Những đóa hoa Thiền - Dương Đình Hỷ

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2091.- Xấu đẹp đều khởi ở tâm.


    Song Phong Đạo Tín bảo Pháp Dung :
    -Cảnh không có xấu đẹp, xấu đẹp là do tâm khởi.
    (Công Án 100)

    Người khai ngộ thấy tất cả các hiện tượng ở thế gian này không kể xấu đẹp đều tự nhiên bình đẳng. Mùa Xuân hoa cỏ tươi tốt, mùa Hạ nóng bức, mùa Thu lá vàng rơi rụng, mùa Đông lạnh giá đều không phải vì người tốt hay xấu mà thị hiện. Các phán đoán thường thay đổi, khác nhau tuỳ theo tuổi tác, giáo dục, tu dưỡng, tín ngưỡng v . v . Do nhận thức chủ quan và những điều kiện khách quan luôn biến hoá nên những phán đoán không có tính cách cố định ba hồi thấy xấu, ba hồi thấy đẹp. Bất luận là trong tâm hay ngoài tâm, tất cả đều là quá trình tụ tán của nhân duyên. Tất cả đều vô thường, vì vậy không có một hiện tượng nào là vĩnh viễn đẹp hay xấu. Những người chưa khai ngộ, do tập quán phân biệt chấp trước, không tự chủ được. Khi khai ngộ rồi dù tâm phân biệt xuất hiện không bị phiền não, nếu có phiền não liền hoá giải được ngay. Thí dụ thấy một người làm ác liền khởi tâm từ bi thương xót chứ không khởi tâm oán hận, thấy một bông hoa đẹp biết đó là đẹp nhưng không khởi lòng tham, ngắt nó đem về cắm trong bình bông ở nhà. Thiền tông rất trọng sự tĩnh hoá nội tâm.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2092.- Ông khéo chăn trâu.


    Thạch Củng trước khi xuất gia là một gã thợ săn, sau theo Mã Tổ tu hành. Một hôm đang làm việc trong bếp, gập lúc Mã Tổ đến kiểm soát. Mã Tổ hỏi :
    -Ông đang làm gì đó ?
    -Thưa con đang chăn trâu.
    -Ông chăn làm sao ?
    -Khi trâu vào bụi ăn cỏ, con lấy thừng xỏ mũi dắt trâu về.
    -Ông thật biết chăn trâu.
    (Công Án 100)

    Thiền tông thường dùng trâu để chỉ nội tâm, chăn trâu là tu tâm, làm sao gìn giữ tâm, huấn luyện tâm khiến từ những phiền não tạp loạn đạt được cảnh giới thanh tịnh vô tâm. Lúc đó Thạch Củng đang đun bếp, nếu thấy tâm không chú ý vào việc đun bếp liền lôi tâm lại, không ngừng huấn luyện chính mình đạt đến trình độ niệm niệm vô nhị dụng (chỉ chăm chú vào một việc) là công phu của Thiền. Có thể nói Thạch Củng đã có thể nghiệm ngộ cảnh đo đó biết rõ trạng huống tâm niệm, thấy tạp niệm xuất hiện liền phát giác ra ngay, trở về chính niệm. Nếu thấy mình sai liền đổi, nếu thấy người sai cũng nên bao dung tha thứ đừng làm thương tổn người ta khiến ích lợi cho người mà mình cũng trở nên chín chắn hơn. (Xem thêm công án 59)

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2093.- Một cỗ quan tài, hai xác chết.


    Có ông tăng hỏi Đại Mai Pháp Thường :
    -Xin thiền sư cho biết thế nào là ý Tây sang ?
    -Tây sang không ý.
    Thiền sư Tế An nghe được vấn đáp này phê bình :
    -Một cỗ quan tài, hai xác chết.
    (Công Án 100)

