, và dặn đúng năm tháng ấy, ngày giờ ấy, phải để cái ống ấy vào kiệu rước lên dinh Thống đốc Hải Dương, trao cái ống này cho quan thì sẽ cứu được tình thế gia đình. Khi Trạng mất, hằng trăm năm sau, con cháu Trạng lâm vào cảnh đói nghèo, sa sút, nhưng tuyệt đối không được mở ống ra xem trước thời hạn. Trạng còn dặn kỹ trừ quan Tổng đốc ra, không ai được mở ống, vì thế ống vẫn giữ nguyên vẹn. Trải qua bảy đời, cái ống tre ấy mới được rước lên dinh quan Tổng đốc, đúng ngày giờ đã ghi trong gia phả. Đang nằm nghỉ, nghe tin con cháu cụ Trạng mang thư đến gặp, quan Tổng đốc rất ngạc nhiên, không biết vì cớ gì, nên truyền cho vào, đồng thời quan ngồi dậy để đi ra cửa.

    Quan Tổng đốc vừa bước khỏi giường nằm được mấy bước thì bỗng rầm một cái, chiếc sà nhà không biết bị mọt ăn hỏng từ bao giờ, rơi ngay xuống chỗ giường vừa nằm. Thật là một phen hú vía! Nếu ông không kịp ngồi dậy nhận thư Trạng, thì mạng ông đã khó mà sinh tồn. Quan Tổng đốc mở ống tre ra xem, thấy bên trong có một cuộn giấy, đề hai câu thơ:

    Ngã giải nhĩ thượng lương chi ách, Nhĩ cứu ngã tử tôn chi bần

    Nghiã là
    Cứu người thoát nạn đổ nhà, Ngươi nên cứu cháu con ta khỏi nghèo

    Chưa hết kinh hoàng vì chuyện chiếc sà nhà vừa rơi xuống, ông thoát nạn nhờ ra lấy lá thư. Quan Tổng đốc biết rằng trạng Trình đã cứu ông thoát chết, nên ông ta ân cần mời cháu trạng Trình về tư thất đãi hậu hỹ, sau đó đưa ra rất nhiều tiền để giúp con cháu cụ Trạng.

    Nguyễn Công Trứ (1778-1858) phá đền

    Năm Minh Mạng (1791-1840) năm thứ 14, Nguyễn Công Trứ được vua điều đi khẩn hoang ở vùng Hải Dương, Nguyễn Công Trứ thấy địa thế cần phải đào con sông, đào sông thì phải phá đền thờ Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông ra lệnh cho dân phu phá đền để khai phá công trường. Khi sai người đào mang bát hương ra, Nguyễn Công Trứ chợt thấy dưới bát hương có một tấm bia đá nhỏ phủ vải điều. Nguyễn Công Trứ lau sạch đọc được các câu đã ghi :

    Minh Mạng thập tứ

    Thằng Trứ phá đền

    Phá đền phải làm đền

    Nào ai đụng đến doanh điền nhà bay

    Nguyễn Công Trứ lập tức thảo sớ về kinh, xin bãi bỏ lệnh phá đền. Ông còn cho người sửa sang lại đền Trạng khang trang hơn. Từ đó, ông không còn nghĩ đến việc phá đền để đào sông nữa.

    Cha con thằng Khả

    Tục truyền trong làng có cha con ông Khả đi bắt dế (chuột) kiếm sống. Khi đến bên mộ Trạng, hai cha con vướng víu thế nào lại làm đổ tấm bia trên mộ. Dân làng rất sùng kính trạng Trình, nên khi thấy bia mộ bị đổ, họ nổi giận bắt cả hai cha con, kêu nộp phạt ba quan tiền mới tha, vì khi tấm bia đổ xuống thấy có hàng chữ ở sau:


    Cha con thằng Khả. Đánh ngã bia tao

    Làng xóm xôn xao.Bắt đền quan tám

    Cha con ông Khả chịu nộp phạt, nhưng dân làng phải tha cha con về nhà chạy tiền. chỉ tìm được có một quan tám, dân làng không chịu, cha con ông Khả ngẫm nghĩ mới tìm được cách, cha con bèn nói với dân làng: Cha con tôi bị Trạng Trình bắt phạt có quan tám, "Tam quán" nói lái lại thành quan tám . Ðúng như cha con ông Khả đã tìm đủ số tiền

    Thơ văn của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Kiêm còn lại hơn 100 bài trong bộ Bạch Vân Thi Tập, được dịch ra chữ quốc ngữ thơ mang nặng tình người, khuyên người đời biết điều nhân nghĩa, ngoài ra còn một số giai thoại truyền tụng trong nhân gian…. và những lời sấm ký có giá trị.


    1/ ứng nghiệm về sau nhà Lê khôi phục

    2/ ứng nghiệm nhà Trịnh giữ nhà Lê

    Tài liệu tham khảo

    Việt Nam Sử lược : Trần Trọng Kim

    Tự Ðiển nhân vật lịch sử : Nguyễn Quyết Thắng

    Những câu chuyện lịch sử tập 3 : Trần Gia Phụng

    Thái Ất thần Kinh nhà xuất bàn văn Hoá

  • haminh

    May 29th 2006, 12:22 am
  • không biết hiện tại nước mình đang ứng với dòng thơ thứ mấy của Sấm nhỉ?

  • Mr.Blue

    July 20th 2006, 10:00 pm
  • Không biết có ai nghiên cứu mấy câu sấm này để dự đoán tương lai một cách nghiêm túc không ?
    Để một bài thơ khơi khơi thế kia ai hiểu chứ :(

  • truongmykien

    July 27th 2006, 10:29 am
  • Theo mình thấy người ta đã quá đề cao Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thật ra những gì ông nói đều có căn cơ logic, chả có gì để gọi là Sấm cả


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group