    Đối với người thường : Ý Tây sang là câu hỏi : Tổ Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa mang đến kinh gì ? dậy phương pháp gì ? truyền tâm ra sao ? Thực ra tổ Đạt Ma chẳng mang đến một pháp nào cả, chỉ là bảo cho biết ai cũng có Phật tánh, đều có khả năng thành Phật. Câu hỏi này trong Thiền tông thường dùng để chỉ không thể dùng lời nói mà diễn tả chân lý được. Trong công án này ông tăng dĩ nhiên đã biết điều này nhưng vẫn cứ hỏi. Đại Mai nói rõ ra Tây sang không ý là để điểm tỉnh ông tăng có thể khiến ông tăng tỉnh ngộ. Câu đáp này cũng chẳng có gì là sai. Câu phê bình của Tế An có nghĩa là câu nói của Đại Mai không có sinh cơ, không thể làm người khai ngộ. Một người hỏi có, một người đáp không chỉ là những lời dỡn chơi, xem ra thì có hỏi có đáp nhưng không chỉ ra những tin tức gì của “Ý Tây sang”. Thực ra Tế An chỉ muốn cảnh giác mọi người đừng bắt chước cổ nhân như vẹt học nói tiếng người làm mất đi tính sáng tạo của mình.
    (Xem thêm công án 134)

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2094.- Tôi kêu viện chủ.


    Một hôm Quy Sơn Linh Hựu bỗng kêu :
    -Viện chủ !
    Viện chủ vội chạy đến, Quy Sơn hỏi :
    -Tôi kêu viện chủ, ông tới làm gì ?
    Viện chủ không biết làm sao trả lời.
    (Công Án 100)

    Đối với viện chủ, khi phương trượng gọi, ông chạy tới, ông đâu có sai. Nhưng Quy Sơn nhân lúc ông không phòng bị cho ông một gậy để kích thích ông :
    1. Ông không nhất thiết là viện chủ.
    2. Viện chủ và ông là một sao ?
    3. Viện chủ chỉ là một danh từ, ông là danh từ sao ?
    Nếu ông là viện chủ khi Quy Sơn gọi ông có tới không ? Ông trả lời sao ? Có 2 trường hợp :
    1. Ông đã khai ngộ : ông dùng một động tác hay một câu nói để diễn tả ngộ cảnh.
    2. Ông sẽ cum cúp chạy tới chờ sai bảo như viện chủ trong công án này.
    Một số người cho tự ngã và tánh danh là một, cho nên đã sản sinh ra một tự ngã rất kiên cố. Sự thực thì tánh danh và tự ngã này chỉ là giả, không tuyệt đối, không bất biến. Nếu có người tán dương ông, ông liền cao hứng, nếu có người chửi rủa ông, ông liền tức giận. Nhưng sự thực danh tự có liên quan gì đến ông ? Sự kết hợp danh tự và thân tâm đã sản sinh ra phiền não.
    (Xem thêm công án 321)

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2095.- Đợi trời sáng hãy đi.


    Triệu Châu Tòng Thẩm hỏi Đầu Tử Đại Đồng :
    -Tình cảnh chết đi sống lại như thế nào ?
    -Đêm tối đừng đi, đợi trời sáng hãy đi.
    (Công Án 100)

    Câu hỏi của Triệu Châu là ý gì ? Chết đi sống lại là chỉ đã hồi phục được trí huệ, phiền não biến thành bồ đề, vô minh biến thành trí huệ: đó là ngộ cảnh. Lúc đó tâm cảnh như thế nào ? Vũ trụ quan và nhân sinh quan có biến đổi không và biến đổi tới mức độ nào ? hay là không biến đổi và nếu như vậy tại sao lại gọi là giác ngộ ? Đầu Tử không chơi chữ cũng không nói vòng vo, mà nói huỵch toẹt ra :
    -Đêm tối đừng đi, đợi trời sáng hãy đi.
    Đi đêm ở đây có 2 ý nghĩa :
    1. Ông còn chìm đắm, lần mò trong đêm tối phiền não.
    2. Ông không trông thấy rõ mặt người cũng như không trông rõ mặt mình. Thân thể mình đầy sẹo, nhưng không chịu thừa nhận, cũng không muốn người khác trông thấy.
    Đợi trời sáng hãy đi là bỏ xuống hết mọi phiền não, mọi hành vi đen tối, để cho ánh sáng trí huệ phát huy đến tận cùng là thành Phật mới thôi. Vì người tu Thiền ngộ cảnh có nông, có sâu cho nên khi có được chút cảm ứng đừng cho là đủ rồi, vẫn phải nỗ lực cho tới đích. (Xem thêm công án 54)

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2096.- Phật nói hay là ma nói.


    Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn :
    -Trong 40 cuốn kinh Đại Niết Bàn có bao nhiêu là lời Phật nói, có bao nhiêu là lời ma nói ?
    -Toàn là ma nói.
    -Từ giờ trở đi, trong thiên hạ không còn ai làm phiền ông nữa.
    (Tứ Lý Thiền)

    Phật giáo chủ trương Phật pháp là pháp bất nhị và mọi pháp đều bình đẳng. Do đó Phật pháp và ma pháp đều bình đẳng bất nhị. Đối với một số người thì Phật, ma, thiện ác không thể trộn lẫn được.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2097.- Cách sông phẩy quạt.


    Thiền sư Cao Đình Giản đến tham bái Đức Sơn Tuyên Giám. Mới tới bờ sông đã thấy Đức Sơn ở bờ bên kia, bèn lớn tiếng hỏi :
    -Lão thiền sư, con không biết làm sao để hiểu Thiền ?
    Đức Sơn không trả lời, chỉ giơ quạt lên phẩy một cái. Giản thiền sư lập tức khai ngộ, cũng không nói năng gì, đi thẳng không ngoảnh cổ lại.
    (Tứ Lý Thiền)

    Từ đằng xa thấy có khói là biết có lửa. Cách sông phẩy quạt, đi cũng không ngoảnh cổ lại là giai thoại của Thiền tông. Mỗi cử mỗi động đều xúc phát thiền cơ. Đương các ông có chuyện làm nhức óc, hãy bỏ cả xuống, tới nơi u vắng, tâm sẽ dịu lại .
    (Xem thêm công án 1573)

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2098.- Tự có quần áo.


    Vân Cư Đạo Ưng sai thị giả mang quần áo tặng một vị am chủ. Vị am chủ này nói :
    -Tôi không dùng quần áo này. Từ khi mẹ sanh, tôi đã có quần áo rồi.
    Thị giả trở về thuật lại, Vân Cư sai thị giả quay lại hỏi :
    -Khi mẹ ông chưa sanh ra ông, thì ông mặc quần áo gì ?
    Am chủ không trả lời được. Về sau khi ông qua đời, lúc hoả táng có lưu lại nhiều xá lợi. Thị giả trình chuyện này cho Vân Cư nghe. Vân Cư nói :
    -Dù có cả đấu xá lợi đi nữa cũng chẳng bằng trả lời được câu hỏi của tôi.
    (Tứ Lý Thiền)

    Thiền tông đặc biệt chú trọng đến kiến địa, là nhận thức trực tiếp đối với vũ trụ và đối với chính mình căn cứ trên sự thể nghiệm của chính mình. Trong Tam học (giới, định, tuệ) nếu chỉ coi trọng giới, định mà xem nhẹ tuệ thì không có nhận thức này, không thể chân chính vào cửa Phật.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2099.- Pháp đường sắp đổ rồi.


    Dược Sơn Duy Nghiễm trước khi lìa đời hô lên :
    -Pháp đường sắp đổ rồi ! Pháp đường sắp đổ rồi !
    Tăng chúng vội vàng chạy đến ôm cột trụ ở pháp đường.
    Dược Sơn giơ tay than :
    -Các ông không hiểu ý tôi !
    Nói xong liền mất.
    (Công Án 100)

    Dược Sơn và các đệ tử hiểu nghĩa pháp đường khác nhau. Tăng chúng nghĩ pháp đường là toà kiến trúc, còn Dược Sơn thì coi thân thể là một toà pháp đường để giáo hoá chúng sanh. Sắp lìa đời không còn pháp đường để thuyết pháp nữa nên Dược Sơn nói pháp đường sắp đổ. Trong thiền viện, pháp đường quan trọng hơn thiền đường. Thiền đường là chỗ chư tăng ngồi thiền, còn pháp đường là nơi đại chúng tụ lại để nghe thiền sư giảng pháp. Ai có câu hỏi gì thì nêu lên thiền sư sẽ dùng cơ phong để thúc đẩy sự khai ngộ của thiền sinh. Nay pháp đường đã đổ, chư tăng đã đánh mất cơ hội khai ngộ. Thực ra mọi người đều có pháp đường riêng của mình, chỉ là đa số còn chưa khánh thành, còn chưa xử dụng. Pháp đường của Dược Sơn đổ rồi, khuyến khích đại chúng hãy xử dụng pháp đường của chính mình. Bất kể lúc đó đại chúng có hiểu không, nhưng cho đến bây giờ chỉ thị của Dược Sơn đối với chúng ta vẫn còn hữu dụng.
    (Xem thêm công án 1359)

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2100.- Công đức thiên, hắc ám nữ.


    Hoàng Long Huệ Nam một hôm thượng đường bảo đại chúng :
    -Có một người sáng xem kinh Hoa Nghiêm, chiều coi kinh Bát Nhã ngày đêm chuyên cần không hề lười biếng. Lại có một người không tham thiền, không luận nghĩa, cả ngày chỉ ngủ. Hai người này đều đến đây. Một người hữu vi, một người vô vi, người nào mới đúng ?
    Lâu lắm không có ai trả lời, Hoàng Long lại nói :
    -Là người có trí huệ thì Công đức Thiên và Hắc ám Nữ đều không muốn.
    (Công Án 100)

    Hoàng Long Huệ Nam mô tả tác phong của người Hữu vi và người Vô vi rồi hỏi ai đúng ? Không ai trả lời được nên ông tự trả lời :
    -Cả hai tôi đều không muốn !
    Công án này bao gồm ba tầng lớp :
    1. Hữu vi
    2. Vô vi
    3. Vượt lên hữu vi và vô vi.
    Loại người 1: sáng chiều coi kinh, dụng công không lười biếng là hữu vi.
    Loại người 2 : Không tham thiền, chỉ ngủ, bề ngoài thấy là lười biếng, nhưng thật ra là người đã giải thoát, có ai cần giúp thì giúp, lúc cần làm thì làm, đây là vô vi.
    Hoàng Long dùng công đức thiên và hắc ám nữ để tỷ dụ.
    Công Đức Thiên còn gọi là Cát Tường Thiên Nữ là em gái của tài thần Tỳ Sa Môn Thiên Vương, tướng mạo đẹp đẽ, có thể giúp chúng sanh thành tựu công đức. Hắc Ám Nữ còn được gọi là Đại hắc Thiên là chiến thần, mặt lộ phẫn nộ, nhe nanh cọp, có tám tay cầm võ khí, đầu lâu, rắn độc v . v . có thể hàng phục các ma, tại Thiền tông biểu thị không bị phiền não làm lay động. Người không có trí huệ thích Công Đức Thiên và sợ Hắc Ám Nữ không biết rằng tướng mạo họ khác, nhưng bản thể thì đồng. Người có trí huệ thì không chấp vào người nào mà vượt lên cả 2. Trong mắt Hoàng Long loại người 1 chưa tu thành, loại người 2 thì bất kể tu hành hay không, chưa ngộ hay đã ngộ ông đều coi như nhau, không vì hữu vi hay vô vi mà bị ảnh hưởng, thế mới là đại tự tại.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2101.- Sa di có chủ.


    Thiếu niên Ngưỡng Sơn đến tham Quy Sơn Linh Hựu. Quy Sơn hỏi :
    -Ông là sa di có chủ hay vô chủ ?
    -Con là sa di có chủ.
    -Chủ ở đâu ?
    Ngưỡng Sơn đi từ Tây sang Đông rồi đứng lại. Quy Sơn nhận rằng ông rất khác người.
    (Công Án 100)

    Thường sa di phải theo Thế Độ sư, đến tròn 20 tuổi mới thọ giới Tỳ kheo nếu thầy còn đủ kiến thức để dạy thì sa di vẫn theo bên, gọi là sa di có chủ, là sa di vẫn còn dưới sự giám hộ, chăm sóc của Thế độ sư. Ngưỡng Sơn còn trẻ đã ly khai Thế độ sư đến Quy Sơn tham học, không còn ở bên Thế độ sư. Ngưỡng Sơn nói mình là sa di có chủ không phải là bảo Thế độ sư ở bên cạnh mà là biểu thị chính mình là chủ. Thông thường nhân vì Thế độ sư không hiểu phương pháp tu hành, không hiểu nghĩa lý Phật pháp nên bảo đi tìm những bậc thiện tri thức mà tu học Phật pháp.
    Câu Quy Sơn hỏi : “Ông là sa di có chủ hay vô chủ” có 2 nghĩa :
    1. Ông xuất gia ở đâu ? Thế độ sư là ai ?
    2. Ông đã làm chủ được mình chưa ? đã chỉ huy, săn sóc, giúp đỡ được mình chưa ? đã làm chủ được thân, khẩu, ý chưa ?
    Câu đáp của Ngưỡng Sơn : “Con là sa di có chủ, cũng có 2 nghĩa :
    1. Con có Thế độ sư.
    2. Con có thể làm chủ.
    Quy Sơn lại hỏi :
    -Chủ ở đâu ?
    Câu này cũng có 2 ý :
    1. Thế độ sư của ông ở đâu ?
    2. Ông nói ông làm chủ được mình, ông chủ ấy ở đâu ?
    Ngưỡng Sơn không nói dùng động tác để biểu thị mình làm chủ được mình, muốn làm gì thì làm, có thể chỉ huy an định được chính mính. (Xem thêm công án 1018)

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2102.- Trực dụng, trực hành.


    Có ông tăng hỏi Đại Châu Huệ Hải :
    -Làm sao để được giải thoát ?
    -Vốn không có ai trói đâu cần cởi trói. Trực dụng, trực hành là chân giải thoát.
    (Công Án 100)

    Trong công án này một người đòi giải thoát còn một người bảo không cần giải thoát, chỉ cần lấy tâm chính trực làm chuyện chính trực thì đó là giải thoát. Có một số người cứ nhận định rằng mình bị hoàn cảnh làm khốn quẫn, bị người làm phiền nhiễu, tự tâm mâu thuẫn buồn phiền dẫn tới bất hạnh. Nhìn bề ngoài thì có vẻ có lý, nhưng sự thực thì hoàn cảnh làm mình khốn khổ hay chính mình tự làm khổ mình ? Vì thế Đại Châu mới nói người tu hành đừng cầu giải thoát, đừng hy vọng người nào giúp mình giải thoát, chỉ cần tâm không cầu gì, không sợ hãi gì, không lẩn tránh gì, không bị quái ngại gì thì đó là giải thoát. Quái ngại là khi chưa được, cầu được, khi được rồi lại sợ mất, hoặc cho là chưa đủ, còn muốn thêm nữa, đương nhiên là vĩnh viễn không được giải thoát. Trực dụng là chỉ các hành vi của thân và tâm vận dụng một cách hợp lý. Trực hành là các hành vi của thân, khẩu, ý chính trực không cong queo, không hoài nghi, không kiêu ngạo, không tự ty, không đố kỵ, không đắc ý v . v .

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2103.- Lão tăng háo sát.


    Triệu Châu Tòng Thẩm cùng chư tăng ra vườn dạo chơi, một con thỏ trông thấy kinh hãi bỏ chạy. Có ông tăng hỏi :
    -Hoà thượng là bậc đại thiện trí thức, làm sao con thỏ lại sợ ?
    -Vì lão tăng háo sát.
    (Công Án 100)

    Trong kinh Phật có chép các con vật như thỏ, bồ câu thường thân cận với Phật, không hề sợ hãi. Các vị cao tăng đại đức cũng có nhiều con vật thân cận, thậm chí còn có ác thú làm bạn hoặc làm đồ đệ. Triệu Châu là vị cao tăng đắc đạo, dĩ nhiên lòng từ bi có cảm hoá lực lớn đáng nhẽ con thỏ phải không sợ hãi mới phải chứ ?
    Câu hỏi của ông tăng có thể giải thích :
    1. Có thể con thỏ không sợ Triệu Châu, nhưng sợ những người đi theo ông.
    2. Con thỏ không có thiện căn : sợ người, sợ vật chỉ cần gió thổi cỏ lay là đã sợ rồi, kể gì là Triệu Châu từ bi hay không từ bi.
    Câu đáp của Triệu Châu cũng có 2 ý :
    1. Lão tăng vốn không sát sanh, nhưng vì ông hỏi nên chỉ còn cách trả lời là thỏ sợ bị lão giết. Kỳ thật tôi giết hay không giết là chuyện của tôi, con thỏ nhận là tôi háo sát là chuyện của nó, nên nó chạy trốn.
    2. Người tu hành khi khai ngộ rồi gập cảnh không khởi tâm phân biệt, không chấp vào cảnh gọi là giết cũng như Văn Thù cầm kiếm trí tuệ không chấp có không, thiện ác, ma Phật, gập bất cứ cảnh nào cũng giết đó chẳng phải là háo sát sao ? Triệu Châu cùng chư tăng đi dạo, con thỏ sợ bỏ chạy, ông tự mình nhận trách nhiệm : “Lão tăng háo sát”. Người phàm khi gặp chuyện thường đổ trách nhiệm cho người khác chứ ít khi chịu gánh trách nhiệm .
    (Xem thêm công án 2)

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2104.- Mỗi ngày chỉ xem một chữ.


    Triệu Châu Tòng Thẩm hỏi một ông tăng ;
    -Một ngày ông xem bao nhiêu kinh ?
    -7, 8 quyển hoặc 10 quyển.
    -Ông không biết xem kinh.
    -Sư phụ một ngày xem bao nhiêu kinh ?
    -Lão tăng một ngày chỉ xem một chữ.
    (Công Án 100)

    Thời cổ, kinh Phật được chép trên những thanh trúc, mỗi quyển đại khái có chừng một vạn chữ. Một ngày xem 10 quyển là chính thường. Triệu Châu không cho là phải. Mỗi ngày ông chỉ xem một chữ. Chữ đó là chữ gì ? Triệu Châu không cho biết. Nhưng Triệu Châu có lưu lại một công án “Con chó không có Phật tánh, cũng còn gọi là “Vô tự công án”. Người sau tham công án này rất kỹ, tham tới khi trong tâm không còn gì khác ngoài chữ Vô, không ngừng tự hỏi Vô là cái gì ? Đó cũng có thể coi là chỉ xem một chữ. Một có thể nói là tâm thống nhất, không nhị dụng, nhất tâm nhất ý. Làm bất cứ việc gì cũng dùng thái độ chuyên tâm nhất ý thì sự gì làm không được ? Sự gì mà chả thành ? Lúc tu hành, tâm không phân biệt, không chấp trước, không dụng công thì nhất định sẽ khai ngộ. (Xem thêm công án 529)

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • 2105.- Ăn cháo chưa ?


    Một ông tăng hỏi Triệu Châu Tòng Thẩm :
    -Đệ tử còn mê, xin sư phụ chỉ thị.
    -Ông ăn cháo chưa ?
    -Dạ, đã !
    -Vậy đi rửa bát đi.
    Ông tăng ngay khi đó khai ngộ.
    (Công Án 100)

    Công án này rất nổi danh gọi là “Cháo Triệu Châu”. Lúc đó có lẽ đã quá bữa sáng và ông tăng có lẽ là từ nơi khác đến tham học. Triệu Châu chỉ hỏi một câu trong sinh hoạt hàng ngày. Chẳng lẽ ăn cháo và rửa bát lại có thể khai ngộ ? Lúc ăn cháo thì ăn cháo, ăn cháo xong thì rửa bát. Đó là sinh hoạt hiện thực. Ngộ cảnh cũng không thể lìa hiện thực. Nhiều người cho rằng khai ngộ là một cái gì sâu xa không thể đo lường được, huyền diệu không thể biết hoặc nói được. Kỳ thật trong sinh hoạt hàng ngày mỗi cử mỗi động đều là chân lý hiển lộ. Ông tăng tưởng là phải bị đánh một gậy, bị hét một tiếng, phải trải qua nhiều giai đoạn ly kỳ, thâm ảo, huyền diệu mới tới được ngộ cảnh, nào ngờ Triệu Châu chỉ dùng một câu nói giản dị, bình thường mà phiền não biến mất, ngộ cảnh hiện tiền. Thiền là ngay trong hiện tại, hiện tại không có được, mất. Được, mất là thuộc về quá khứ, vị lai, tuyệt đối không ở trong hiện tại. Nếu chỉ sống trong hiện tại không tính toán, không bẻ cong nhận thức thì thấy mọi người chung quanh đều đáng yêu đều đồng cảm, đó chẳng phải là tự tại giải thoát ư ? (Xem Thêm công án 1073)


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group